VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẬU QUANG DŨNG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
THAM NHŨNG TRONG HOẠT ÐỘNG TƢ PHÁP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẬU QUANG DŨNG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
THAM NHŨNG TRONG HOẠT ÐỘNG TƢ PHÁP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 9.38.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. ĐƢỜNG MINH GIỚI
động tư pháp .................................................................................................... 50
Chƣơng 3: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG
HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP VÀ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƢ
PHÁP Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA................................................ 75
3.1. Tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam
những năm qua ................................................................................................ 75
3.2. Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt
động tư pháp ở Việt Nam những năm qua ...................................................... 89
3.3. Nhận xét, đánh giá.................................................................................. 108
Chương 4: DỰ BÁO, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM
NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY . 123
4.1. Dự báo .................................................................................................... 123
4.2. Quan điểm phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt
động tư pháp thời gian tới ............................................................................. 131
4.3. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng
trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay .............................................. 134
KẾT LUẬN .................................................................................................. 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.................................................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 152
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CAND
VKSND
Viện Kiểm sát nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng và tội phạm tham nhũng (TPTN) đã phát sinh, phát triển
từ rất lâu đời. Ở các hình thái kinh tế - xã hội và các kiểu nhà nước khác nhau
mà nhân loại đã trải qua đều tồn tại vấn đề tham nhũng và TPTN. Trong quá
trình phát triển đất nước và thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đặc biệt quan tâm
tiến hành công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN). Điều đó một phần xuất
phát từ thực tiễn diễn biến và phát triển hoạt động của loại tội phạm này ngày
càng phức tạp, đã và đang gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, ảnh
hưởng tiêu cực đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta.
Trong các TPTN nói chung, TPTN xảy ra trong hoạt động tư pháp
(HĐTP) có những đặc điểm, đặc trưng riêng so với TPTN xảy ra trên các lĩnh
vực khác. Những năm qua, cùng với xu hướng phức tạp, gia tăng của các loại tội
phạm và vi phạm pháp luật ở nước ta, tình hình TPTN trong HĐTP cũng đã và
đang diễn biến rất phức tạp, có xu hướng gia tăng cả về tính chất, mức độ. Theo
thống kê của Cục Điều tra - Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao, từ năm
2008 đến hết năm 2018, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện, khởi tố và
điều tra tổng cộng 196 vụ, 211 bị can phạm tội tham nhũng trong HĐTP. Thực tế
cho thấy, hậu quả tác hại mà tình hình TPTN trong HĐTP gây ra cho xã hội là
hết sức nghiêm trọng, không chỉ ở góc độ kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự
nghiêm minh của pháp luật; sự vô tư, công bằng, khách quan của quá trình giải
quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
Thực tiễn diễn biến và hậu quả, tác hại mà tình hình TPTN trong HĐTP
ở nước ta gây ra cho xã hội những năm qua cho thấy, nếu để hoạt động của
một số hạn chế, thiếu sót nhất định như: Cơ sở pháp lý phục vụ triển khai
công tác PCTN nói chung và phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP nói
riêng tuy đã được các cơ quan chức năng xây dựng, ban hành và triển khai
thực hiện nhưng chưa đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa có các quy
định riêng mang tính hệ thống về phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP;
số lượng vụ án tham nhũng trong HĐTP được phát hiện, điều tra, xử lý thời
gian qua chưa cao, chưa tương xứng với thực tiễn diễn biến của loại tội phạm
2
này; nhìn chung TPTN trong HĐTP vẫn có độ ẩn cao so với các loại tội phạm
khác; công tác tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa tình hình TPTN trong
HĐTP chưa được tiến hành thường xuyên và trên diện rộng, vẫn chủ yếu tập
trung vào các đối tượng là cán bộ, công chức trong các cơ quan thực thi pháp
luật, nhất là trong các cơ quan tư pháp và ở cấp Trung ương, chưa chú trọng
tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP cho các đối
tượng khác và đến cấp cơ sở, đặc biệt là các tổ chức, đoàn thể và quần chúng
nhân dân; hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP chưa huy động
được sự tham gia đông đảo của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đoàn thể
và quần chúng nhân dân, do đó chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên
trách PCTN ở Trung ương và của cơ quan Công an, VKSND, TAND, Cơ
quan thi hành án tuy có cải thiện hơn so với những năm trước đây nhưng nhìn
chung hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với thực tiễn tình hình; công tác
điều tra, xử lý TPTN trong HĐTP đôi khi còn chưa triệt để và nghiêm minh, vẫn
còn xảy ra tình trạng nể nang của một số cán bộ có thẩm quyền nên hiệu quả
trong giáo dục, răn đe với các đối tượng khác còn hạn chế; quan hệ phối hợp
giữa các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đoàn thể quần chúng nói chung và
giữa các cơ quan chuyên trách PCTN trong HĐTP với các cơ quan khác chưa
+ Tiến hành khảo sát, đánh giá tình hình TPTN trong HĐTP và thực
trạng hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP ở Việt Nam những
năm qua; phân tích làm rõ những kết quả đạt được trong phòng ngừa tình hình
TPTN trong HĐTP và những hạn chế, thiếu sót cũng như những nguyên nhân
của các hạn chế, thiếu sót đó.
+ Dự báo tình hình TPTN trong HĐTP và các yếu tố tác động đến hoạt
động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP, đồng thời đưa ra các giải
pháp cụ thể nhằm góp phần tăng cường hoạt động phòng ngừa tình hình
TPTN trong HĐTP ở Việt Nam thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn
của hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP ở Việt Nam.
4
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu tình hình TPTN trong HĐTP (hoạt động tố
tụng và thi hành án) khi giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh
tế, lao động.
+ Về chủ thể: Cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, các CQTP; các cơ
quan, ban, ngành, đoàn thể khác có liên quan và quần chúng nhân dân.
+ Về địa bàn nghiên cứu: Trên phạm vi cả nước.
+ Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 (thời điểm ban hành Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật PCTN) đến hết năm 2018.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp luận:
Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
- Phương pháp thống kê, so sánh: Nghiên cứu sinh tiến hành thống kê
kết quả hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP ở nước ta những
năm qua, gồm có: Thống kê về tình hình TPTN trong HĐTP; các chương
trình, kế hoạch, biện pháp phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP đã được
triển khai thực hiện từ năm 2008 đến hết năm 2018. Từ đó, nghiên cứu sinh
đối chiếu, so sánh mức độ phức tạp của tình hình TPTN trong HĐTP để góp
phần làm rõ tình hình TPTN trong HĐTP ở nước ta trong từng giai đoạn.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Trong quá trình thực hiện luận án
của mình, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu và phân tích chuyên sâu một
số vụ án điển hình đã khám phá về TPTN trong HĐTP xảy ra trong thực tế tại
các cơ quan, đơn vị, địa phương do Cơ quan Điều tra - VKSND tối cao thụ lý
từ năm 2008 đến hết năm 2018, qua đó nghiên cứu về đặc điểm, phương thức,
thủ đoạn, nguyên nhân phát sinh, phát triển của loại tội phạm này.
+ Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu sinh đã gặp gỡ, trao đổi và
tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, nhà khoa học có các công trình
nghiên cứu về nội dung liên quan đến luận án nói chung, đồng thời tham khảo
ý kiến của một số cán bộ thực tiễn công tác tại TAND tối cao, VKSND tối
cao và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an, đây là những người trực tiếp
và có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa,
6
đấu tranh với TPTN nói chung và phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP
nói riêng. Qua trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học,
cán bộ thực tiễn về các nội dung liên quan đến luận án giúp nghiên cứu sinh
hiểu rõ hơn và có cơ sở vững chắc trong phân tích, nhận định và khái quát các
vấn đề cần tập trung nghiên cứu trong luận án.
+ Phương pháp hội thảo khoa học: Các chuyên đề của luận án và bản
thảo luận án được nghiên cứu sinh bổ sung, chỉnh lý và hoàn thiện trên cơ sở
động của TPTN trong HĐTP ở Việt Nam những năm qua.
- Trên cơ sở thực tiễn tình hình TPTN trong HĐTP những năm qua và
các yếu tố tác động ảnh hưởng, xu hướng hoạt động của loại tội phạm này,
Luận án đã đưa ra được những dự báo khoa học về tình hình TPTN trong
HĐTP và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến hoạt động phòng ngừa tình
hình TPTN trong HĐTP ở nước ta thời gian tới. Bên cạnh đó, luận án đã đưa
ra hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót và góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP ở
nước ta thời gian tới. Những giải pháp mà luận án đưa ra có cơ sở khoa học,
dựa trên thực tiễn tình hình TPTN trong HĐTP cũng như thực trạng hoạt động
phòng ngừa tình hình loại tội phạm này ở Việt Nam những năm qua, chính vì
vậy có thể được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu ứng dụng vào thực
tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm nảy sinh trong lĩnh vực HĐTP nói chung
và TPTN trong HĐTP nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận:
Qua quá trình nghiên cứu chuyên sâu đề tài luận án và những kết luận
khoa học được rút ra, nhất là một số vấn đề lý luận về hoạt động phòng ngừa
tình hình TPTN trong HĐTP đã bổ sung những lý luận cần thiết về phòng
ngừa TPTN nói chung, qua đó góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận của
chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận án, đặc biệt là một số giải pháp trọng tâm
mà nghiên cứu sinh đưa ra trong đó có các giải pháp mang tính đặc thù
chuyên ngành có thể làm cơ sở để các cấp có thẩm quyền, nhất là các cơ quan
8
có thẩm quyền tham gia vào HĐTP tham khảo, góp phần hoạch định những
bản chất, từ đó định hướng các giải pháp góp phần phòng, chống TPTN nói
chung và phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP nói riêng, đến nay trên thế
giới đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, chuyên gia, của cơ quan
chức năng các nước về TPTN và hoạt động phòng, chống TPTN nói chung
được công bố. Theo đó, trong quá trình thực hiện luận án của mình, nghiên
cứu sinh đã tìm hiểu, thu thập, nghiên cứu và tham khảo một số công trình
khoa học tiêu biểu đã được công bố ở nước ngoài sau đây:
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu một số vấn đề lý luận về phòng,
chống tội phạm tham nhũng nói chung và phòng, chống tội phạm tham
nhũng trong hoạt động tư pháp nói riêng
- Giáo trình "Tội phạm học" dành cho các trường đại học
(Криминология. Учебник для вузов) của tác giả Malkov V.D. - Giáo sư,
Tiến sĩ khoa học Luật, Nhà hoạt động khoa học Công huân Liên bang Nga,
Nhà xuất bản Luật học (Юриспруденция), Moskva, 2006, dung lượng 528
trang, mã số xuất bản: ISBN 5-7205-0698-5 [88].
Giáo trình nêu trên của tác giả Malkov V.D. được cấu trúc thành hai
phần: Phần chung và Phần riêng, gồm 24 chương. Tác giả đã dành riêng
chương 16 để tập trung nghiên cứu, phân tích về tình hình hoạt động của tội
phạm có chức vụ và tham nhũng cũng như hoạt động phòng ngừa loại tội
phạm này. Trong đó, các nội dung cụ thể được tác giả tập trung nghiên cứu,
phân tích như: Khái niệm và đặc điểm tội phạm học của tội phạm có chức vụ;
các đặc điểm tội phạm học của TPTN và tình hình hoạt động của TPTN; các
yếu tố quyết định của tình hình tội phạm có chức vụ và TPTN; các biện pháp
phòng ngừa tội phạm có chức vụ và TPTN. Có thể thấy, TPTN trong HĐTP là
10
một trong những loại tội phạm về chức vụ nên nghiên cứu công trình này có ý
nghĩa quan trọng giúp định hướng cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực
hiện luận án của mình, nhất là trong việc phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của
TPTN (theo hai nhóm: Giải pháp chung và giải pháp nghiệp vụ).
- Sách tham khảo “Tìm hiểu về những vi phạm trong hoạt động tư
pháp: Pháp luật, truyền thông và những khủng hoảng không thể tránh khỏi”
(Understanding Miscarriages of Justice: Law, the Media and the Inevitability
of a Crisis) của Richard Nobles và David Schiff, DOI: 10.1093 / acprof: oso /
9780198298939.003.0001 [90].
Khi phân tích các nội dung trong cuốn sách nêu trên, Richard Nobles
và David Schiff đã chỉ ra một nghịch lý: Trong một xã hội mà trong đó hệ
thống tư pháp không ổn định và có nhiều tranh luận thì không thể đặt vấn đề
về những vi phạm trong HĐTP. Các tác giả đã khảo sát những điều kiện của
hệ thống mà trong đó sẽ tạo ra nguy cơ lớn cho những vi phạm trong HĐTP.
Luận điểm cuốn sách đưa ra có sự không tương thích giữa cách hiểu về hệ
thống tư pháp qua truyền thông với thực tiễn của hoạt động pháp lý. Mặc dù
có rất nhiều luận điểm cho rằng những sai phạm trong HĐTP là bình thường
và là hệ quả có thể dự đoán của thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,
cách hiểu đại chúng thông thường nhìn nhận đây là một vấn đề không thể
chấp nhận được. Thường thì những vi phạm tư pháp được xem là những
trường hợp ngoại lệ nhưng phổ biến. Trong những trường hợp đó, tính hợp
pháp của quá trình tố tụng hình sự được đặt dấu hỏi trên các phương tiện
truyền thông. Những thời điểm như vậy thường được truyền thông mô tả như
một sự khủng hoảng của cả hệ thống tư pháp hình sự. Điều này xảy ra trong
tất cả các giai đoạn của một quá trình tố tụng hình sự và sẽ trở nên đặc biệt
kịch tính khi giới truyền thông điều tra sâu các vụ án đã được xét xử và từ đó
tìm ra những oan sai. Tuy vậy, không có một tiêu chí chung để có thể bác bỏ
những bất đồng giữa hệ thống tư pháp và giới truyền thông. Không có một
diễn đàn, không quy chế và không có một hệ tiêu chí nào làm cơ sở cho việc
xác lập sự thật của các vụ việc.
- Bài báo khoa học “Những vi phạm trong hoạt động tư pháp và vấn đề
vô tội: Các quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các nhà
thiết phải thiết lập một Ủy ban Quốc gia về kiểm soát các vụ án hình sự
(CCRC) tại Úc và Anh. Tác giả rút ra những bài học từ hơn 30 năm kinh
13
nghiệm hoạt động trong lĩnh vực thực thi pháp luật tại Úc trong quá trình xử
lý các vụ án giết người xảy ra ở Tasmania.
- Bài báo khoa học “Khoa học nghiên cứu về những vi phạm trong hoạt
động tư pháp” (The „Science‟ of Miscarriages of Justice), trên Tạp chí Luật
UNSW số 37 (1), trang. 376-406 [86].
Có rất nhiều các vụ oan sai xảy ra do các chứng cứ vật chất bị đánh giá
sai, hoặc do các giả thuyết điều tra lạc hướng, đồng thời có rất nhiều các hoạt
động tố tụng được thực hiện không đúng dẫn đến vi phạm các quy định của
HĐTP, nguyên nhân do các kết luận giám định kỹ thuật hình sự cũng như các
chứng cứ vật chất không được coi trọng và dựa vào. Vì rất nhiều lý do khác
nhau mà các chứng cứ quan trọng không được nhận diện và thu thập. Những
người có trách nhiệm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm đảm bảo
tính chính xác, khách quan của hoạt động điều tra lại thường không biết đến
những hạn chế của các phương pháp không chính thống. Bài viết này đưa ra
một số lý giải vì sao các chứng cứ yếu và không đáng tin cậy lại vẫn được sử
dụng trong hoạt động tố tụng hình sự và những giải pháp để hạn chế tình
trạng này, từ đó hạn chế những vi phạm trong hoạt động tố tụng. Một trong
những giải pháp mà bài viết này đề cập đến là đưa ra một quy trình chuẩn đối
với quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ hình sự.
Bài viết được thực hiện thông qua nghiên cứu các vụ án vi phạm HĐTP
đã xảy ra, thông qua việc trao đổi kinh nghiệm của các cơ quan giám đốc
thẩm các vụ án hình sự, nạn nhân của các vụ án oan sai cũng như các chuyên
gia kỹ thuật hình sự trong nhiều thập niên. Nội dung các báo cáo đã chỉ ra
rằng thách thức lớn nhất đối với các quy định luật pháp là quá dựa vào các
Số phát hành 2, p311-338. 28 giờ [89].
Các học thuyết kinh tế và ngăn chặn tội phạm dự đoán việc kết án oan
sai cũng gây thiệt hại tương tự như việc trả tự do cho một kẻ có tội. Trong bài
viết này, nhóm tác giả đã xác nhận kết quả về mặt lý thuyết, qua đó cho thấy
sự xuất hiện của các biến rủi ro, thiệt hại có tác động lớn đối với hiệu quả của
hoạt động ngăn ngừa tội phạm hơn các rủi ro loại 2. Nhóm tác giả đã kiểm
nghiệm các giả thuyết với hai nghiên cứu thực nghiệm, trong đó những người
được tiến hành khảo sát sẽ lựa chọn việc lấy trộm đồ của người khác dựa trên
15
điều kiện là những thiếu sót của hệ thống tư pháp. Kết quả kiểm nghiệm cho
thấy cả hai loại lỗi đều có tác động đáng kể đến hiệu quả ngăn chặn tội phạm.
Sự bất đối xứng này được giải thích hoàn toàn bởi sự khác biệt về những lợi
ích có được do hoạt động tội phạm, trong khi các yếu tố tiện ích khác không
có vai trò đáng kể.
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu về thực trạng tội phạm tham
nhũng và hoạt động phòng, chống tội phạm tham nhũng do cơ quan chức
năng các nước tiến hành
- Luận án tiến sĩ “Tội phạm tham nhũng trong hệ thống công chức nhà
nước ở Nga và ở Đức và hoạt động phòng ngừa” (Коррупция в системе
государственной службы России и Германии и ее предупреждение) của
tác giả Khlonova Natalia Valerievana, năm bảo vệ 2011, nơi bảo vệ Đại học
tổng hợp quốc gia Sibiri, thành phố Vladivostok, mã ngành 12.00.08 - Luật
hình sự và Tội phạm học, Luật thi hành án hình sự, người hướng dẫn khoa
học Giáo sư, Tiến sĩ khoa học luật Shedrin N.V [87].
Cấu trúc luận án gồm 02 chương và 07 tiết; ngoài phần mở đầu, kết
luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, dung lượng 254 trang. Mục
đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu tổng hợp dưới góc độ pháp luật so
trên địa bàn vùng Krasnodar” (Коррупционные преступления и меры их
предупреждения :На материалах Краснодарского края) của tác giả
Savenko Irina Alekseevna, năm bảo vệ 2006, nơi bảo vệ Đại học Tổng hợp
Sankt-Peterburg Bộ Nội vụ Liên bang Nga, thành phố Sankt - Peterburg, mã
ngành 12.00.08 - Luật hình sự và Tội phạm học, Luật thi hành án hình sự,
người hướng dẫn khoa học Luật sư Công huân Liên bang Nga, Giáo sư, Tiến
sĩ khoa học luật Rivman D.V [92].
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án được cấu trúc thành 03 chương và 10 tiết, với 231 trang. Mục đích
nghiên cứu của luận án là đưa ra các đề xuất và khuyến nghị có cơ sở khoa
học nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự phát triển (phổ biến) của TPTN và các tội
phạm mang tính tham nhũng, tìm kiếm những biện pháp mới và hoàn thiện
những biện pháp đang có nhằm phòng ngừa TPTN một cách hiệu quả nhất.
17
Luận án đề ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Một là, nghiên cứu TPTN và các tội phạm mang tính tham nhũng
dưới góc độ tội phạm học.
- Hai là, làm rõ, dưới góc độ nạn nhân học TPTN, bản chất khái niệm
“nạn nhân của hành vi phạm tội tham nhũng”.
- Ba là, tiến hành phân loại nhân thân đối tượng phạm tội tham nhũng
và từ đó xây dựng chân dung khái quát nhất về đối tượng này.
- Bốn là, tiến hành phân tích làm rõ các nhân tố quyết định đến nạn
tham nhũng trong các cơ quan nội vụ (ở Việt Nam là cơ quan Công an) và hệ
thống tư pháp.
- Năm là, nghiên cứu các đặc điểm tội phạm học quan trọng của TPTN
và quy luật biểu hiện của loại tội phạm này ở Nga qua các giai đoạn khác
nhau của lịch sử đất nước.
1.1.3. Một số công trình nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp góp
phần phòng, chống tham nhũng nói chung và phòng ngừa tội phạm tham
nhũng trong hoạt động tư pháp nói riêng
- Sách tham khảo “Kiểm soát nhằm hạn chế những vi phạm hoạt động
tư pháp: từ quá trình nạn nhân hoá đến tái hòa nhập” (Managing
Miscarriages Of Justice From Victimization To Reintegration) của Brian
Forst [83].
Quy tắc Blackstone được coi là một quy tắc kỳ quặc: “Thà để mười kẻ
phạm tội trốn thoát còn hơn là để một người bị oan”. Số lượng ví dụ ở đây
muốn nhấn mạnh sự thận trọng và chính xác trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử cũng như sự cần thiết phải tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội, tuy
vậy thì nguyên tắc này vẫn được coi là tương đối mơ hồ. Có một sự không rõ
ràng đối với việc có nên áp dụng nguyên tắc này tương tự đối với tất cả các
loại tội phạm và người phạm tội, trong khi nguyên tắc này bỏ qua chủ thể là
cảnh sát, kiểm sát viên, thẩm phán hay các nhân viên tư pháp khác. Vấn đề
cũng được đặt ra là liệu có nhiều hơn mười người phạm tội bỏ trốn thì có chấp
nhận được không. Bài luận này hướng tới việc phân định rõ những vấn đề nói
trên thông qua việc xác định nguồn gốc chủ yếu của những vi phạm trong
HĐTP, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát một cách có hiệu quả
19