VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CÔNG TRIỂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH
QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CÔNG TRIỂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH
QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI QUANG TUẤN
2.2. Thực trạng QLNN về xuất khẩu lao động ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam......................................................................................................................... 34
2.3. Lợi ích từ hoạt động XKLĐ :........................................................................... 46
2.4. Về thực hiện chính sách hỗ trợ cho người lao động.........................................48
2.5. Xây dựng chính sách hậu xuất khẩu lao động.................................................. 48
2.6. Công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động XKLĐ:.......................................... 48
2.7. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động..........................49
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN THĂNG
BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM................................................................................ 57
3.1. Bối cảnh trong nước, quốc tế tác động đến hoạt động quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động.......................................................................................................... 57
3.2. Định hướng về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động trong
thời gian đến............................................................................................................ 58
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về XKLĐ ở bàn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam................................................................................. 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................... 67
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
2.5
Cơ cấu lao động xuất k
2.6
Cơ cấu lao động xuất k
giai đoạn 2015 - 2018
2.7
Cơ cấu lao động xuất k
Bình giai đoạn 2015 -
2.8
Cơ cấu lao động xuất k
Bình giai đoạn 2015-2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thăng Bình là một huyện có dân số đông (181.610 người), số lao động trong
độ tuổi lao động trên toàn huyện là 90.124 lao động (năm 2018), trong đó số lao
động qua đào tạo 45.912 lao động, chiếm 51,71%. Cơ cấu lao động: Nông lâm thủy
sản 36.438 lao động chiếm tỉ lệ 41,04 %, Công nghiệp, xây dựng 29.761 lao động
chiếm tỉ lệ 33,52 %, Thương mại và Dịch vụ là 22.585 lao động chiếm tỉ lệ 25,44
% Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề Nông, Lâm, Ngư nghiệp; Công nghiệp - Thương
cấp độ. Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền ở một số địa phương trên địa bàn
huyện về XKLĐ chưa đầy đủ do đó việc triển khai thực hiện công tác này chưa đêm
lại kết quả như mong đợi. Năng lực quản lý của cán bộ làm công tác XKLĐ tại các
địa phương chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Việc lồng ghép các chính sách hỗ trợ việc
làm của Nhà nước để khuyến khích người lao động, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp
tham gia XKLĐ chưa được quan tâm đúng mức. Công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật còn hạn chế, dẫn đến nhận thức của một bộ phận người LĐ chưa đúng nên
tình trạng phá vỡ hợp đồng của người lao động ngày càng tăng. Theo số liệu thống
kê của Phòng LĐ-TB&XH huyện, đến nay số người lao động cư trú bất hợp pháp ở
nước ngoài là 38 người.
Trước tình hình trên đòi hỏi cần phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng
quản lý nhà nước về XKLĐ để tìm ra hạn chế, nguyên nhân của hạn chế, thế mạnh,
tiềm năng... cũng như những thách thức, từ đó tạo cơ sở khoa học cho việc đề ra các
chính sách, giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước về XKLĐ; đồng thời, điều
chỉnh quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách một cách hợp lý để công tác
XKLĐ của huyện nhà đạt kết quả cao hơn, đóng góp tích cực vào kết quả giải quyết
việc làm, giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài "Quản lý nhà nước về khẩu lao động
trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sỹ Kinh tế,
chuyện ngành Quản lý Kinh tế.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến quản lý nhà nước về XKLĐ như:
- Luận án Tiến sỹ chuyên ngành kinh tế học "Phát triển xuất khẩu lao động
2
Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" của Nguyễn Tiến Dũng (2010). Luận án
này đã nêu rõ cơ sở lý luận về XKLĐ và phân tích những tác động của XKLĐ đến
nước thực hiện công tác XKLĐ; đặc biệt, báo cáo đã nêu được các định hướng điều
3
chỉnh cơ chế, chính sách XKLĐ đối với các huyện nghèo trong thời gian tới.
- "Đề án XKLĐ tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018-2023" của UBND tỉnh
Quảng Nam đã nêu rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, giải pháp tổ chức thực
hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong công tác XKLĐ trên địa bàn tỉnh trong
giai đoạn 2018-2023.
- Các báo cáo về XKLĐ trong các năm từ 2015 đến 2018 của các ngành chức
năng ở Bộ LĐ-TB&XH, ở tỉnh Quảng Nam, huyện Thăng Bình đã khái quát một số
nội dung về tình hình triển khai thực hiện công tác XKLĐ trong các năm qua; các
hạn chế, tồn tại và giải pháp thực hiện nhiệm vụ trong thời gian đến.
Nhìn chung các công trình công bố đã nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau của XKLĐ ở Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng. Chưa có nghiên
cứu sâu vào quản lý nhà nước về XKLĐ trên địa bàn ở các huyện thuộc tỉnh. Đây là
lý do mà đề tài luận văn sẽ nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về XKLĐ ở huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam thời gian qua, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện
quản lý nhà nước về XKLĐ ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam thời gian tới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn của QLNN về
XKLĐ.
- Phân tích và làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về XKLĐ, chỉ ra những hạn
- Chọn điểm nghiên cứu có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc nghiên
cứu. Để có được những đánh giá đúng về thực trạng quản lý XKLĐ trên địa bàn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tác giả xem xét các yếu tố: Tổng số dân số, lực
lượng lao động, lực lượng lao động đang tham gia hoạt động kinh tế, số người có
việc làm, số người thất nghiệp, số người tham gia XKLĐ tại các các nước, số người
đã về nước...
- Về đối tượng điều tra, nghiên cứu: tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp tại
Phòng LĐ-TB&XH huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; 22 UBND xã, thị trấn
- Về chọn mẫu: Chọn cơ quan quản lý XKLĐ ở cấp huyện là Phòng
LĐTB&XH và chọn một số địa phương xã, thị trấn để khảo sát, nghiên cứu.
6.2. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu đã công bố
5
Việc thu thập các tài liệu, số liệu đã công bố, với các nội dung thu thập cùng
nguồn gốc số liệu, tất cả được trình bày ở bảng sau:
bố
trấn
- Thu thập số liệu mới
Các số liệu mới được thu thập qua quá trình điều tra trực tiếp các đối tượng được chọn
trong nghiên cứu với mục tiêu thu thập các thông tin có liên quan đến quan điểm,
nhận thức của mọi người về hoạt động XKLĐ hiện nay. Các số liệu mới được thu thập
động trên địa bàn huyện;
- Các tiêu chí về công tác quản lý XKLĐ như: Số lượng lao động, chất lượng
lao động, số lao động được đào tạo nghề sau khi đi XKLĐ…
- Các thị trường lao động của huyện tham gia XKLĐ;
- Công tác tuyển chọn lao động của doanh nghiệp XKLĐ trên địa bàn gồm:
đối tượng, giới tính, độ tuổi, ngành nghề…
- Tỷ trọng XKLĐ trên tổng số lao động thất nghiệp;
- Tỷ trọng lao động xuất khẩu đã được đào tạo nghề trong tổng số lao động
xuất khẩu: số lao động được đào tạo nghề sau khi đi XKLĐ, số lao động có việc làm
sau khi về nước…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
xuất khẩu lao động ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng nam
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm, hình thức của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
1.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nước:
nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với các đặc
điểm sau đây:
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước.
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể
có quyền năng hành pháp.
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt
chẽ.
- Hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và điều hành.
1.1.2. Khái niệm của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động:
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm đưa ra để giải thích về QLNN về XKLĐ.
Dưới đây là hai quan điểm được sử dụng phổ biến nhất, đó là:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động là sự tác động có tổ
chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên các hoạt động xuất khẩu lao động nhằm
đạt mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định xã hội, tăng
cường quan hệ hợp tác quốc tế.
Và cách hiểu khác, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động là
sự tác động của nhà nước thông qua bộ máy tổ chức của mình dựa trên các chính
sách để điều chỉnh các công tác tuyển dụng, đào tạo, giáo dục, định hướng, quan hệ
lao động, thanh lý hợp đồng trong hoạt động xuất khẩu lao động nhằm nâng cao
hiệu quả của hoạt động này.
Tìm hiểu sâu hơn về QLNN đối với hoạt động XKLĐ có thể thấy rằng: là hệ
quản lý gồm chủ thể quản lý và đối tượng chịu quản lý. Chủ thể quản lý là cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ở địa phương. Hiện nay, là các cơ quan ngành dọc cấp dưới
của Bộ LĐ-TB&XH. Ngoài ra, còn có các cơ quan phối hợp quản lý trong các lĩnh
vực đào tạo, tuyển dụng, cho vay vốn, các thủ tục xuất nhập cảnh… Đối tượng của
hoạt động quản lý là doanh nghiệp XKLĐ và lao động tham gia hoạt động xuất
khẩu. Các chủ thể quản lý sẽ sử dụng các công cụ quản lý như: các chính sách, chế
Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế về hoạt động xuất khẩu lao động thì hiện
nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩu
lao động đều do các tổ chức xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký;
đồng thời, các tổ chức xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả
kinh tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình. Như vậy, các hiệp định,
10
các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính chất nguyên tắc,
thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô.
Quản lý nhà nước về XKLĐ diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt. Tính gay gắt trong cạnh tranh xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu.
Một là, QLNN về xuất khẩu lao động mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các
nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy đã buộc các nước xuất khẩu
lao động phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước.
Hai là, QLNN về XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong
khu vực. Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như: Hàn Quốc,
Nhật Bản, Thái Lan… cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia
tăng. Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động và chuyên gia nước
ngoài trong thời gian tới.
Như vậy, yêu cầu đặt ra trước mắt là các chính sách và pháp luật của Nhà
nước cần phải lường trước được tính chất cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu
lao động để có chương trình đào tạo có chất lượng cao để xuất khẩu.
Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong
quan hệ xuất khẩu lao động. Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, lợi ích kinh tế của
Nhà nước là khoản ngoại tệ mà người lao động gửi về các khoản thuế, lợi ích của
các tổ chức xuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải
quyết việc làm ngoài nước, còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường
là cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước. Do vậy, các chế độ chính sách của
thân qua các hoạt động sản xuất. Hoạt động XKLĐ tạo việc làm và thu nhập cho
những NLĐ làm việc trong hệ thống dịch vụ XKLĐ. Các doanh nghiệp XKLĐ thu
phí dịch vụ hàng tháng, Nhà nước thu thuế từ các hoạt động này.
c. Góp phần xoá đói, giảm nghèo: phần lớn lao động trực tiếp đi làm việc ở
nước ngoài hiện nay từ khu vực nông thôn và từ các địa bàn tỉnh/huyện/xã nghèo.
Thông qua số người lao động XKLĐ ở các hộ nghèo hoặc số hộ nghèo thoát nghèo
nhờ có người đi làm việc ở nước ngoài sẽ thấy rõ hơn điều đó.
d. Nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật: khi tham gia XKLĐ,
NLĐ sẽ học hỏi được ở nước ngoài về phong cách làm việc, kỹ năng, kinh nghiệm
thực tế và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật.
e. Mở rộng quan hệ hợp tác: quản lý hoạt động XKLĐ hiệu quả sẽ giúp quan
hệ giữa nước cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn,
12
hiểu nhau hơn và tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Sự đa dạng hoá các quan
hệ hợp tác quốc tế được mở rộng thông qua hoạt động XKLĐ.
1.1.3.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao
động * Xu thế hội nhập KTQT tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động:
Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu và khu
vực. Mỗi một biến động tích cực hoặc tiêu cực của kinh tế khu vực và thế giới đều
có những tác động nhiều mặt đến kinh tế Việt Nam.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước có chủ trương chủ động hội nhập
KTQT, tranh thủ mọi thời cơ phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và
định hướng XHCN. Đây là sự đổi mới về tư duy và nhận thức của Đảng và Nhà
nước ta trước tình hình biến đổi của thế giới; với phương châm hành động trong
hoạt động đối ngoại: Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế.
trường lao động đang làm cho nhiều nước được hưởng lợi. Các nước đông dân và
các nước đang phát triển giải quyết được vấn đề việc làm, cải thiện thu nhập của
người dân. Đặc biệt đối với Việt Nam là nước kinh tế đang phát triển, có số dân
đông, tỷ lệ người trẻ chiếm phần lớn... Tuy nhiên, Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu hướng tỷ lệ sinh giảm nhanh chóng, trong khi thế hệ dân số trẻ hiện nay đã tham
gia vào thị trường lao động trong giai đoạn 2011-2020, lực lượng lao động tiềm
năng sẽ giảm đi đáng kể. Điều này cũng cần lưu ý khi chúng ta xây dựng một chiến
lược phát triển xuất khẩu lao động, thay vì tăng nhanh về số lượng lao động xuất
khẩu mà cần nâng cao chất lượng lao động có tay nghề, trình độ cao và lao động
trong lĩnh vực dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của các nước tiếp nhận lao động.
* Hiệu quả kinh tế - xã hội trong hoạt động xuất khẩu lao động:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hoá - đó là
loại hàng hoá đặc biệt, thì hoạt động xuất khẩu lao động được thực hiện chủ yếu
trên cơ sở quan hệ cung cầu sức lao động. Nó chịu sự tác động, sự điều tiết của các
quy luật kinh tế thị trường. Bên “cầu lao động” phải tính toán kỹ hiệu quả kinh tế
của việc sử dụng lao động. Vì vậy, “cầu lao động” xác định chặt chẽ số lượng,
chủng loại lao động hợp lý với chất lượng lao động cao. Do vậy, muốn cho hàng
hoá đặc biệt của mình chiếm được ưu thế trên thị trường lao động thì bên cung lao
động cũng phải có sự chuẩn bị và đầu tư để loại hàng hoá đặc biệt này được thị
trường chấp nhận, phải đáp ứng về số lượng và chất lượng cao. Chất lượng lao động
càng cao, càng đem lại hiệu quả kinh tế lớn và càng được thị trường ngoài nước
chấp nhận.
14
Hiện nay, Lao động Việt Nam đã có mặt ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ,
nhưng thực tế tập trung chủ yếu tại 4 thị trường chính là Malaysia, Đài Loan, Hàn
Quốc và Nhật Bản.
* Cơ chế, chính sách chưa phù hợp với xu thế mới:
Trong giai đoạn hiện nay, công tác đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài được thực hiện theo cơ chế của thị trường với các hình thức tổ chức ngày
càng đa dạng. Theo quy định tại Điều 6, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 72/2006/QH11), người LĐ có thể đi làm việc
ở nước ngoài theo 4 hình thức:
* Thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Người LĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức này sẽ có cơ quan tổ chức
đưa đi. Thứ nhất là các doanh nghiệp dịch vụ đưa người LĐ đi làm việc ở nước
ngoài, thứ hai là tổ chức sự nghiệp.
* Thông qua doanh nghiệp trúng thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước
ngoài
Đây là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Việt Nam, trúng thầu, nhận
thầu ở nước ngoài, đưa người LĐ của doanh nghiệp mình đi làm việc ở các công
trình trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài hoặc là các tổ chức, cá nhân của Việt Nam
đầu tư ra nước ngoài, đưa người LĐ Việt Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh
doanh do tổ chức, cá nhân này đầu tư thành lập ở nước ngoài.
* Thông qua doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình
thức thực tập nâng cao tay nghề.
Hình thức này xuất hiện tượng đối nhiều trong những năm qua tại các doanh
nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
* Người lao động tự đi theo hình thức hợp đồng cá nhân
Người LĐ chủ yếu đi thông qua các mối quan hệ họ hàng giới thiệu, được
bảo lãnh, hoặc chủ sử dụng LĐ cũ tuyển dụng lại lần thứ hai, nhiều nhất là ở thị
trường Đài Loan.
các quá trình phát triển của xã hội, vào nhận thức của con người, buộc con người
phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và các mục tiêu nhất định.
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để
điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân…, giữ gìn trật tự xã hội và
phát triển xã hội theo mục tiêu đã định.
Nhà nước tổ chức thực hiện các nội dung QLNN. Hoạt động của các cơ quan
QLNN ở tầm vĩ mô theo một chu trình liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại
17
giữa các khâu như: nhận tin - xử lý tin - nghiên cứu - đề ra giải pháp - kiểm tra. Nội
dung QLNN đối với hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm các chức năng sau:
1.2.2.1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch hoạt
động xuất khẩu lao động
Nghiên cứu nguồn cung LĐ trong nước và nhu cầu tiếp nhận lao động của các
nước để xác định chiến lược, định hướng kế hoạch phát triển hoạt động XKLĐ nói
chung và cho từng khu vực, từng nước nói riêng. Chương trình, kế hoạch về hoạt
động XKLĐ là một bộ phận của chiến lược ổn định và phát triển KT-XH, do đó hệ
thống chính sách, chương trình kế hoạch hoạt động XKLĐ phù hợp với chính sách
đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và chính sách đào tạo... Hiện nay, Bộ LĐ-TB&XH
đang nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển hoạt động xuất khẩu lao động phù
hợp với tiến trình hội nhập KTQT, cũng như phù hợp với đặc điểm lao động Việt
Nam. Chiến lược này sẽ được trình Chính phủ, Quốc hội trong năm tới gắn với
chiến lược phát triển KTXH chung.
1.2.2.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xuất khẩu lao
động Nghiên cứu và ban hành hệ thống văn bản qui phạm pháp luật để quản lý, điều
hành thống nhất hoạt động XKLĐ, được thực hiện QLNN bằng pháp luật như: Bộ
Luật Lao động, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp đồng... tổ
chức chỉ đạo, điều hành hệ thống pháp luật đó.