nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương cột sống đoạn bản lề lưng-thắt lưng có liệt tủy không hoàn toàn - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống bản lề lưng – thắt lưng là tổn thương ở đoạn cột
sống từ đốt sống lưng(ngực) 11 đến đốt sống thắt lưng 2, chiếm 75% trong
tổng số chấn thương cột sống lưng-thắt lưng. Chấn thương CSLTL là loại
chấn thương thường gặp trong tai nạn lao động, giao thông và sinh hoạt. Chấn
thương CSLTL chiếm 70% trong tổng số chấn thương cột sống (CTCS), tuy
không đe dọa đến tính mạng như CTCS cổ, nhưng chấn thương CSLTL để lại
nhiều di chứng nặng nề ảnh hưởng đến khả năng lao động và đời sống sinh
hoạt của người bệnh.
Theo thống kê tại Mỹ, hằng năm có khoảng 20 đến 64 trường hợp CTCS
trên 100.000 dân, chi phí tốn kém hàng tỉ USD cho việc điều trị cho bệnh
nhân [36]. Tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 1-1996 đến tháng 9-1997 thống
kê được 63 trường hợp CTCS, nhưng trong 1 năm (2002-2003) chỉ riêng số
trường hợp CTCS lưng- thắt lưng đã lên đến 106 trường hợp [14], [26]. Theo
một nghiên cứu của bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2005 có 234 bệnh nhân bị CTCS điều trị tại viện, trong đó có 184
trường hợp là chấn thương CSLTL [8].
Hypocrates là người đầu tiên đưa ra phương pháp kéo dãn bệnh nhân
trên bàn và nắn tại chỗ để điều trị chấn thương gãy cột sống. Boehler đã cải
tiến, phát triển kỹ thuật này. Và điều trị phẫu thuật cột sống, Clyne là người
đầu tiên phẫu thuật cột sống qua đường sau năm 1814. Những năm sau đó,
Harrington, Maccowem, Roy-Camille đã đưa ra nhiều phương pháp phẫu
thuật cột sống [33], [54], [68].
Ở Việt Nam, điều trị gãy cột sống cũng đi lại những bước phát triển như
trên thế giới. Năm 1975, Hoàng Tiến Bảo đã mổ cố định gãy CSNTL có liệt
tủy bằng phương pháp nẹp vít AO. Tuy nhiên, trước năm 1990 điều trị gãy cột
sống chủ yếu bằng bó bột, để lại nhiều di chứng. Vào đầu những năm 1990,
2
phương pháp Roy- Camille được ứng dụng ở nhiều trung tâm ngoại khoa trên cả
nước như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện 108, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện

chia thành 5 đoạn, mỗi đoạn có một chiều cong và các đặc điểm riêng, thích
ứng với chức năng của đoạn đó; từ trên xuống dưới, đoạn cổ có 7 đốt – cong
lồi ra trước, đoạn lưng có 12 đốt cong lồi ra sau, đoạn thắt lưng có 5 đốt –
cong lồi ra trước, đoạn cùng có 5 đốt dính với nhau tại thành xương cùng –
cong lồi ra sau, đoạn cuối cùng gồm 4 – 6 đốt sống cuối cùng dính với nhau
tạp thành xương cụt.
1.1.2. Đặc điểm chung các đốt sống.
Mỗi đốt sống có 3 phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm
đốt sống và một lỗ đốt sống. Trong đó mỏm ngang, mỏm diện khớp là nơi xác
định bắt vít vào cuống cung đốt sống.
Thân đốt sống hình trụ dẹt, có hai mặt và một vành xung quanh. Thân
đốt sống ở phía trước có vỏ mỏng bằng xương cứng, cấu trúc bên trong bằng
xương xốp có thớ cơ dày đặc ở phía sau nhiều hơn phía trước. Ngoài ra ở phía
sau thân đốt sống có nhiều mạch máu chui vào nuôi xương.
Cung đốt sống từ phần rìa, phần vành của mặt sau thân đốt sống quây lại
thành lỗ đốt sống, gồm cuống cung đốt sống phía trước và mảnh cung đốt sống
phía sau. Cuống cung đốt sống có 2 cột : cột phải và cột trái. Bờ trên và bờ dưới
của cuống cung đốt sống lõm lại tại thành khuyết đốt sống, Khuyết dưới của một
4
đốt sống và khuyết trên của một đốt sống ngay dưới hợp lại thành lỗ gian đốt, nơi
dây thần kinh sống đi qua, ôm sát bờ trong và dưới của cuống.
Các mỏm đốt sống đi ra từ cung đốt sống, có hai mỏm ngang, hai mỏm
khớp trên, hai mỏm khớp dưới, một mỏm gai ở phía sau. Mỏm khớp nằm ở
điểm nối tiếp giữa cuống, mỏm ngang và mảnh.
Lỗ đốt sống nằm giữa thân đốt sống và cung đốt sống. Khi các đốt
sống chồng lên nhau tạo thành cột sống thì các lỗ này hợp thành ống sống
chứa tủy sống.
1.1.3. Đặc điểm riêng các đốt sống.
Các đốt sống lưng: Đặc điểm các đốt sống lưng là chúng có hõm sườn
ngang trên mỏm ngang để tiếp khớp với củ sườn và hõm sườn trên và dưới

giữa dây chằng và thân xương.
1.1.4.2. Khớp giữa các mỏm khớp
Đây là khớp hoạt dịch (khớp động ) có bao khớp và dây chằng bọc
xung quanh, các diện khớp nằm trên mặt phẳng gần đứng ngang, diện khớp
trên quay ra sau, diện khớp dưới quay ra trước, ở đoạn thắt lưng, các diện
khớp nằm trên mặt phẳng gần đứng dọc, diện khớp trên quay vào trong , diện
khớp dưới quay ra ngoài. Các khớp này nằm sau chỗ đi ra của các dây thần
kinh sống.
1.1.4.3. Các khớp chằng hay khớp sợi
Dây chằng trên gai là dây chằng mỏng chạy trên đỉnh các mỏm gai hòa
với các dây chằng gian gai.
Dây chằng gian gai đi từ bờ dưới của mỏm ra tới bờ trên của mỏm gai
kề dưới.
Dây chằng gian ngang nối các mỏm ngang kề nhau.
7
Dây chằng vàng là dây chằng sau, khỏe nhất và quan trọng nhất. Mỗi
dây chằng vàng là một dải dẹt đi từ mặt trước của một mảnh, chạy xuống bám
vào mặt trên của mảnh kế tiếp. Các dây chằng này hầu như lấp kín khoang
liên mảnh, được ngăn cách ở đường giữa bởi khe hẹp, qua đó các đám rối tĩnh
mạch ở bên trong ống sống nối tiếp với nhau.
1.1.4.4. Đặc điểm của vùng chuyển tiếp.
CSLTL có đặc điểm giải phẫu học đặc biệt khiến cho vùng này bị tổn
thương nhiều hơn so với vùng lưng và vùng thắt lưng cộng lại:
CSLTL là vùng chuyển tiếp giữa cột sống lưng tương đối có biên độ cử
động rất ít vì có xương sườn của lồng ngực giới hạn còn CSTL mềm mại hơn
và có biên độ vận động lớn hơn. Chính sự khác biệt đột ngột về độ mềm mại
này làm cho cột sống bị chấn thương ở đây.
CSLTL còn là vùng chuyển tiếp từ cột sống lưng cong thành cột sống
lưng ưỡn mềm nên vùng này còn tương đối thẳng. Chính những đường cong
sinh lý như cong và ưỡn giúp cho cột sống hấp thụ một cách dẻo dai những

chậu hợp lại, cơ này đi từ bụng đến đùi, che phủ phía trước CSTL và hố chậu.
Để đi vào thân đốt sống lưng 12 và đốt sống thắt lưng 1, 2 ta cần cắt, hạ
chỗ bám của cơ thắt lưng chậu thì mới thấy mặt bên của thân đốt sống và đĩa
đệm lưng 12 và thắt lưng 1, 2.
- Thận và niệu quản trái: Thận trái ở sau phúc mạc, ở trong góc do
xương sườn 12 và cột sống tạo thành (cực trên thận trái ngang mức bờ sườn
12, cực dưới thận trái ở bờ trên mỏm ngang đốt sống thắt lưng 3). Khi phẫu
thuật vào CS, ta đẩy cả thận, niệu quản và lớp mỡ quanh thận ra phía trước để
vào CS.
9
- Động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới: Động mạch chủ bụng ở
phía trước cột sống, khi vào tới CS ta có thể sờ thấy động mạch chủ bụng đập
ở phía trước thân đốt sống, tĩnh mạch chủ dưới ở phía trước phải CS.
- Ổ bụng: Lách, dạ dày, ruột non nằm trong ổ phúc mạc. Khi phẫu
tích ta vén, đẩy phúc mạc ra phía trước tránh gây rách phúc mạc.
1.1.6. Mạch máu nuôi dưỡng cột sống lưng – thắt lưng
Các đốt sống lưng – thắt lưng nhận máu nuôi dưỡng từ các mạch gian
sườn và thắt lưng. Tủy sống được tưới máu bởi hai hệ thống động mạch tuỷ
trước và sau, tách biệt nhau. Mặt trước có động mạch tủy trước, cung cấp máu
cho 2/3 trước của tủy, nên khi cột sống vỡ có các mảnh của thành sau thân đốt
sống chèn vào làm giảm tới 80% tưới máu của tuỷ. Đặc biệt, đoạn tủy lưng
thấp và thắt lưng được động mạch Adamkiewicz tưới máu chỉ với một nguồn
từ động mạch rễ trước. Do sự sắp xếp gối lên nhau, nên hai hệ thống động
mạch trước và sau không có sự hỗ trợ tưới máu, nhất là đoạn lưng, nên tủy dễ
bị tổn thương khi có gẫy xương gây chèn ép ở phía trước.
1.1.7. Tủy sống
Ở người trưởng thành, tủy sống dài khoảng 42-45 cm, nặng trung bình
30gram, nối tiếp ở phía trên với hành tủy, kết thúc ở nón tủy. Nón tủy hình thành
từ chỗ xuất phát của rễ cùng S4 và kết thúc ở dưới chỗ xuất phát của rễ cụt.
Tủy sống nằm trong ống sống nhưng không chiếm hết lòng ống sống và

Hội chấn thương cột sống Mỹ (ASIA) được chuẩn hóa quốc tế tại Barcelona
năm 1992 [26]. Người ta dựa vào sự chi phối thần kinh của tứ chi để kiểm tra
và đánh giá thương tổn thần kinh của tủy sống.
Trên cơ sở các điểm số vận động và cảm giác ASIA phân loại thương
tổn thần kinh theo tổng số điểm đạt được.
11
Trong thực hành ngoại khoa, để thuận lợi cho việc đánh giá thương tổn
thần kinh, người ta thường sử dụng Bảng phân loại của Frankel [27]. Bảng
phân loại này cũng đã được sửa đổi nhiều lần cho thích hợp [47].
Bảng 1.1: Phân loại thương tổn thần kinh theo Frankel [27]
Frankel Biểu hiện
A
Liệt hoàn toàn, mất chức năng cảm giác và vận động dưới
vùng tổn thương.
B
Liệt không hoàn toàn, cảm giác còn, mất vận động dưới vùng
tổn thương.
C
Liệt không hoàn toàn, cảm giác còn, vận động giảm (Cơ lực
đạt 2/5-3/5 điểm).
D
Liệt không hoàn toàn, cảm giác còn, vận động giảm (Cơ lực
đạt 4/5 điểm).
E Cảm giác và vận động bình thường
Ngoài ra, các phản xạ da cũng được sử dụng để đánh giá thương tổn tủy
sống: da bìu, gan chân, hậu môn, da bụng. Đặc biệt trong lâm sàng, để xác
định tình trạng tủy đã thoát sốc hay chưa, người ta sử dụng phản xạ hành hang
– hậu môn ở nam giới và phản xạ âm vật – hậu môn ở nữ giới [51].
Hiện nay, đo các điện thế gợi cảm giác thân thể (Somatosensory
evoked potentials) được áp dụng để đánh giá đường dẫn truyền đi lên của tủy

toàn: Mất vận động, mất cảm giác và rối loại thần kinh thực vật ở vùng dưới
đoạn tủy bị chấn thương). Trong trường hợp này, ngoài những rối loạn toàn
thân, từng cơ quan cũng có rối loạn, như về tiết niệu có thể gặp:
+ “Bàng quang tự động”: khi có thương tổn tủy trên mức S2 – S4, trung
tâm bài niệu của tủy sống còn lành lặn, nhưng mất sự điều tiết của trung tâm
13
bài niệu ở cầu não, tức mất sự phối hợp giữa co bóp bàng quang và co thắt,
bàng quang chứa đầy nước tiểu ( cầu bàng quang ) nhưng không có phản xạ
mót tiểu. Gõ lên mặt trước bàng quang (vùng hạ vị, trên xương mu) gây phản
xạ co bóp bàng quang và tống nước tiểu ra ngoài hoặc phải đặt ống thông tiểu
cách quãng. Lượng nước tiểu tồn dư thường nhiều,
+ “Bàng quang tự chủ”: khi tổn thương ở nón tủy hay đuôi ngựa. Cung
phản xạ hoàn toàn mất, không còn phản xạ co bóp bàng quang, nên muốn
tống nước tiểu ra phải ấn lên thành bụng vùng hạ vị.
+ “Bàng quang hỗn hợp”: rối loạn tiểu tiện thất thường, theo cả hai kiểu trên.
Trực tràng – Hậu môn cũng có những rối loạn hoạt động tương tự như
của bàng quang.
Trong thực tế, thường tủy bị đụng dập, bị chèn ép do mảnh xương vỡ
và đĩa đệm thoát vị dẫn đến tình trạng phù nề thiếu máu và thiếu oxy gây hoại
tử thứ phát. Chính vì vậy, việc điều trị nhằm cứu sống phần tủy còn lành lặn
vô cùng quan trọng đối với sự phục hòi chức năng của bệnh nhân. Việc giải
phóng chèn ép thần kinh, nắn chỉnh giải phẫu và cố định vững cột sống, bảo
đảm duy trì tưới máu và cung cấp oxy cho tủy sống bị chấn thương là những
biện pháp quyết định nhất.
1.3. Cơ chế chấn thương [2], [17], [26], [48], [49]
Khi lực gây chấn thương vượt quá khả năng chịu căng dãn của hệ thống
dây chằng (đĩa gian đốt sống và sức bền cuả xương) thì có thể gây tổn thương
thực thể cho cột sống, gồm:
1.3.1. Cơ chế trực tiếp
* Do vật cứng trực tiếp đập vào cột sống: bị đánh, và đập trực tiếp hay

15
1.4.1 Phân loại của Dennis (1983) [38]
Hình 1.4. Sơ đồ thuyết ba cột trụ của Denis
Cột sống được chia thành 3 cột trụ: cột trụ trước, cột trụ giữa và cột trụ sau.
- Cột trụ trước: dây chằng dọc trước, 2/3 trước thân đốt sống, vòng xơ
và đĩa đệm.
- Cột trụ giữa: 1/3 sau thân đốt sống, vòng xơ, đĩa đệm và dây chằng
dọc sau.
- Cột trụ sau: gồm toàn bộ khu sau, dây chằng vàng, bao khớp, các dây
chằng liên gai.
Cột trụ giữa đóng vai trò quan trọng, nếu thương tổn sẽ mất vững và
gây chèn ép thần kinh. Dennis chia thành 2 nhóm thương tổn chính là:
- Nhóm các thương tổn nhỏ: chủ yếu là các gãy đơn độc như gãy mỏm
ngang, mỏm khớp, mỏm gai, khối khớp. Những thương tổn này không làm
mất vững cột sống.
- Nhóm thương tổn lớn: Với 4 hình thái chính là gãy lún, vỡ thân đốt
sống, gãy kiểu đai bảo hiểm và gãy trật cột sống, dựa trên sự phân tích thương
tổn 3 cột trụ.
Loại I: Gãy lún, lực ép, cột trụ trước bị tổn thương, cột trụ giữa và sau
bình thường, được phân thành 4 loại dựa vào lực ép phía trước hay phía bên.
- IA: Gãy theo mặt phẳng đứng ngang.
16
- IB: Lún mặt trước thân đốt sống.
- IC: Lún mặt trước dưới của thân đốt sống.
- ID: Gãy lún cả hai mặt của thân đốt sống.
Khi lún trên 50% thành trước sẽ ảnh hưởng đến các dây chằng phía sau
cột sống.
Loại II: Vỡ thân đốt sống nhiều mảnh (Burst fracture), tổn thương cột
trụ trước và cột trụ giữa, thường có mảnh xương thành sau thân đốt sống chèn
vào ống tủy, khoảng cách giữa hai chân cuống rộng ra.

- Mất vững độ 2 (mất vững TK học): Gãy vụn loại II có nguy cơ cao gây
thương tổn TK do có mảnh xương thành sau chèn vào ống tủy. Phẫu thuật khi
mảnh xương chèn hẹp >1/3 ống tủy; hoặc theo dõi thấy dấu hiệu liệt tủy tăng
dần trên lâm sàng; hoặc gãy kiểu giọt lệ (tear- dropt): gãy qua sụn sợi và có
mảnh xương nhỏ ở góc dưới đốt sống, tổn thương nặng hệ thống dây chằng
trên phim X quang và CT scanner không đánh giá được.
18
- Mất vững độ 3 (mất vững cơ TK học): Những trường hợp gãy trật, gãy
vụn có thương tổn TK nặng ngay từ đầu, cần can thiệp phẫu thuật cấp cứu
ngoài ra còn có các phân loại theo kết quả cộng hưởng từ cột sống theo
Magerl (1994), Morvan (1997), Oner (1999), nhưng ở Việt Nam phân loại
theo Dennis là thích hợp nhất do điều kiện chưa có khả năng chụp cộng
hưởng từ cho phần lớn BN bị CTCS.
1.4.2. Phân loại theo AO (Hội nghiên cứu kết xương) [57]
Năm 1994, Magerl và cộng sự dựa vào đặc điểm hình thái bệnh lý chấn
thương chia CSTL ra làm 3 nhóm chính là nhóm A:gẫy nén, nhóm B: gẫy
giãn, nhóm C: gẫy xoay, mỗi nhóm lại chia thành các dưới nhóm.
Theo cách phân loại này thì thương tổn nhóm C nặng hơn nhóm B,và
nhóm B nặng hơn nhóm A. Trong mỗi nhóm thì thương tổn dưới nhóm càng
lớn lại càng nặng, ví dụ kiểu A3 nặng hơn kiểu A2.
Theo AO thì chỉ định phẫu thuật cho trường hợp gẫy kiểu A1,A2 chỉ
được đặt ra khi góc gù thân đốt sống >15
0
, còn lại gãy kiểu A3, B và C đều có
chỉ định phẫu thuật, ngoại trư một số trường hợp điều trị bảo tồn vì những lí
do như tuổi, bệnh lý phối hợp, chấn thương phối hợp
1.4.3. Phân loại tổn thương thân đốt sống [37]
Năm 1994, Mc Comack T, karaikovic E và cộng sư đã đưa ra bảng phân
loại mới, tác giả đã theo dõi liên tục 3-4 năm liên tục ở 28 BN bị chấn thương
cột sống có tổn thương cả 3 cột trụ, được mổ cố định cột sống bằng dụng cụ

Thường sau chấn thương cột sống có giai đoạn sốc tủy. Đó là tình trạng
ngừng tất cả các chức năng của tủy sống ngay sau khi tai nạn: Tình trạng liệt
và bàng quang mềm hoàn toàn, mất cảm giác, mất phản xạ hoàn toàn chỉ kéo
dài 48 giờ trong đa số trường hợp. Phản xạ hành hang là phản xạ tủy sống xa
nhất nên có thể trở lại sớm nhất, đánh dấu sự chấm dứt của giai đoạn này.
20
* Hội chứng tổn thương tủy không hoàn toàn
Hội chứng tủy trung tâm: Đây là dạng tổn thương hay gặp nhất. Biểu
hiện lâm sàng: liệt không hoàn toàn 2 chi dưới hay tứ chi. Sự phục hồi sẽ diễn
ra theo thứ tự: hai chi dưới, bàng quang, hai chi trên.
Hội chứng tủy trước: Liệt tứ chi hoàn toàn kèm theo rối loạn cảm giác
nông, cảm giác sâu vẫn còn (do tủy sống sau không bị tổn thương).
Hội chứng tủy sau: Hiếm gặp, bao gồm: mất cảm giác sâu, cảm giác bản
thể, còn các chức năng khác của tủy bình thường.
Hội chứng tủy bên: (là hội chứng Brow – Squart). Đây là loại tổn thương
tủy sống có khả năng hồi phục tốt nhất về thần kinh.
* Hội chứng tổn thương tủy hoàn toàn:
Liệt hoàn toàn: Cả vận động, cảm giác dưới mức tổn thương tủy.
Phản xạ hành hang: Mất trong sốc tủy và phục hồi trong vòng 48 giờ.
Nếu sau giai đoạn sốc tủy, chức năng mất hoàn toàn mà phản xạ hành hang
còn thì tổn thương tủy hoàn toàn.
Cương cứng dương vật: Là biểu hiện của tổn thương tủy hoàn toàn.
Đánh giá chức năng vận động theo thang điểm đánh giá cơ lực chi của
Frankel (ASA 1969) [42].
Bảng 1.2. Thang điểm đánh giá cơ lực chi theo ASA (1969)
Dấu hiệu Điểm
Không co cơ khi cố gắng vận động 0/5
Co cơ nhưng không phát sinh động tác 1/5
Vận động được chi trên mặt phẳng khi không có lực cản 2/5
Vận động được chi trên mặt phẳng khi có lực sức cản 3/5

22
Khi mổ phía trước cột sống để giải phóng chèn ép tủy sống, sau khi lấy
bỏ thân đốt sống vỡ, đương nhiên cần phải ghép mảnh xương lớn lấy từ mào
chậu hoặc xương mác.
Còn đối với đường mổ phía sau: cần dựa vào cơ chế chấn thương và tổn
thương giải phẫu cột sống. Theo một số tác giả như Bradford, Margel không
cần ghép xương cho mọi trường hợp:
- Nếu đường gãy đi qua thân đốt và cung sau (Thương tổn cột sống chủ
yếu là phần xương), sau khi nắn chỉnh hết di lệch, các mặt gãy áp sát vào
nhau thì mổ kết hợp xương là đủ giúp cho liền xương, không cần ghép.
- Ngược lại, khi có gãy vụn thân đốt kèm thương tổn “tổ hợp dây chằng
phía sau”, sau khi nắn chỉnh vẫn còn khoảng trống trong thân đốt gãy, dễ dẫn
đến khớp giả, cần ghép xương tự thân vào phía sau – bên cột sống hoắc ghép
xương bổ xung phía trước.
- Khi có thương tổn đĩa gian đốt, cần lấy bỏ và hàn khớp bằng ghép
xương vào khoang gian đốt.
Hình ảnh hàn xương của mảnh ghép xương phía sau – bên rất khó xác
định trên phim chụp X quang thông thường. Muốn xác định rõ, chỉ có thể bằng
cộng hưởng từ, nhưng vì có phương tiện cố định cốt sống nên không thể chụp được.
1.6.3. Đánh giá kết quả phẫu thuật
Cho đến nay, chụp MRI kiểm tra sau phẫu thuật vẫn là lý tưởng nhất,
nhưng chỉ áp dụng được cho những hệ thống dụng cụ không nhiễm từ, và giá
thành còn cao nên không thể tiến hành chụp hàng loạt, nhất là điều kiện kinh
tế như ở Việt Nam. Vì vậy, phương pháp đo “góc gù thân đốt”, “góc gù chấn
thương” và đánh giá “gấp góc vùng sau chấn thương” của đoạn cột sống bị
thương tổn dựa trên phim chụp cột sống thẳng – nghiêng vẫn hay được sử
dụng nhất [50].
23
Hình 1.7. Góc gù thân đốt (GTĐ) và góc gù vùng chấn thương (GVCT)
Tiến hành chụp X quang tư thế nghiêng, các góc gù được xác định như

khi kéo nắn bó bột cho những trường hợp gãy cột sống không có thương tổn
thần kinh [68].
Thế kỷ thứ VII, Paulus of Aegina là người đầu tiên đề xuất ý tưởng, sau
này được Malgaigne (1806-1865), Mac Ewen (1848-1924) phát triển thành
thủ thuật cắt cung sau [68].
Năm 1953, Holdsworth và Hardy sử dụng nẹp thường dùng trong cố
định xương tứ chi bị gãy để áp dụng cho gãy cột sống [49].
Năm 1958, Harrington sáng chế ra các móc và thanh giằng, lúc đầu
dùng trong vẹo cột sống, sau này được dùng cả trong chấn thương. Sau dó
phương pháp này đươc cải tiến thêm với buộc chỉ thép dưới mảnh của các đốt
ở đoạn giữa để tăng thêm độ vững cho hệ thống. Phương pháp này đươc gọi
là Hari-Luque. Tuy nhiên ngày nay hầu như người ta không dùng phương
pháp này trong chấn thương nữa [68].
Năm 19973, Edwardo Luque ở Mêhicô đưa ra phương pháp cố định côt
sống bằng hai thanh đũa thép hình chữ “L”, được buộc vào cung sau dọc hai
bên máng sống nhờ các sợi chỉ thép luồn dưới mảnh đốt sống để điều trị vẹo
cột sống, sau này cũng được áp dụng cho cả gãy cột sống[68].
25
Năm 1986, Dove [68], cải tiến phương pháp của Luque với một khung
hình chữ nhật.
Từ năm 1963-1975, Roy-Camille đã hoàn thiện phương pháp dùng nẹp
và vít cuống cung. Nẹp và vít là loại đặc biệt dành riêng cho cột sống. Roy –
Camille dùng kỹ thuật bắt vít “thẳng từ sau ra trước”. Phương pháp này cố
định vững chắc, nếu thương tổn ở đoạn bản lề, cột sống sẽ bị hạn chế vận
động. Khoảng cách giữa các vít là cố định, nhiều khi không tương ứng với
giải phẫu cụ thể của mỗi bệnh nhân [65],[71],[72].
Năm 1977, Magel , thuộc nhóm AO đề xuất phương pháp cố định
ngoài cột sống: 4 vít cuống cung kiểu Schanz, được xuyên qua da để bắt vào
cuống cung (2 vít trên và 2 vít dưới đốt gãy). Bên ngoài có hệ thống khung
ráp nối các vít cuống. Vì khá cồng kềnh bệnh nhân không thể nằm ngửa được,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status