Nghiên cứu đánh giá một số nội dung thiệt chẩn của Y học cổ truyền ở bệnh nhân đột quỵ - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ (Stroke) còn gọi là tai biến mạch máu não, hiện là một vấn đề đang
được quan tâm nhiều trong xã hội. Nó là một trong bốn nguyên nhân tử vong hàng
đầu ở hầu hết các quốc gia. Bên cạnh đó, nó còn để lại di chứng nặng nề, làm mất
khả năng sinh hoạt độc lập, đồng thời là một gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã
hội trong việc điều trị, phục hồi chức năng, và chăm sóc về sau.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh, bệnh nguyên và cơ chế phát bệnh rất phức tạp,
biến chứng nhiều, song thuốc điều trị có hiệu quả thì còn nhiều hạn chế, gây nên tỷ
lệ tàn phế và tử vong cao [32], [33], [36], [47], [48]. Trong thực hành lâm sàng, vấn
đề chẩn đoán thể bệnh đột quỵ là rất quan trọng, là cơ sở cho điều trị chính xác, an
toàn và hiệu quả và cũng là cơ sở giúp cho việc tiên lượng bệnh. Vì vậy, nghiên cứu
đột quỵ dưới nhiều góc độ như về bệnh nguyên bệnh cơ, điều trị… là một đối sách
chiến lược có ý nghĩa quan trọng [35].
Đột quỵ có bệnh danh Y học cổ truyền (YHCT) thuộc phạm trù chứng
“Trúng phong” [58], Y học cổ truyền nhận thức về đột quỵ sớm nhất trong 《Hoàng
đế nội kinh《cho rằng, phát bệnh đột quỵ có liên quan đến tâm, can, thận, tỳ và kinh
lạc huyết mạch, bệnh nguyên bệnh cơ có liên quan đến các nhân tố gây bệnh như
phong, hỏa, đàm, ứ, hư, trên lâm sàng tiến hành biện chứng luận trị, có thể đạt được
kết quả tốt.
Thiệt chẩn là một cơ sở khách quan không thể thiếu trong biện chứng YHCT,
lưỡi tượng (các biểu hiện của lưỡi) là nội dung chủ yếu của vọng chẩn trong chẩn
đoán Y học cổ truyền. Trong《Lâm chứng nghiệm thiệt pháp《có ghi: “dựa vào lưỡi
để phân biệt hư thực, hư thực không rõ; dựa vào lưỡi để phân biệt âm dương, âm
dương không rõ; dựa vào lưỡi để phân biệt tạng phủ,...”. Điều này cho thấy tính
quan trọng của thiệt chẩn trên lâm sàng. Lưỡi với ngũ tạng lục phủ có quan hệ mật
thiết với nhau. Y học cổ truyền cho rằng, lưỡi tượng biến hóa có thể phản ánh sự


2

3


4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Y HỌC HIỆN ĐẠI NHẬN THỨC VỀ ĐỘT QUỴ
1.1.1. Khái niệm đột quỵ
Thuật ngữ “đột quỵ” (stroke, ĐQ) không được định nghĩa thống nhất trong
thực hành điều trị, nghiên cứu lâm sàng và đánh giá của lĩnh vực y tế cộng đồng.
Định nghĩa cổ điển chủ yếu dựa trên các tiêu chí lâm sàng mà chưa bao gồm các
tiến bộ về khoa học và công nghệ. Hội đồng Đột quỵ thuộc Hội Đột quỵ/Hội tim
mạch Mỹ đã nhóm họp để đề xuất một tài liệu cập nhật định nghĩa đột quỵ của Thế
kỷ 21. Nhồi máu hệ thần kinh trung ương (Central nervous system infarction) được
định nghĩa là tình trạng chết tế bào não, tủy sống hoặc võng mạc do thiếu máu, dựa
vào giải phẫu bệnh, chẩn đoán hình ảnh thần kinh, và/hoặc các bằng chứng lâm sàng
của tổn thương vĩnh viễn. Nhồi máu hệ thần kinh trung ương bao gồm đột quỵ thiếu
máu (ischemic stroke) để chỉ những trường hợp nhồi máu hệ thần kinh trung ương có
triệu chứng; nhồi máu não thầm lặng (silent infartion) để chỉ những trường hợp không
phát hiện triệu chứng lâm sàng. Đột quỵ bao gồm cả chảy máu trong não (intracerebral
hemorrhage) và chảy máu dưới nhện (subarachnoid hemorrhage). [30].

1.1.2. Dịch tễ
Theo cơ quan thống kê về bệnh tật của Hoa Kỳ (2010) [31], ĐQ đứng hàng
thứ ba về nguyên nhân tử vong (143.579 ca), dẫn đầu về nguyên nhân gây nên tàn
tật. Mỗi năm có 795.000 ca, ba phần tư các trường hợp gặp ở người trên 65 tuổi, cứ
thêm 10 tuổi nguy cơ tăng gấp đôi, cứ 40 giây có một bệnh nhân ĐQ. Tại Việt Nam
với 80 triệu dân số mới mắc khoảng 200.000 người/năm, số người bị ĐQ đang sống
là 486.000 người và tử vong 104.800 người/năm [9].


1.1.3.3. Các triệu chứng thần kinh chung
Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn thực vật...

1.1.3.4. Các triệu chứng kết hợp khác
Bệnh xảy ra ở tuổi từ 50 trở lên. Bệnh nhân có biểu hiện xơ vữa động mạch,
tăng huyết áp, tiểu đường, có bệnh tim...

1.1.3.5. Một số thang điểm dùng lượng giá các triệu chứng


6

Trong lâm sàng thường sử dụng một số thang điểm đánh giá mức độ của các
triệu chứng để lượng giá và ứng dụng trong đánh giá kết quả điều trị cũng như
nghiên cứu đột quỵ.
-Đánh giá tiên lượng theo Rankin hoặc theo thang điểm tiên lượng Glassgow
(Glasgow Coma Scale – GCS).
- Khám, chẩn đoán định khu tổn thương, dựa vào
- Đánh giá mức độ liệt của chi theo Henry và cộng sự 1984
- Đánh giá khả năng tự phục vụ theo thang điểm Barthel, thang điểm Orgogozo.

1.1.3.6. Chẩn đoán phân biệt chảy máu não với nhồi máu não
- Chẩn đoán phân biệt căn cứ vào đặc điểm lâm sàng đột quỵ xuất huyết não
(clinical strocke, CSS).
Bảng 1.1. Chẩn đoán phân biệt căn cứ vào đặc điểm lâm sàng
đột quỵ xuất huyết não (clinical strocke, CSS)
S

Triệu chứng

CSS 3 điểm: theo
dõi là đột quỵ chảy máu

1
1
1
1
1

Rối loạn cơ vòng
Co giật hoặc kích thích vật vã
Quay mắt - đầu về một bên
Co cứng mất vỏ hoặc duỗi cứng mất

CSS 2 điểm: theo dõi
đột quỵ thiếu máu

1
1
1
1

não
Cộng:

Chẩn đoán

1
0



Hôn mê
2
SSS
Chẩn đoán
Chẩn đoán là nhồi
Không
0
SSS< -1
máu não
Nôn, buồn nôn
Chẩn đoán là chảy

1
SSS> +1
máu não
Các biểu hiện vữa xơ (tiểu
Không
0
Chẩn đoán không
đường, khập khiễng cách hồi, xơ
-1 < SSS < +1
chắc chắn

1
cứng động mạch...)

Hình 1.1. Vị trí tổn thương mạch não trong nhồi máu não và xuất huyết não

1.1.4. Các xét nghiệm cận lâm sàng

nhồi máu [5].

1.1.5. Điều trị
1.1.5.1. Nguyên tắc điều trị
① Duy trì chức năng sống và điều chỉnh các hằng số sinh lý:

-Duy trì chức năng sống theo quy tắc A, B, C, D cụ thể:
+ A (airway): giữ thông đường thở bằng cách lau đờm dãi, tháo răng giả…


9

+ B (breathing): bảo đảm khả năng thở cho bệnh nhân cả về tần số và biên
độ, làm thông đường thở, nếu cần phải thực hiện hô hấp hỗ trợ, thở oxy.
+ C (circulation): bảo đảm tuần hoàn.
+ D (drugs): dùng thuốc hay Defibrilator — shock điện.
- Điều chỉnh các hằng số sinh lý:
+ Điều chỉnh nhịp tim khi cần thiết.
+ Nếu huyết áp thấp cần trợ tim mạch.
+ Nếu tăng huyết áp cần thận trọng khi dùng thuốc hạ huyết áp. Theo khuyến
cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ nên dùng thuốc hạ áp khi huyết áp tâm thu trên
200mmHg, huyết áp tâm trương từ 120mmHg trở lên. Không hạ huyết áp xuống
một cách đột ngột, dùng thuốc từ nhẹ như diazepam, lassix sau mới đến các thuốc
hạ áp khác. Đa số các tác giả ở trong nước khuyên nếu huyết áp tăng trên 180/120
mmHg mới cần dùng thuốc hạ áp, cần hạ huyết áp xuống từ từ; với người tăng
huyết áp từ trước nên duy trì huyết áp vào khoảng 170/100mmHg; với người không
có tiền sử tăng huyết áp có thể hạ xuống mức 160/95 mmHg.
+ Giữ cân bằng nước - điện giải.
②Chống phù não:


chỉ định chặt chẽ (vì tỷ lệ biến chứng chảy máu rất cao) và chỉ dùng cho những
bệnh nhân còn ở trong thời gian cửa sổ điều trị (treatment time window), tức trong
vòng 3 giờ sau khởi phát. Thuốc có thể dùng theo đường toàn thân hoặc dùng chọn
lọc qua đường động mạch.
② Dùng thuốc chống đông: đối với tắc động mạch não, đã thống nhất trong

những ngày đầu dùng heparine tiêm tĩnh mạch, liều trung bình 2500UI, cứ 6 giờ
dùng một lần, cần theo dõi thời gian Howell hoặc thời gian Quick để điều chỉnh liều
lượng, dùng 7 - 10 ngày. Thời gian sau chuyển dùng aspirine. Việc dùng heparine
trong huyết khối động mạch não có nhiều ý kiến còn chưa thống nhất.
Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu: không dùng cho bệnh nhân đột qụy chảy
máu trong giai đoạn đầu, đối với bệnh nhân đột qụy thiếu máu cũng cần lưu ý tới
mức độ tổn thương của tổ chức não. Nếu có chỉ định thì thường dùng 100 200mg/ngày (về liều lượng có nhiều quan điểm khác nhau).


11

+ Dùng thuốc bảo vệ não, tăng cường tuần hoàn não và tăng cường dinh
dưỡng não: chủ yếu trong nhồi máu não, còn trong chảy máu não dùng trong giai
đoạn sau khi bệnh đã ổn định. Các thuốc trên được chia thành 2 nhóm: nhóm thứ
nhất bổ sung cơ chế (cerebrolysine, citicholine…), nhóm thứ 2 là các thuốc tác dụng
qua cơ chế tuần hoàn (pervincamin, cavinton, stugerol, noootropyl, lucidril…). Việc
sử dụng tuỳ theo kinh nghiệm, nói chung có thể dùng kết hợp các thuốc ở những
nhóm khác nhau để làm tăng tác dụng điều trị.

1.1.5.3. Điều trị triệu chứng, biến chứng
Dùng kháng sinh chống bội nhiễm, thuốc chống co giật, hạ sốt, an tĩnh,
chống đau đầu… khi có chỉ định.

1.1.5.4. Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc hộ lý, phục hồi chức năng

vách liên kết, các đám rối thần kinh, nhiều thùy mỡ, nhiều túi tiết nhày, tiết nước,
túi tuyến nước bọt... Tư thế của lưỡi phụ thuộc vào các cơ ngoại lai cơ cằm lưỡi
bám vào xương hàm dưới, tránh cho lưỡi tụt ra sau để không gây tắc đường hô hấp;
phần sau của cơ đẩy lưỡi thè ra trước làm cho lưỡi hạ xuống được. Cơ móng lưỡi,
cơ trâm lưỡi, và phần trước của cơ cằm lưỡi làm nhiệm vụ kéo lưỡi lại.
Về hình thể, lưỡi có đầu lưỡi (đỉnh lưỡi); gốc lưỡi (cuống lưỡi); thân lưỡi
(lưng lưỡi). Bề mặt lưỡi được phân thành mặt trên, mặt bên (viền lưỡi) và mặt dưới.
Mặt trên lưỡi có vết dọc giữa lưỡi gọi là rãnh giữa lưỡi. Ở dọc chính giữa mặt dưới
có nếp hãm lưỡi. Hai bên nếp hãm lưỡi có lỗ tiết của các tuyến nước bọt dưới lưỡi
và dưới hàm [18].

1.2.1.2. Niêm mạc lưỡi
Niêm mạc bao phủ bề mặt lưỡi, cấu trúc là lớp biểu mô nhiều tế bào dẹt
không sừng hóa. Niêm mạc mặt trên lưỡi và mặt bên lưỡi dính vào khối cơ lưỡi.
Niêm mạc tạo thành các nhú lồi lên trên bề mặt lưỡi trong đó có nhiều mao mạch và
các hành vị giác. Mỗi nhú gồm có một khối nhỏ mô liên kết đệm ở bên trong và
được bao phủ bởi một lớp biểu mô lát tầng có sừng hoá một phần.

1.2.1.3. Thần kinh mạch máu chi phối
Dây thần kinh XII (dây hạ thiệt) chi phối vận động các cơ lưỡi. Nhánh lưỡi
của dây V (dây sinh ba) nhận cảm giác nông: nóng, lạnh, đau ở 2/3 trước lưỡi. Dây
thần kinh IX (dây thiệt hầu) thu nhận cảm giác vị giác và cảm giác chung như
nóng, lạnh, đau ở 1/3 sau lưỡi.


13

Khi thương tổn dây thần kinh vận động của lưỡi (dây XII hạ thiệt) hoặc có
liên quan tới bệnh cơ, thần kinh, tai biến mạch máu não và ở một số trạng thái
nhiễm độc, nhiễm khuẩn mà làm lưỡi co cứng, trực thẳng, khó dịnh chuyển hoặc


14

hóa các lớp biểu mô niêm mạc, màu sắc rêu lưỡi cũng có liên quan đến hàm lượng
Bilirubin và các yếu tố khác. Rêu lưỡi bong rụng thành mảng, có ranh giới rõ ràng,
hình dáng như bản đồ là do sự thoái hóa các nhú. Lưỡi mất rêu, nhẵn trơn hoặc sáng
bóng như mặt gương là do thiểu dưỡng, thiếu máu, albumin huyết tương giảm thấp,
thiếu hụt các sinh tố, các chất điện giải Na +, Ca++… làm các tế bào niêm mạc lưỡi
chết, bong rụng hoặc co vỡ, nứt nẻ với các mức độ khác nhau trên bề mặt lưỡi [3].

1.2.2.3. Hình thể lưỡi
Hình thể lưỡi có liên quan đến tạp khuẩn, một số quá trình bệnh lý tại lưỡi
miệng các trạng thái dị dạng bẩm sinh về lưỡi hoặc do các bệnh lý toàn thân và các
bệnh lý nội tiết.
Lưỡi mập, bệu, nhẽo thường do phù nề tổ chức khi thiếu máu, có phù là do
Albumin huyết tương giảm, số lượng hồng cầu giảm, hemoglobin máu giảm, màu
lưỡi sẽ trắng nhợt. Do giảm trương lực các nhóm cơ ở đầu lưỡi và rìa lưỡi cho nên
thấy dấu hằn răng. Lưỡi to, mập bệu chắc nhưng cử động lưỡi khó, lưỡi miệng hầu
đầy gặp trong bệnh to mặt và các chi. Gai lưỡi là những điểm nốt nhỏ, chấm đỏ,
phân bố ở đầu rìa lưỡi hoặc giữa lưỡi do các loại nhú tăng sinh [3].

1.2.2.4. Độ ẩm lưỡi
Bình thường lưỡi hơi ướt, độ pH nước bọt và niêm dịch lưỡi 7,4 - 8. Lưỡi
khô khi cơ thể bị thiếu nước nặng trong các trường hợp như sốt cao, nôn nhiều, ỉa
chảy mất nước, ra quá nhiều mồ hôi.
Lượng nước bọt bị giảm do sự tiết nước bọt kém, nhất là trong các trạng thái
nhiễm trùng, nhiễm độc thuốc, bị ức chế thần kinh [16].

1.3. YHCT NHẬN THỨC VỀ THIỆT CHẨN TRONG ĐỘT QUỴ
1.3.1. Khái niệm thiệt chẩn

nhiên não là cơ quan tiếp nhận cảm giác” và cho rằng ngũ quan là cơ quan cảm giác
của não, được sinh ra bởi não và do não điều khiển mà có vị giác, thính giác, thị
giác, khứu giác…có tác dụng nhất định đối với việc đảm bảo duy trì sự cân bằng
hằng định của cơ thể. Mối quan hệ của não với thân thể và tứ chi “Linh Khu-hải
luận thiên” viết: “Não là bể của tuỷ,…tuỷ hải hữu dư thì thân thể khoẻ mạnh, tuỷ
hải bất túc thì não chuyển ù tai, huyễn vựng, mắt nhìn không rõ, tốt nhất là nằm
yên”. Về quan hệ giữa tâm và não biểu hiện về chủ thần minh, tâm tàng thần, chủ
thần minh là thống soái của lục phủ ngũ tạng. Đời Minh-Lý Thời Trân trong “Bản
thảo cương mục” cho rằng: “Não là phủ của nguyên thần”; Uông Ngang trong “Bản


16

thảo bị yếu” viết: “Tính nết của con người là do não quyết định” cho thấy mối quan
hệ giữa não và tâm [59], [60], [64].
Về phương diện sinh lý thì não và tâm có quan hệ mật thiết còn về phương
diện bệnh lý cũng có ảnh hưởng như: não bị ứ trệ đều có thể ảnh hưởng tới chức
năng của tâm chủ thần minh, xuất hiện thần trí khác thường. Mặt khác, lưỡi là mầm
của tâm, kinh tâm liên hệ với gốc lưỡi nên khi não lạc bị ứ trệ thì có những biểu
hiện ở lưỡi như, lưỡi cứng, lưỡi lệch, vận động lưỡi khó khăn [50], [64].
Trương Trọng Cảnh trong “Kim quỹ yếu lược-trúng phong lịch tiết mạch
chứng cùng trị thiên” viết: “Mạch phù là huyết hư, lạc mạch hư rỗng, tà không tiết
ra ngoài, có lúc ở bên phải, có lúc ở bên trái; tà khí ngược lại hoãn, chính khí thì
gấp gáp, chính khí dẫn tà khí gây miệng méo”. Tức là đã đề cập đến biểu hiện của
trúng phong như miệng méo, liệt nửa người, ý thức rối loạn, cứng lưỡi, lưỡi lệch
tương ứng với tổn thương do ĐQ của YHHĐ. Do đó biểu hiện lưỡi cứng, lưỡi lệch
kết hợp với liệt nửa người cùng bên cũng là triệu chứng báo hiệu tổn thương ở sâu,
ở tạng phủ góp phần vào chẩn đoán tạng phủ và tiên lượng bệnh [50], [59].

1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THIỆT CHẨN TRONG ĐỘT QUỴ

sánh sự khác nhau về đặc điểm lưỡi tượng của bệnh nhân đột quỵ ở 2 thể bệnh
YHCT là trúng phong tạng phủ và trúng phong kinh lạc, các tác giả đã phát hiện
trong trúng phong kinh lạc gặp nhiều hơn cả là chất lưỡi đỏ tối hoặc đỏ sáng, ít rêu,
lâm sàng biểu hiện âm hư hỏa vượng; trong trúng phong tạng phủ chất lưỡi đỏ tối,
hoặc đỏ giáng, lâm sàng biểu hiện nhiệt chứng hoặc thực chứng. Liumengan [45] đã
nghiên cứu mối quan hệ giữa kích thước ổ nhồi máu ở vùng não bị tổn thương với
biểu hiện lưỡi tượng, đã nhận thấy, ổ nhồi máu não nhỏ, bệnh tình tương đối nhẹ, thì
phần lớn lưỡi có biểu hiện bệu to, sắc lưỡi đạm hồng (hồng nhạt) hoặc đạm trắng,
rêu lưỡi trắng mỏng, vàng mỏng trắng bẩn; ổ nhồi máu não lớn, bệnh tình tương đối
nặng, chất lưỡi già, co ngắn, liệt, sắc lưỡi đỏ giáng hoặc tím tối, rêu lưỡi trắng bẩn,
vàng táo hoặc lưỡi bong. Các nghiên cứu đã cho thấy, bệnh nhân đột quỵ ở các độ
tuổi khác nhau, lưỡi tượng biểu hiện không giống nhau, bệnh cơ khác nhau; tính
chất đột quỵ khác nhau, bệnh vị khác nhau, bệnh tình mức độ nghiêm trọng khác
nhau, thì đặc điểm lưỡi tượng của nó cũng biểu hiện khác nhau.


18

1.4.2. Tiên lượng dự hậu với lưỡi tượng của BN đột quỵ
Biến đổi của lưỡi tượng có thể phản ánh tình trạng tiến lui của bệnh tật.
Lenghuilin [43] kết hợp Thang điểm đột quỵ tiến hành quan sát hệ thống lưỡi tượng
trên 230 BN đột quỵ cấp, đã nhận thấy, bệnh tình từ nhẹ chuyển sang nặng hơn, chất
lưỡi ắt biến đổi từ đạm chuyển sang đỏ, chất lưỡi tím thay đổi theo xu hướng tím
hơn, rêu lưỡi ắt biến đổi theo từ mỏng chuyển sang dày, vàng, bẩn; bệnh tình từ
nặng chuyển sang nhẹ, chất lưỡi, rêu lưỡi tương phản biến hóa theo, chất lưỡi ắt từ
tím, đỏ chuyển sang đạm, rêu lưỡi cũng chuyển biến từ bẩn, vàng, dày chuyển sang
mỏng. Zhangfengxia [59] nghiên cứu phương diện truyền hóa (chuyển biến) cho
rằng, bệnh nhân đột quỵ nếu lưỡi tư nhuận tươi sáng, chất lưỡi đạm hồng, rêu lưỡi
trắng mỏng, ắt thể hiện khí huyết điều hòa, kinh mạch thông lợi, dự hậu tốt; nếu
chất lưỡi từ đỏ giáng hoặc tím tối chuyển sang đạm hồng, rêu lưỡi từ dày bẩn


1.4.3. Lưỡi tượng với sinh hóa máu ở bệnh nhân đột quỵ
Lý luận YHCT cho rằng “tâm khai khiếu ra lưỡi”, “tâm chủ huyết mạch toàn
thân”, hệ thống mạch máu ở lưỡi phong phú, có thể phản ánh công năng của khí
huyết toàn thân. Trên cơ sở này, mối quan hệ giữa lưỡi và lưu biến huyết dịch học
được chú ý nhất. Songqi và cs [49] nghiên cứu tính tương quan giữa lưỡi tượng và
sự biến đổi của lưu huyết dịch học ở lưỡi, đã phát hiện chất lưỡi đạm trắng, đỏ,
giáng, xanh, tím có lưu biến huyết dịch ở các mức độ khác nhau, chất lưỡi xanh và
tím biểu hiện tỷ lệ huyết sắc tố hematocrit máu và độ nhớt máu tăng cao. Fuyueqin
và cs [37], [38] nghiên cứu mối quan hệ giữa lưỡi tượng với lưu biến huyết dịch ở
BN đột quỵ cấp, đã phát hiện giữa lưỡi tượng với lưu biến huyết dịch ở BN đột quỵ
cấp do xuất huyết não có tính tương quan nhất định, trong đó chỉ tiêu chất lưỡi tím,
tối đỏ với chỉ số lưu biến huyết dịch có tính tương quan cao. Khi nghiên cứu mối
quan hệ giữa mối quan hệ giữa lưỡi tượng với lưu biến huyết dịch, các tác giả này
đã phát hiện chỉ tiêu lưu biến huyết dịch bao gồm sự biến đổi của độ nhớt máu,
hematocrit , độ nhớt bên trong hồng cầu, hồng cầu biến dạng, độ tập trung tế bào
hồng cầu đã phản ánh ở sự biến đổi của chất lưỡi, hình thể lưỡi mà không phản ánh


20

ở rêu lưỡi. Gaoli và cs [39] nghiên cứu mối liên quan giữa lưỡi tượng với hàm
lượng protein-C máu (Creac-tiveprotein, CRP) trong phản ứng viêm, dựa vào phân
các mức độ khác nhau của rêu lưỡi và chất lưỡi (rêu lưỡi dày và mỏng, rêu lưỡi bẩn
và không bẩn, hoạt nhuận với khô táo) trên 20 BN nhồi máu não cấp, định lượng
hàm lượng CRP trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm rêu lưỡi dày (117
BN) có CRP trong máu cao hơn so với nhóm rêu lưỡi mỏng (73 BN), sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê, với p

22

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xác định đột quỵ điều trị nội trú tại Bệnh
viện Bạch Mai và Viện Lão khoa Quốc Gia. Thời gian từ tháng 3 năm 2013 đến
tháng 02 năm 2014. Không phân biệt giới tính.

2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
2.1.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đột quỵ não theo YHHĐ
BN được chẩn đoán xác định đột quỵ theo tiêu chuẩn WHO 1990.
- Tiêu chuẩn lâm sàng: bệnh khởi phát đột ngột, cấp tính hoặc từng nấc. Có
triệu chứng thần kinh khu trú kéo dài trên 24 giờ. Ý thức đánh giá theo thang điểm
Glasgow ≥ 6 điểm.
- Cận lâm sàng: 100% có CT scanner sọ não được chẩn đoán nhồi máu não
hoặc chảy máu não biểu hiện bằng vùng giảm tỷ trọng hoặc tăng tỷ trọng trên phim
chụp. Hoặc Chụp cộng hưởng từ.

2.1.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán trúng phong theo YHCT
Có biểu hiện của trúng phong: đột ngột hôn mê bất tỉnh nhân sự, đột ngột
xuất hiện bán thân bất toại, nói khó, nói ngọng, miệng méo, lưỡi lệch và các chứng
trạng khác theo vọng, văn, vấn, thiết.

2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
- Ý thức đánh giá theo thang điểm Glasgow < 6 điểm.
- Bệnh tim mạch: suy tim mất bù, nhồi máu cơ tim.

nhiệt độ huyết áp, đại tiểu tiện, tình trạng liệt khu trú, tình trạng vận động của các
cơ thắt vân bàng quang, hậu môn...
- Chỉ tiêu quan quan sát theo YHCT: quan sát và ghi nhận tình trạng xuất
hiện các triệu chứng của chứng trúng phong theo tứ chẩn vọng, văn, vấn, thiết. Chú
trọng quan sát lưỡi bệnh nhân theo đặc điểm YHCT bằng mắt thường và kính lúp
của Liên Xô có độ phóng đại 10 lần, thực hiện trước khi bệnh nhân ăn uống và
trước khi đánh răng, súc miệng.
- Chỉ tiêu cận lâm sàng: hình ảnh tổn thương tổ chức não, màng não, mạch não
trên phim chụp MRI, CT, CTM, sinh hóa máu, nước tiểu, siêu âm ổ bụng, ĐTĐ...


24

2.2.4. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả
2.2.4.1. Đánh giá tình trạng hôn mê, mức độ liệt theo YHHĐ
- Đánh giá tình trạng hôn mê theo thang điểm Glasgow
Bảng 2.1. Thang điểm Glasgow
Mức độ hôn mê

Biểu hiện lâm sàng

Không rối loạn ý
thức

E, V, M
E
(đáp ứng bằng
mở mắt )

Nhẹ

Phản xạ bất thường, co
cứng các chi
không mở mắt
kêu rên, không thành từ
ngữ
Hoàn toàn im lặng
Co cứng, duỗi cứng, vai
xoay trong, cánh tay úp

Rối loạn ý thức
E
nặng:
V
GCS: 6- 8 điểm
Hôn mê sâu.
GCS: 4- 5 điểm
M
Hôn mê rất sâu:
Không đáp ứng với đau
GCS: 3 điểm
Ghi kết quả
Ví dụ: CS = 9 (E2 V3 M4 ) lúc 8.08’ 13.10.2013
- Đánh giá tình trạng hôn mê theo thang điểm Henry G. và cs (1984)
Bảng 2.2. Thang điểm Henry G. và cộng sự (1984)

15
4
3
5
4

Liệt vừa
Liệt nặng
Liệt rất nặng
Liệt hoàn toàn

4 điểm
3 điểm
2 điểm
1 điểm
0 điểm

Giảm sức cơ, còn vận động chủ động
Còn nâng được chi lên khỏi giường
Còn co duỗi chỉ khi có điểm tỳ
Chỉ còn biểu hiện co cơ
Không co cơ

2.2.4.2. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả theo YHCT
- Phân loại chứng trúng phong theo Y học cổ truyền
Bảng 2.3. Phân loại chứng trúng phong [51], [55], [58], [64]
Phân loại chứng trúng phong
Trúng

Trúng lạc
Không

kinh
Trúng kinh

lạc


Triệu

Âm bế: sắc mặt trắng, mùi sản vật

chứng

bệnh lý nhạt- loãng-trắng, chân tay

giống

lạnh, mạch trầm trì.

như

Dương bế: sắc mặt đỏ, mùi sản vật

trúng

bệnh lý nặng-thối-tanh-hôi, đờm

kinh

vàng đặc dính, chân tay nóng,

kèm hôn

mạch sác.
Sắc mặt trắng bệch, vã mồ hôi như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status