xác định tỷ lệ nhiễm và khả năng gây bệnh của malassezia.sp trên một số bệnh da tại bệnh viện da liễu trung ương - Pdf 23

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
CNG
Xác định tỷ lệ nhiễm và khả năng gây bệnh
của Malassezia.sp trên một số bệnh da
tại bệnh viện Da liễu trung ơng
Nhúm nghiờn cu:
BSCKII. Nguyn Th Xuõn
BS. Trn Cm Võn
C vn chuyờn mụn:
PGS.TS. Trn Lan Anh
H NI - 2012
CC CH VIT TT
1
M. globosa: Malassezia globosa
M. furfur: Malassezia furfur
M. restrita: Malassezia restrita
M. slooffiae: Malassezia slooffiae
M.sympodialis: Malassezia sympodialis
M. nana: Malassezia nana
M. yamatoensis: Malassezia yamatoensis
M. dermatitis: Malasseziadermatitis
M. obtusa: Malassezia obtusa
M.pachydermatis: Malassezia pachydermatis
BN: Bệnh nhân
TT: Thương tổn
VDD: Viêm da dầu
TW: Trung ương
PCR: Polymerase Chain Reaction
ICD: Internationnal Classification of Diseases
HIV/AIDS: Human Immuno Deficiency virus/

3
là căn nguyên gây bệnh, nhưng đôi khi chỉ phối hợp làm nặng thêm tình trạng bệnh.
Do đó, những trường hợp điển hình thường thuận lợi cho chẩn đoán. Còn những
trường hợp không điển hình, nếu thiếu điều kiện xét nghiệm dễ dẫn đến chẩn đoán
nhầm và bỏ sót không điều trị. Bệnh da do nhiễm Malassezia.sp không tử vong,
nhưng gây nhiều phiền toái ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân,
đặc biệt nếu không điều trị đúng và kịp thời sẽ diễn biến dai dẳng, tiến triển nặng
nề. Ở Việt Nam còn rất ít nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về đặc tính vi nấm, đặc
điểm lâm sàng các bệnh biểu hiện ngoài da do nấm Malassezia.sp gây nên. Chính vì
lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia.sp trên một số bệnh da.
2. Đánh giá vai trò gây bệnh của Malasezia.sp trên một số bệnh da bằng kỹ
thuật Parker kết hợp KOH.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm nấm gây bệnh người
1.1.1 Đặc điểm chung (1,2, 3,4,5,6)
- Nấm (Fungi, Mycetes), là những sinh vật dị dưỡng, thuộc Giới nấm, có
cấu tạo đơn bào hoặc đa bào. Nấm không có diệp lục tố nên không tự tổng hợp
được chất dinh dưỡng từ ánh sáng mặt trời. Nấm sống hoại sinh trên những cá thể
đã chết hoặc ký sinh trên những phần cá thể sống khác. Một số loài có thể sống theo
cả hai cách trên. [4, 8].
- Đặc điểm sinh thái
+ Nấm phát triển cần hai điều kiên không thể thiếu là nhiệt độ và độ ẩm thích
hợp. Với nhiệt độ tối ưu để nấm phát triển là 28- 37ºC và độ ẩm môi trường cao,
khoảng >70%.
+ Nấm có thể phát triển môi trường nghèo dinh dưỡng, vì vậy việc phòng
tránh nấm gặp nhiều khóa khăn
+ Nấm sinh sản nhanh, nhiều và dễ dàng nên việc điều trị nấm phải tận gốc

1.1.1.3.1 Phân loại nấm
Nấm nói chung có trên một triệu loài, trong đó vi nấm có hàng ngàn trăm
loài và có khoảng trên ba trăm loài gây bệnh ở người. Vi nấm gây bệnh được chia
làm ba loại là nấm sợi, nấm men và nấm lưỡng hình.
Bảng phân loại vi nấm Tg 9 H
6
1.1.1.3.2 Phân loại bệnh do nấm gây ra
- Nấm có thể gây ra 4 loại bệnh
+ Dị ứng với nấm (Hypersensitivity): là phản ứng quá mẫn đối với nấm mốc
và bào tử nấm.
+ Nhiễm độc nấm (Mycotoxicoses): người hoặc động vật ăn phải thức ăn
nhiễm nấm sinh ra các độc tố gây nhiễm độc.
+ Ngộ độc nấm ( Mycetismus): ăn phải nấm độc gây ngộ độc cấp, có thể dẫn
tới tử vong.
+ Nhiễm nấm (Infection): Hầu hết các loại nấm gây ra nhiễm nấm không
sinh ra các độc tố nhưng chúng có khả năng gây ra các rối loạn sinh lý như làm tăng
chuyển hóa biến đổi cấu trúc màng.
- Trong thực tế việc phân lập nấm còn nhiều tranh cãi, nhưng có một số
phương pháp thường được áp dụng trong thực tiễn lâm sàng [11]
+ Bệnh nấm nông(superficial mycose) gây bệnh ngoài da
+ Bệnh nấm dưới da ( subcuntaneous mycoses) gây các bệnh khu trú vùng
dưới da thường chỉ liên quan đến chi dưới, rất ít lan rông…
- Ngoài ra dựa và vị trí gây bệnh chia làm hai loại [6]
+ Nhiễm nấm nông: gồm các loại nấm da và dưới da 1-2 mm
+ Nhiễm nấm sâu: nấm xâm nhập vào các mô của cơ thể như các loại nấm nội
tạng, nấm não, nhiễm nấm máu
- Nhiễm nấm phân chia theo căn nguyên
+ Căn nguyên nội sinh: Nấm Malassezia thường sống ký sinh trên đường tiêu hóa
và âm đạo, khi sức đề kháng giảm sút hoặc điều kiện sống tại chỗ thay đổi như: mất
cân bằng vi hệ, thay đổi pH da…thì chúng gây bệnh ở vùng này.

viêm da dầu, viêm nang lông, gầu da đầu, viêm da cơ địa, bạch biến, rụng tóc mảng,
nấm móng.
8
1.3 Đặc điểm Malassezia [16,18,36, 58]
Malassezia là nấm men ưa lipid, đa phần các loài gây bệnh cho người như:
M.globosa, M. furfur, M. dermatits, M.sympotheas Chúng thường biểu hiện ở mọi
lúa tuổi và trong rất nhiều bệnh lý ở nhiều vị trí khác nhau nhưng chủ yếu là độ tuổi
thanh niên có liên quan vùng da mỡ. Ngoài ra, một số loài khác gây bệnh móng và
gây bệnh cơ quan, hệ thống. Nhưng có một số loài gây bệnh chủ yếu ở động vật
như: M.pachydermatis. Đôi khi cũng gây bệnh cho người trong một số trường hơp
suy giảm miễn dịch Với những biểu hiện lâm sàng là tình trạng bệnh cảnh lâm
sàng nặng nề, nguy kịch.
Malassezia có cấu tạo đơn bào và sinh sản hình thức nảy chồi. Tuy nhiên, một
số loài có cấu tạo đa bào như: M.globosa, loài này có phương thức sinh sản hữu tính
tức là chúng có khả năng giao phối kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái. Chúng
thích nghi, sinh sản và phát triển hàng loạt. Đồng thời di truyền những đặc tính của
loài qua các thế hệ. Vì vậy, thế hệ sau luôn mang nhiều đặc tính về khả năng thích
nghi và đề kháng với các yếu tố đào thải nấm từ chính cơ thể hoặc từ môi trường tự
nhiên. Do đó, loài M.globosa mang tính chọn lọc tự nhiên rất cao, mà loài nấm này
tồn tại ở vi hệ rất nhiều và là căn nguyên gây bệnh chủ yếu. (16,35,41) Nấm
Malassezia.sp thuộc vi hệ trên da của người và động vật máu nóng. Nhiều nghiên
cứu cho thấy, có khoảng 70-90% vi nấm Malassezia.sp có mặt trên da người khỏe
mạnh. [16,26]. Tuy nhiên, vi hệ này cũng không bền vững đôi khi cũng thay đổi.
Ngay từ khi mới sinh, vi nấm đã xuất hiện và có mặt ở nhiều vị trí trên cơ thể.
Nhưng chúng phát triển nhiều ở tuổi vị thành niên, bởi lứa tuổi này tuyến bã hoạt
động mạnh và thải nhiều chất bã nhất… Bên cạnh đó, vi nấm cũng có thể đồng
nhiễm với một số vi khuẩn và vi nấm khác cũng thuộc vi hệ. Và do đó, chúng có
thể căn nguyên gây bệnh hoặc bội nhiễm làm nặng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra,
chúng còn gây bệnh cơ hội khi có điều kiện thuận lợi.
9

lợi hay gặp là:
* Yếu tố bên trong:
- Sinh lý: phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh
10
- Bệnh lý toàn thân: Nhiễm trùng cấp và mạn tính, bệnh chuyển hóa, béo
phì…Các bệnh lý như bỏng, ung thư,Hodking, nhiễm HIV/AIDS…
- Bệnh lý tại chỗ: làm thay đỏi tính chất da: VDCD, Rụng tóc, Bạch biến…
- Sử dụng hóa chất: Dùng kháng sinh phổ rộng, kéo dài làm thay đổi sự cân
bằng vi hệ…
* Yếu tố bên ngoài:
- Người già sức đề kháng suy giảm
- Loét do bỏng
- Điều kiện vệ sinh kém, không ý thức bệnh tật hoặc thiếu kiến thức
- Môi trường vi khí hậu thay đổi…
- Ngoài ra, thói quen dùng dầu dưỡng tóc, kem chống nắng, môi trường nóng
ẩm… là những yếu tố rất thuận lợi cho vi nấm Malassezia.sp phát triển và gây bệnh.
1.6 Tình hình nhiễm vi nấm Malassezia.sp
1.6.1 Trên thế giới
Các loài Malassezia đóng vai trò rất quan trọng trong căn nguyên sinh
bệnh của: lang ben, viêm da tiết bã, viêm da cơ địa, viêm nang lông… [43]
Trong các báo cáo ở Mexico, Trung và Nam Mỹ gặp tỷ lệ bệnh là 50%. Ở
Thái Lan lang ben chiếm 4% trong tổng số bệnh nhân khám Da liễu tại bệnh viện
Ramathibodi. Ở Ý chiếm 45 % trong số các bệnh nấm nông. Nhiễm vi nấm
Malassezia có thể gặp mọi vùng địa lý, khí hậu và mọi lứa tuổi. Một nghiên cứu ở
bệnh viện nhi khoa Sal-PaoLo (Brasil) cho biết tỷ lệ trẻ nhiễm Malassezia.sp chiếm
23% (độ tuổi 0-18 tháng tuổi), 28% ( 11-15 tuổi). Tại Tây Ban Nha, Martinez -
Roig và cộng sự nghiên cứu trên 1000 bệnh nhi ở độ tuổi từ 2 tháng đến 7 tuổi thấy
tỷ lệ nhiễm Malassezia chiếm khoảng 34,5% trong số bệnh da. Một nghiên cứu
khác ở Thụy Sỹ cho biết tỷ lệ nhiễm Malassezia chiếm 87% ở nhóm trẻ em độ tuổi
2 tháng đến 15 tuổi. Nhưng cũng có một nghiên cứu ở Israell lại kết luận là không

những đặc điểm tự nhiên, địa lý là nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên có nhiệt
12
độ và độ ẩm cao. Đồng thời, cùng với sự phát triển của nền văn minh lúa nước chủ
yếu làm nông nghiệp nên đa phần ý thức còn kém trong việc thực hiện đúng nguyên
tắc vệ sinh. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc một cách bừa bãi, thiếu kiểm soát, kèm
theo một số bệnh lý gây suy giảm miễn dịch như: nhiễm HIV/AIDS, ung thư, nhóm
bệnh chuyển hóa… [27, 38 ]
Một số nghiên cứu liên quan đến biểu hiện bệnh da do Malassezia tại Việt
Nam; theo số liệu Trần Lan Anh và Cs điều tra ở một xã thuộc ngoại thành Hà Nội
thì Lang ben chiếm 3,1% trong số 513 người được khám [59]. Nghiên cứu Lê Anh
Tuấn năm 2006 viêm da dầu chiếm tỷ lệ khoảng 1,51% số bệnh nhân đến khám tại
Bệnh viện Da liễu TW [13].Nghiên cứu Nguyễn Thị Phượng năm 2009 khoảng
2,13%. Tại một phòng khám ở Việt Nam ghi nhận có khoảng 16% bệnh nhân nhiễm
vi nấm Malassezia ở nang lông. [36] Sự tham gia của vi nấm malassezia.sp vào quá
trình gây bệnh đã được Lê Kinh Duệ đề cập đến. Nhưng theo tác giả vai trò của vi
nấm là rất nhỏ so với vi khuẩn Propioni bacterium acnes trong sinh bệnh học của
trứng cá. [59].
1.7 Một số biểu hiện bênh lý do nhiễm nấm Malassezia.sp
1.7.1 Lang ben [13, 27, 59]
Lang ben ( Pityriasis versicolor) là một bệnh mạn tính của lớp sừng, gây ra
bởi một nhóm nấm men trước đây có tên là pityrosporium, nay thống nhất dưới tên
gọi là Malassezia.
Bệnh gặp bất kỳ tuổi nào nhưng thường từ 20-45, trẻ em và người già ít bị.
Có một số quan điểm khác nhau về bệnh lang ben có lây hay không? Theo Eduado
Silva bình thường bệnh không lây vì nó thuộc vi hệ. Nhưng dưới ảnh hưởng một số
yếu tố thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, tính chất da thay đổi, sức đề kháng suy giảm…
Tạo điều kiện vi nấm tăng sinh và gây bệnh. [20].Nhưng Jose Latoni thì cho rằng
bệnh có thể lây do dùng chung ga giường, quần áo…
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh biểu hiên thể điển hình với các triệu chứng rất dễ nhận biết. Đó là đám

14
nhân viêm da dầu ở mức 2+, 3+ hoặc 4+ và các mức độ này tương đương với
mức độ trầm trọng của bệnh nhẹ, trung bình và nặng [35].
Đa số các nghiên cứu trên cho thấy mật độ Malassezia có liên quan đến mức
độ nặng, nhẹ của bệnh viêm da dầu và nhiều tác giả đều kết luận Malassezia có mối
quan hệ đặc biệt với tổn thương ở bệnh nhân VDD, nhưng vai trò cụ thể của loài
nấm này trong cơ chế bệnh sinh của VDD như thế nào thì vẫn chưa được rõ ràng.
Tuy nhiên, ban đầu đã có vài giả thiết dần dần làm sáng tỏ vấn đề trên. Theo
Parry và Sharpe, Malassezia có thể gây phản ứng viêm do sản xuất ra các chất gây
độc trong một số trường hợp đặc biệt [63]. Các chất gây độc này được các nhà
nghiên cứu đặt tên là các chất hóa ứng động bạch cầu giống lipid (lipid-like
leukocyte activator – LILA). Và điều này giải thích vì sao tiến triển của VDD
thường không dự đoán trước được. Ngoài đáp ứng viêm do LILA, các acid béo kích
ứng và acid arachidonic do Malassezia sản xuất ra cũng góp phần gây phản ứng
viêm ở bệnh nhân VDD.
* Triệu chứng lâm sàng
Biểu hiện dát đỏ, ngứa và vảy da bóng mỡ xuất hiện ở vùng da có nhiều tuyến
bã hoạt động. Theo các y văn trên thế giới các vị trí tổn thương thường gặp trong
bệnh VDD là những nơi tiết bã nhiều như da đầu, trán, rãnh mũi má, mi mắt, cung
mày, sau tai, ống tai ngoài, vùng trước xương ức, vùng liên bả vai. Trong nghiên
cứu Nguyễn Thị Phượng (2009) vị trí tổn thương thường gặp nhất là rãnh mũi má
93%. Các vị trí ít gặp hơn là kẽ nách, nếp lằn vú, rốn, vùng bẹn sinh dục và kẽ liên
mông. Tuy nhiên, khi bệnh nặng tổn thương có thể lan toả khắp cơ thể. Từ sự phân bố
tổn thương trong bệnh VDD có thể thấy rằng có sự liên quan rất mật thiết giữa vị trí da
dầu với bệnh .[20]
* Chẩn đoán xác định
- Chủ yếu dựa vào lâm sàng
- Để xác định căn nguyên có do nhiễm nấm Malassezia.sp cần thiết phải xét
nghiệm soi tươi tìm nấm. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng M.
furfur là loài gây bệnh chính. Tuy nhiên, gần đây người ta đã khẳng định vai trò chủ

vào lớp trên cùng của da và gây ra phát triển rất nhanh một loạt các tế bào da ở những
người nhạy cảm, dẫn đến gàu da đầu [2, 38, 40, 50, 64].
1.7.4 Viêm nang lông
Vi nấm Malassezia.sp viêm nang lông là một rối loạn viêm da thường biểu
hiện như ngứa, mụn mủ, sẩn đỏ nang lông phân bố chủ yếu thân mình người trung
niên và trẻ tuổi. Bệnh gây tình trạng rất khó chịu cho người bệnh, nhưng các
thương tổn thường lành tính. Một nghiên cứu vào năm 1969 đã mô tả lần đầu vi
nấm Pityrosporum gây viêm nang lông. Sau đó, vào năm 1973, Potter et al xác định
chẩn đoán lâm sàng và mô học riêng biệt viêm nang lông có căn nguyên do vi nấm
Malssezia. Vi nấm này chủ yếu gặp ở tuổi vị thành niên [12,46], phổ biến nhất ở
những người khoảng 13-45 tuổi với tỷ lệ nữ / nam là 1,5:1
Bệnh thường xuất hiện tổn thương mãn tính, ban đỏ, sẩn ngứa và mụn mủ.
Những tổn thương thường biểu hiện vị trí ở lưng và ngực đôi khi trên cổ, vai, cánh
tay hiếm khi hiện diện trên khuôn mặt. Thông thường rất ngứa, có mụn mủ nhỏ ở da
kèm theo ban đỏ. Một số vùng có yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến tỷ lệ những người
nhiễm vi nấm Malssezia gây viêm nang lông. Những người sống ở vùng khí hậu
ấm và ẩm ướt có tỷ lệ nhiễm cao hơn và ngày càng gia tăng ở vùng này. Ngoài ra,
những người có thói quen dùng các sản phẩm dưỡng da, chăm sóc tóc cùng với
nhiều loại mỹ phẩm, sữa, kem chống nắng, chất làm mềm, dầu ôliu. Ngay cả chất
liệu của trang phục, quần áo cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi nấm Malssezia
viêm nang lông, Một số yếu tố liên quan thuận lợi tạo điều kiện cho vi nấm gây
viêm nang lông bao gồm: đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, và nhiễm Candida
hệ thống [50]. Khi quan sát vi thể Malassezia trong nang lông qua các phương pháp
nhuộm PAS và nhuộm Grocott-Gomori methenamine, đa phần chỉ quan sát hình
thái nấm men, không có hình thức sợi nấm. Thông thường khi phát hiện có vi nấm
thì tiên lượng và điều trị không khó khăn. Nhưng nếu không điều trị, vi nấm xâm
nhập sâu nang lông có thể là viêm mạn tính và hoại tử nang lông.
1.7.5 Nấm móng do Malassezia.sp
17
Mặc dù hầu hết các trường hợp của nấm móng gây ra bởi các chủng nấm da.

hợp đầu tiên với nhiều lần định loại liên tiếp với mẫu bệnh phẩm từ móng tay, tìm
được chủng nấm gây bệnh là M. Furfur. Sau đó, người ta đã tiến hành điều trị
ketoconazole. Sau 12 tuần điều trị xét nghiệm không thấy nấm và móng tay đã trở
lại bình thường. Nấm móng chủ yếu ở móng tay chiếm khoảng 18-40% trong số các
viêm móng và 39% trong số các bệnh nhiễm nấm bề mặt.
19
1.7.6. Một số biểu hiện khác do nhiễm nấm Malassezia
- Malassezia thuộc vi hệ nên vi nấm này có mặt khắp nơi, gây bệnh nhiều vị trí
và biểu hiện trong rất nhiều bệnh cảnh lâm sàng đa dạng. Malassezia có thể gặp
trong viêm da cơ địa và thông thường Malassezia làm trầm trọng thêm tình trạng
bệnh. Ngoài ra, trong một số bệnh lý khác: Trứng cá thông thường, U nhú thể mảng,
Gaiden, Bạch biến
- Xâm nhập cơ quan, hệ thống: Người ta đã phát hiện bệnh nhân nằm điều trị
hồi sức tích cực bị nhiễm Malassezia.sp huyết. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác đã
cùng nhận định Malassezia.sp là tác nhân gây bệnh ở phổi, viêm màng bụng, nhiễm
khuẩn huyết qua đặt Catheter.[23, 63,50]. Qua nuôi cấy nấm và phân tích sinh học
phân tử, các nhà khoa học thuộc đại học Amsterdam xác định có hai loài gây bệnh hệ
thống hay gặp: M.pachydermatis chiếm khoảng 46% và M.furfur chiếm 63% [54].
- Theo nghiên cứu CDC (1984) nhận thấy vi nấm Malassezia.sp gây bệnh
nhiều nơi. Khi người ta tiến hành lấy các mẫu từ bệnh phẩm: máu, nước tiểu, đờm,
phân đều có thể phân lập được Malassezia.sp với tỷ lệ khá cao [29, 13].
1.8 Chẩn đoán bệnh do nấm Malassezia
1.8.1 Triệu chứng lâm sàng
Thông thương rất đa dạng và không đặc hiệu.
- Dát đỏ, bong vẩy da
- Da tăng tiết bã nhờn
- Gầu da đầu
- Dát tăng, giảm sắc tố
- Sẩn đỏ kèm ngứa vùng lông, tóc
- Vị trí chủ yếu: Da đầu, vùng mặt (rãnh mũi má, vùng trán, cằm, giữa hai

- Độ ẩm và pH phù hợp
- Thời gian mọc chậm 7-10 ngày
+ M.furfur dễ phân loại hơn các loài khác
+ M.restricta & M.obtusa khó phân loại nhất
* Đánh giá vai trò gây bệnh của Malassezia.sp
Để đánh giá vai trò gây bệnh của Malssezia chủ yếu dựa và kết quả xét nghiệm
trực tiếp và nuôi cấy. Tuy nhiên, trong khuân khổ đề tài này chúng tôi đề cập đến
phương pháp xét nghiệm trưc tiếp tìm nấm bằng kỹ thuật Parker kết hợp KOH. Theo
nghiên cứu V.Silva và cộng sự đã cho thấy vai trò của xét nghiệm trực tiếp tìm
Malassezia.sp rất quan trọng và cần thiết. Qua nghiên cứu này V.Silva đã đưa ra tiêu
chuẩn đánh giá sơ bộ vai trò gây bệnh của Malassezia.sp trên kính hiển vi dựa vào quan
sát mật độ tập trung vi nấm như sau (58):
● Nếu - : 0-3 tế bào nấm/VT
● Mức độ 1+ : 4-10 tế bào nấm/VT
● Mức độ 2+ : 11-20 tế bào nấm/VT
● Mức độ 3+ : 21- 40 tế bào nấm/VT
● Mức độ 4+ : ≥ 40 tế bào nấm/VT
Theo Zaii và cộng sự nghiên cứu mật độ tập trung vi nấm trên KHV vật kính
40 (72).
● Mức độ 1+ : < 5 tế bào nấm/VT
● Mức độ 2+ : 5 - 9 tế bào nấm/VT
● Mức độ 3+ : 10 - 19 tế bào nấm/VT
● Mức độ 4+ : ≥ 20 tế bào nấm/VT
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tương nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
- Tất cả các bệnh nhân nghi nhiễm nấm Malassezia.sp đến khám tại phòng
khám bệnh viện Da liễu TW.

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
 Bệnh nhân mắc một số bệnh toàn thân nặng hoặc bị suy giảm miễn dịch
như: HIV/AIDS.
 Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu
2.3.1 Dụng cụ thăm khám:
- Kính núp
- Đèn Wood
2.3.2 Vật liệu để lấy bệnh phẩm
- Kính hiển vi
- Dao cùn
- Băng dính
- KOH 20%
- Parker Ink + KOH 20%
- Giá để lam
- Lá kính
- Hộp đựng dụng cụ khử khuẩn
24
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục kèm theo)
2.3.3 Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: Lấy mẫu thuận tiện; tất cả bệnh nhân đến khám với các biểu hiên
như trên nghi nhiễm vi nấm Malassezia.sp
-Công thức tính:
n = Z
2
1-α/2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status