1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired
Immunodeficiency Syndromes – AIDS) do virus gây suy giảm
miễn dịch ở người (Human Immunodeficifncy Virus – HIV) ngày
nay đã trở thành đại dịch toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức y
tế thế giới (WHO) năm 2017, có 36,9 triệu người sống chung với
HIV, có 21,7 triệu người sống chung với HIV về điều trị kháng
virus, có 1,8 triệu người mới nhiễm HIV, và có khoảng 940,000
người chết do các bệnh liên quan đến AIDS [39].
Tại Việt Nam theo báo cáo công tác, phòng chống
HIV/AIDS trong 9 tháng đầu năm 2017 cả nước phát hiện mới là
6,833 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai
đọan AIDS là 3,484 trường hợp, số bệnh nhân tử vong là 1,260
trường hợp [7].
Nhằm mục đích phòng ngừa tự bùng phát của HIV và kéo
dài cuộc sống cho người bệnh hiện nay là thuốc kháng virus
(ARV). Tính đến tháng 7/2017, trên toàn quốc có trên 119,000
người nhiễm HIV đang được điều trị bằng thuốc ARV [8].
Việc tối ưu hóa việc chăm sóc cho người nhiễm HIV đòi hỏi
sự hiểu biết về các yếu tố góp phần vào sức khỏe thể chất,
hạnh phúc tâm lý, các mối quan hệ xã hội và chất lượng cuộc
sống. Chất lượng cuộc sống đã được coi là đồng nghĩa với tình
trạng sức khỏe, tình trạng chức năng, hạnh phúc tâm lý, hạnh
phúc với cuộc sống, sự hài lòng của nhu cầu, và đánh giá cuộc
sống của chính mình. Đánh giá chất lượng cuộc sống đã trở
thành một thước đo kết quả quan trọng trong quản lý HIV / AIDS
và phản ánh sự cải thiện hiệu quả, can thiệp về sức khỏe và sự
hài lòng với việc chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV.
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quát về HIV/AIDS
1.1.1.
Khái niệm HIV/AIDS
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human
Immunodeficiency Virus" là virus gây suy giảm miễn dịch ở
người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân
gây bệnh [9].
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired
Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch
mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các
nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [9].
1.1.2.
Các phương thức lây truyền HIV
Đến hiện nay nhờ những nghiên cứu về labo và dịch tễ học
người ta biết HIV có 3 cách truyền bệnh qua đường tình dục,
đường máu và từ mẹ sang con [3].
- HIV truyền qua đường tình dục chiếm khoảng 70% tổng
số nhiễm HIV trên thế giới. Nói một cách khác nhiễm HIV là
bệnh của đường tình dục. Phần lớn sự nhiễm HIV của thế giới
xảy ra qua đường tình dục nam và nữ hoặc đồng giới. Sự nhiễm
HIV theo đường này tiếp tục tăng lên. Sự lây nhiễm qua luyến ái
100,000 người nhiễm HIV và đến cuối năm 2015 điều trị cho
106,423 bệnh nhân, vượt mục tiêu kế hoạch quốc gia đề ra là
105,000 bệnh nhân. Tiếp đà thành công, chương trình điều trị
ARV đã được mở rộng liên tục, đến tháng 7/2017, trên toàn
quốc có trên 119,000 người nhiễm HIV đang được điều trị bằng
thuốc ARV [8].
Khái niệm tuân thủ điều trị trong điều trị ARV: Theo Tổ
chức Y tế thế giới, tuân thủ điều trị nghĩa là sử dụng thuốc, áp
dụng lối sống và chế độ ăn phù hợp với hướng dẫn của nhân
viên y tế [41].
Về mặt lý thuyết, tuân thủ điều trị thuốc ARV được hiểu là
“việc người bệnh uống đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ, đúng
cách theo chỉ định của thầy thuốc, đến khám và làm xét nghiệm
6
theo lịch hẹn” nhưng trên thực tế, các nghiên cứu sử dụng định
nghĩa “không nhỡ hoặc thiếu liều” trong một khoảng thời gian
nhất định, thường là 1 tuần trước đó.
Tuân thủ điều trị thuốc ARV là một quá trình phức tạp chịu
sự chi phối của nhiều yếu tố. Các yếu tố đó có thể là (1) các yếu
tố liên quan đến phác đồ điều trị; (2) các yếu tố xã hội và tâm
lý; (3) các yếu tố nguồn lực của cơ sở điều trị; và (4) các yếu tố
mang tính cá nhân. Bên cạnh đó, các nguồn lực hạn chế, kể cả
nguồn lực tài chính và nhân lực của cơ sở điều trị cũng ảnh
hưởng đáng kể đến sự tuân thủ điều trị. Vậy sự tuân thủ trong
điều trị ARV của người bệnh là yếu tố quyết định thành công.
1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS
1.2.1.
tuổi). 75% [55-92%] trong số tất cả những người nhiễm HIV đã
8
biết tình trạng HIV của họ trong năm 2017. Khoảng 9,4 triệu
người không biết rằng họ đang sống với HIV.
Nhiễm HIV mới: Nhiễm HIV mới đã giảm 47% kể từ mức
đỉnh điểm năm 1996. Trong năm 2017, đã có 1,8 triệu [1,4 triệu
- 2,4 triệu] người nhiễm HIV mới, so với 3,4 triệu người [2,6 triệu
- 4,4 triệu] vào năm 1996. Kể từ năm 2010, số ca nhiễm HIV
mới ở người trưởng thành đã giảm khoảng 16%, từ 1,9 triệu [1,5
triệu - 2,5 triệu] người xuống còn 1,6 triệu [1,3 triệu - 2,1 triệu]
người trong năm 2017. Kể từ năm 2010, số ca nhiễm HIV mới ở
trẻ em đã giảm 35%, từ 270,000 [170,000 – 400,000] trong
năm 2010 xuống còn 180,000 [110 000 – 260,000] trẻ em trong
năm 2017 [39].
Những người nhiễm HIV đang điều trị bằng thuốc
kháng virus: Trong năm 2017, 21,7 triệu [19,1 triệu - 22,6
triệu] người nhiễm HIV đã được điều trị bằng thuốc kháng virus,
tăng 2,3 triệu kể từ năm 2016 và tăng 8 triệu [7,1 triệu - 8,3
triệu] trong năm 2010. Trong năm 2017, 59% [44% -73%] trong
số tất cả những người nhiễm HIV được điều trị. Trong đó, 59%
[44% - 73%] người lớn từ 15 tuổi trở lên sống chung với HIV
được tiếp cận điều trị và 52% [37% - 70%] trẻ em từ 0 đến 14
tuổi. 65% [49-80%] phụ nữ từ 15 tuổi trở lên được tiếp cận điều
trị, tuy nhiên, chỉ 53% [38-66%] nam giới từ 15 tuổi trở lên được
tiếp cận. Trong năm 2017, 80% [61%->95%] phụ nữ mang thai
nhiễm HIV đã được sử dụng thuốc kháng virus để ngăn ngừa lây
truyền HIV cho em bé [39].
Phụ nữ: Mỗi tuần, có khoảng 7,000 phụ nữ trẻ từ 15 tuổi
Dịch HIV ở Việt Nam vẫn tập trung ở những quần thể có
nguy cơ cao nhất (như người tiêm chích ma túy, người bán dâm
và nam quan hệ tình dục đồng giới). Sự lây nhiễm HIV ở phụ nữ
chủ yếu là từ bạn tình của họ, là những người thuộc nhóm quần
thể đã nêu. Hệ thống giám sát trọng điểm huyết thanh học HIV
được bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ năm 1994, và tính đến
nay đã có 10 tỉnh có báo cáo về tỷ lệ nhiễm hiện HIV ở cả sáu
nhóm đối tượng đích. Từ năm 1996 hệ thống giám sát trọng
10
điểm HIV đã được triển khai ở 20 tỉnh/thành phố, đến năm 2001
triển khai tại 30 tỉnh/thành phố và từ năm 2003 tăng lên 40
tỉnh/thành phố. Năm 2009, Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội,
nên có 39 tỉnh/thành phố tiến hành giám sát trọng điểm HIV
hàng năm.
Các quần thể được giám sát bao gồm người tiêm chích ma
túy, nữ giới bán dâm, bệnh nhân đến các cơ sở điều trị lây
nhiễm qua đường tình dục (STI) và cơ sở điều trị lao, phụ nữ
mang thai đến khám ở các cơ sở sản khoa và nhóm thanh niên
khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Việc bổ sung thêm các nhóm đối
tượng khác để thực hiện giám sát trọng điểm sẽ do chính quyền
địa phương quyết định. Từ năm 2011, nhóm đối tượng nam
quan hệ tình dục đồng giới đã được đưa vào là một trong các
nhóm đối tượng đích trong giám sát trọng điểm ở một số
tỉnh/thành phố [34].
Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát
hiện mới 6,883 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển
sang giai đoạn AIDS 3,484, số người bệnh tử vong 1,260 trường
hợp [36].
hướng giảm so với cùng kỳ cuối năm 2016, tuy nhiên số liệu
phát hiện tùy thuộc vào khả năng triển khai công tác tư vấn xét
nghiệm, trong khi kinh tế cắt giảm, ngân sách quốc gia không
có cho hoạt động xét nghiệm phát hiện người nhiễm HIV,các
tỉnh được đầu tư công tác xét nghiệm phát hiện HIV vẫn phát
hiện được người nhiễm HIV ở mức cao, các tỉnh khác phần lớn
người nhiễm HIV được phát hiện tình cờ từ hệ thống bệnh viện
trong đó chủ yếu các bệnh nhân giai đoạn AIDS, mắc các bệnh
liên quan đến suy giảm miễn dịch, các bệnh Lao, bệnh nhiễm
khuẩn đường tình dục hoặc xét nghiệm sàng lọc HIV cho phụ nữ
mang thai, một số tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV là phụ nữ mang
thai cao trên 10% là do triển khai xét nghiệm phát hiện nhiễm
HIV hạn chế. Về nguy cơ lây truyền HIV, lây truyền qua đường
tình dục ngày càng chiếm tỷ trọng chính trong lây truyền HIV,
12
trong đó tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt nhóm tuổi
trẻ là cảnh báo quan trọng về nguy cơ lây truyền HIV trong
nhóm này sẽ chiếm tỷ trọng chính trong tương lai. Các địa
phương cần quan tâm về dự báo về nguy cơ lây truyền HIV của
mỗi địa phương để có can thiệp phù hợp dịch với tình hình thực
tế.
Dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng,
những nơi được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế vẫn còn
có thể phát hiện thêm nhiều người nhiễm HIV. Dự báo vẫn còn
nhiều người nhiễm HIV không thuộc nhóm nguy cơ cao do đó rất
khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn
giai đoạn AIDS. Do đó các địa phương cần có các biện pháp xét
nghiệm phát hiện phù hợp để có thể hỗ trợ người nhiễm HIV
Tỷ lệ mắc mới HIV chủ yếu ở lứa tuổi 20 – 39: 123 người
chiếm tỷ lệ 65,08%; trẻ em: 12 người chiếm tỷ lệ 6,35%;
trên 40 tuổi: 54 người chiếm tỷ lệ 28,57%.
-
Số người phát hiện nhiễm HIV ở nam giới 117 người chiếm
61,9%, nữ giới 72 người chiếm tỷ lệ 38,1%.
-
Tỷ
lệ
người
nhiễm
HIV
lũy
tích/dân
số:
0,69%
(4.564/1.236.601).
1.3. Chất
lượng
cuộc
HIV/AIDS
1.3.1.
Khái niệm chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để
đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối
với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá
về mức độ sự sảng khoái, hài lòng (well-being) hoàn toàn về thể
chất, tâm thần và xã hội. Chất lượng cuộc sống là thước đo về
phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Trong thời đại ngày nay,
việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người
là một nỗ lực của các nhà nước (Chính phủ), xã hội và cả cộng
đồng quốc tế [22].
14
Theo WHO đã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống (Quality
of life-100) gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số tiêu chí
là:
- Mức độ sảng khoái về thể chất gồm:
Sức khỏe
tiếng ồn…
Như vậy cần khảo sát tất cả các nội dung nêu trên mới đủ
cơ sở để đánh giá tổng hòa về “chất lượng cuộc sống”[5].
1.3.2.
Một số công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống
(CLCS)
Một số công cụ đo lường chất lượng cuộc sống:
-
EQ-5D-5L: Chất lượng cuộc sống Châu Âu với 5 kích thước
và 5 cấp độ, mô tả EQ-5D và thang đo trực quan EQ (EQ
VAS), bao gồm 5 lĩnh vực: di chuyển, tự chăm sóc, hoạt
động bình thường, đau / khó chịu và lo lắng / trầm cảm với
5 cấp độ: Vô cùng khó khăn/ không thể làm được, khó khăn
rất nhiều, tương đối khó khăn, có khó khăn chút ít, không hề
khó khăn [33].
-
EQ-5D-3L: Chất lượng cuộc sống Châu Âu với 5 kích thước
và 3 cấp độ, mô tả EQ-5D và thang đo trực quan EQ (EQ
VAS), bao gồm 5 lĩnh vực: di chuyển, tự chăm sóc, hoạt
động bình thường, đau / khó chịu và lo lắng / trầm cảm với
3 cấp độ: Không thể làm được, một chút khó khăn, Vô cùng
-
khó khăn [33].
Chất lượng cuộc sống của người bệnh HIV/AIDS
Nhiều bệnh nhân HIV phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội
như kỳ thị, nghèo đói, trầm cảm, lạm dụng dược chất và niềm
tin văn hóa có thể ảnh hưởng đến CLCS của họ không chỉ từ
khía cạnh sức khỏe thể chất và cả về sức khỏe tâm thần và xã
hội, nhiều vấn đề trong hoạt động và lợi ích của người bệnh.
Đánh giá chất lượng sức khỏe liên quan đến cuộc sống là lợi ích
cung cấp thông tin gánh nặng của người bệnh mắc bệnh mạn
tính, theo dõi những thay đổi về sức khỏe theo thời gian, đánh
giá hiệu quả điều trị, những phát hiện liên quan đến các khía
cạnh khác nhau của CLCS ở người bệnh HIV [51].
Một số nghiên cứu nước ngoài:
Một nghiên cứu cắt ngang dựa trên cơ sở y tế được tiến
hành tại Gurh, nằm ở thị trấn Gondar ở phía tây bắc của
17
Ethiopia. Đối tượng người bệnh HIV/AIDS trên 18 tuổi và đã đến
nhà thuốc Gurh HAART để lấy HAART trong thời gian nghiên
cứu. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng
4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014, cỡ mẫu cuối cùng là 403
và một số câu hỏi mở đã được sử dụng thang đo BREF
WHOQOL-HIV. Người bệnh được yêu cầu đánh giá nhận thức của
họ về chất lượng cuộc sống tổng thể, sử dụng thang điểm từ rất
thấp (1 điểm) đến rất tốt (5 điểm). Một nửa số người bệnh
(50%) đánh giá tổng thể CLCS của họ là không tốt và kém, bằng
cách đưa ra giá trị điểm số 3. Số người bệnh cao hơn (32,75%)
đánh giá tổng thể CLCS của họ là tốt so với những người bệnh
Tại Việt Nam một nghiên cứu cắt ngang dựa trên bệnh viện
được tiến hành từ tháng 1/2017 đến tháng 4 năm 2017 với 158
người mục đích chọn lọc những bệnh nhân HIV dương tính,
những người đang tham dự các phòng khám ARV tại bệnh viện
khu vực Volta (VRH) và bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh. Sử
dụng công cụ Bref WHOQoL-HIV được quản lý tại thời điểm
phỏng vấn để đánh giá từng người tham gia nghiên cứu. Những
người tham gia nghiên cứu được lựa chọn từ một nhóm người
bệnh từ 18 đến 70 tuổi, những người sống ở thành phố Hồ Chí
Minh. Trong số người nghiên cứu, 126 (79,75%) được xếp loại
với một CLCS tổng thể tuyệt vời, 14 (8,86%) được trình bày với
CLCS tốt và 18 (11,39%) đã bị ảnh hưởng tiêu cực bởi căn bệnh
này. Về vấn đề hài lòng về sức khỏe của người nhiễm HIV, 123
(77,85%) đánh giá sức khỏe của họ là tuyệt vời, 11 (6,96%)
đánh giá sức khỏe của họ là tốt, và 24 (15,19%) đánh giá sức
khỏe của họ là thấp [52].
Nghiên cứu nhằm mô trả sự thay đổi điểm số chất lượng
sống ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại bệnh
viện Nhân Ái năm 2014 của Lê Văn Học và cộng sự, giữa hai lần
điều tra cách nhau 1 tháng. Nghiên cứu theo dõi tiến hành trên
19
bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị ARV tại bệnh viện
Nhân Ái từ tháng 05 đến tháng 10 năm 2014. Chất lượng cuộc
sống được thu thập bằng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF. Kết quả xét
nghiệm tế bào CD4 mới nhất trong vòng 6 tháng kể từ ngày
điều tra cũng được thu thập. Trong 143 bệnh nhân nhiễm
HIV/AIDS đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu, chỉ có 131 người
trả lời đầy đủ hai lần điều tra. Tuổi trung bình của bệnh nhân
nhân điều trị ARV tại một số cơ sở điều trị ngoại trú ở Hà Nội và
Nam Định” của Nông Minh Vương năm 2015. Sử dụng thang đo
EQ-5D-5L, kết quả cho thấy, về vận động, có 20,48% gặp các
khó khăn khi tự đi lại. 9,71% bệnh nhân gặp khó khăn trong
việc tự chăm sóc bản thân, 16,59% gặp khó khăn khi làm các
công việc thường ngày. Có tới 37,69% có các biểu hiện đau đớn
và khó chịu trong cơ thể. Và 44,92% bệnh nhân có các dấu hiệu
lo lắng, buồn phiền và trầm cảm.
Như vậy, có thể thấy tại Việt Nam khá ít nghiên cứu về
chất lượng cuộc sống, các nghiên cứu trước đây còn ít sử dụng
các thang đo thỏa dụng, đánh giá về chất lượng dịch vụ và mức
độ hài lòng về cơ sở vật chất tại nơi điều trị. Các nghiên cứu chỉ
phân tích, đánh giá chất lượng cuộc sống với các yếu tố cá nhân
như tình trạng sức khỏe, các hành vi gây nguy cơ gây hại cho
sức khỏe, chưa xem xét, đánh giá về chất lượng cuộc sống tác
động đến chất lượng dịch vụ y tế và một số yếu tố khác trong
cộng động.
1.4. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống
của người bệnh HIV/AIDS điều trị ngoại trú
Một số yếu tố liên quan đến CLCS tốt hơn ở những người
bệnh nhiễm HIV đã được báo cáo trong các tài liệu quốc tế, và
chủ yếu là, tác động của HIV đối với CLCS thuộc bốn lĩnh vực
chính: Đặc điểm nhân khẩu học như giới tính nam, tình trạng
kinh tế xã hội, việc làm, và tải lượng virus HIV thấp hơn, số
lượng tế bào CD4 lớn hơn có liên quan đến cải thiện CLCS.
21
Ngoài ra, bệnh nhân không gặp khó khăn trong việc dùng
thuốc, những người sử dụng phác đồ với số lượng thuốc thấp
22
và phụ nữ nhiễm HIV / AIDS. Kết quả cho thấy nam giới có điểm
số cao hơn hoặc tốt hơn về bệnh tật (p = 0,02), môi trường (p =
0,07) và tâm lý (p = 0,02). Sử dụng ma túy đã dự đoán tiêu cực
kết đến CLCS ở cả nam và nữ. Việc làm có liên quan đến CLCS ở
nam giới tốt hơn, và tình trạng về thể chất ở phụ nữ tốt hơn.
Người bệnh nữ có con bị ảnh hưởng về hỗ trợ xã hội, tâm lý, và
việc làm [46].
1.4.2.
Hành vi sử dụng chất gây nghiện
Nhiễm HIV và rối loạn sử dụng chất là những bệnh mãn
tính có đóng góp phức tạp liên quan đến sức khỏe. Nhóm
nghiên cứu của Nguyễn Thành Long và cộng sự năm 2003, đã
thực hiện một cuộc khảo sát cắt ngang 951 người trưởng thành
nhiễm HIV được chăm sóc tại 14 địa điểm nghiên cứu HIV vào
năm 2003 để ước tính mối liên quan giữa CLCS và việc sử dụng
nghiện chất cụ thể ở người bệnh nhiễm HIV. Nhóm nghiên cứu
đã sử dụng hồi quy tuyến tính để ước tính mối liên quan được
điều chỉnh giữa CLCS và việc sử dụng cần sa, thuốc giảm đau,
heroin, amphetamine, cocaine, thuốc an thần, thuốc hít, rượu
độc hại / rượu và mức độ nghiêm trọng của việc sử dụng ma túy.
Sử dụng ma túy bất hợp pháp hiện nay được báo cáo có 37%
đối tượng. CLCS tinh thần đã giảm cho người dùng hiện tại [hệ
số beta được điều chỉnh -9,66, khoảng tin cậy 95% [(CI]) -13,4,
-5,94] [31].
1.4.3.
học, triệu chứng và sự kỳ thị đối với chất lượng cuộc sống trong
một mẫu gồm 726 người nhiễm HIV. Sự kỳ thị đã độc lập đóng
góp đáng kể 5,3% của sự khác biệt được giải thích về chất
lượng cuộc sống, sau khi loại bỏ sự đóng góp của các triệu
chứng liên quan đến HIV và mức độ nghiêm trọng của bệnh tật.
Nghiên cứu này dựa trên kinh nghiệm các tài liệu nhận thấy sự
kỳ thị HIV có tác động tiêu cực đáng kể đến chất lượng cuộc
sống đối với một mẫu người nhiễm HIV [32].
Một nghiên cứu khác của tác giả Bimal Charles và cộng sự
tại Nam Ấn Độ về kỳ thị, phân biệt đối xử và chất lượng cuộc
sống của những người nhiễm HIV/AIDS năm 2012, mẫu gồm 400
người bệnh nhiễm HIV. Kết quả cho thấy có tới 27% bị phân biệt
đối xử, trầm cảm lo âu ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tới
24
34%, với những người bệnh bị kỳ thị, phân biệt đối xử hầu như
có chất lượng cuộc sống kém và ít biết thông tin về quá trình
điều trị ARV và dẫn đến trầm cảm, lo âu [32].
Sự hỗ trợ của gia đình
Một trong những vấn đề cần quan tâm trong các chương
trình can thiệp dành cho người bệnh nhiễm HIV hiện nay là làm
thế nào để có thể huy động các nguồn lực khác nhau nhằm cải
thiện khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ điều trị nghiện chất
và điều trị HIV của các đối tượng. Các nghiên cứu gần đây đã
chứng minh hỗ trợ gia đình là một yếu tố thúc đẩy việc duy trì
điều trị người bệnh nhiễm HIV và thiếu sự hỗ trợ của gia đình
khiến việc tiếp cận dịch vụ điều trị ARV của các đối tượng này
gặp khó khăn. Nghiên cứu của Lùng Bích ngọc và cộng sự năm
2016 [18] đã nghiên cứu về các khía cạnh về sự giúp đỡ hỗ trợ
chất lượng dịch vụ tại một phòng khám ngoại trú HIV/AIDS tại
Hà Nội giai đoạn 2013-2015”. Phương pháp nghiên cứu áp dụng
nghiên cứu mô tả cắt ngang thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn
925 bệnh nhân HIV/AIDS tại 4 cơ sở y tế. Kết quả nghiên cứu
cho thấy điểm trung bình 10 cấu phần sự hài lòng của bệnh
nhân là 9,57 điểm. Trong đó bệnh nhân hài lòng nhất là sự tôn
trọng và giữ bí mật cá nhân với trung bình điểm là 9,73. Bệnh
nhân hài lòng với Bác sỹ và nhân viên y tế sẵn sàng giải đáp
thắc mắc của bệnh nhân (9,66 điểm). Cấu phần ít được sự hài
lòng nhất là Chất lượng chung của dịch vụ y tế (9,45 điểm); Sự
phối hợp giữa các khoa phòng và nhân viên y tế (9,47 điểm). Sự
hài lòng của bệnh nhân HIV/AIDS với dịch vụ ARV ở mức cao. Sự
hài lòng của người bệnh phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, những
người có điều kiện kinh tế khá hơn ít hài lòng về chất lượng,
mong muốn chất lượng phải tốt hơn nữa.Sự hài lòng phụ thuộc