MỤC LỤC
Phần I - Những vấn đề chung về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh Trung học
I. Quan niệm về kĩ năng sống (KNS)
II. Các loại KNS
III. Ý nghĩa của việc giáo dục KNS cho học sinh Trung học
IV. Phương pháp giáo dục KNS
Phần II: Hướng dẫn giáo dục KNS cho học sinh Trung học
Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng tự nhận thức
Kĩ năng xác định giá trị
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
Kĩ năng kiên định
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn
Kĩ năng từ chối
Kĩ năng tự bảo vệ
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng
Kĩ năng hợp tác
Kĩ năng đặt mục tiêu
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
1
Phần I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC
KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
I. Quan niệm về kĩ năng sống
Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS:
* Theo nghĩa rộng: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các
chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày ( Tổ chức văn hoá, khoa
học và giáo dục Liên hợp quốc - UNESCO). Theo quan niệm này, KNS là
- Vệ sinh, sức khoẻ, dinh dưỡng
- Giới, giới tính, sức khoẻ sinh sản
- Phòng tránh HIV/AIDS
- Phòng chống rượu, thuốc lá, ma tuý
- Sống an toàn
- Giáo dục đạo đức, giáo dục công dân
- Văn hoá hoà bình
- Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
3
- ......
* Trong giáo dục chính quy ở nước ta hiện nay, KNS thường được
phân loại theo theo các mối quan hệ nhằm giúp người học có khả năng
ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình. Đó là:
1. Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm có các kĩ năng:
- Tự nhận thức
Mỗi người cần nhận biết và hiểu rõ bản thân, bao gồm tiềm năng, tình cảm,
mặt mạnh, mặt yếu của mình. Khi con người nhận thức rõ khả năng của
mình, thì họ sẽ có khả năng sử dụng các KNS khác một cách hiệu quả, do
đó họ có thể lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện hiện có, với bản
thân, với xã hội và với khả năng của bản thân.
- Tự trọng
Tự trọng là hệ quả của việc tự nhận thức đầy đủ năng lực tiềm tàng
và vị trí của bản thân trong cộng đồng. Điều này thể hiện qua việc cá nhân
hiểu rõ mặt mạnh, mặt yếu và giá trị của bản thân đồng thời kiên định giữ
gìn những giá trị có ý nghĩa đối với mình trong các tình huống phải lựa chọn
giá trị.
- Xác định giá trị
Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người xác định được những
gì mình cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân, có tác dụng định
hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống.
quá mức và không giải toả nổi sẽ huỷ diệt cuộc sống cá nhân. Do đó, cũng
như với xúc cảm, con người cần phải có khả năng nhận biết sự căng thẳng,
nguyên nhân và hậu quả đồng thời phải biết cách khắc phục chúng.
- Đặt mục tiêu
Mục tiêu là những điều chúng ta muốn thực hiện, đạt tới. Tuy nhiên,
nói về một mục tiêu thì dễ hơn nhiều so với thực hiện được mục tiêu.
Một mục tiêu có tính khả thi phải bảo đảm các tiêu chí sau:
+ Cụ thể, chỉ rõ điều chúng ta muốn thực hiện.
+ Có thể đo, đếm được.
+ Thực tế và có thể đạt được
+ Phù hợp với điều kiện thực tế
+ Có thời hạn
+ Có định hướng hành động
2. Những kĩ năng nhận biết và sống với người khác
- Giao tiếp có hiệu quả
Một trong những KNS quan trọng nhất là có khả năng giao tiếp một
cách có hiệu quả với mọi người. Giao tiếp có hiệu quả liên quan tới một số
yếu tố:
- Yếu tố thứ nhất là khả năng truyền đạt cảm xúc. Đó là khả năng diễn
tả cảm xúc của của bản thân về một sự vật, hiện tượng nào đó hoặc về ai đó.
6
- Yếu tố thứ hai là chấp nhận cảm xúc, tức là tôn trọng quyền được thể
hiện cảm xúc theo cách phù hợp.
- Yếu tố thứ ba là lắng nghe tốt để hiểu đúng người khác và có khả
năng truyền đạt một cách rõ ràng để người khác hiểu mình .
- Yếu tố thứ tư là biết sử dụng ngôn ngữ không lời như cử chỉ, điệu
bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười....trong giao tiếp.
- Cảm thông với người khác:
Bày tỏ sự cảm thông bằng cách tự đặt mình vào vị trí của người khác,
đặc biệt khi phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh
định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm trọng đến định
hướng cuộc sống, nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan
đến các mối quan hệ, tương lai cuộc sống, công việc v.v. Do vậy, điều quan
trọng cần phải làm là lường được những hậu quả trước khi đưa ra quyết định
và phải lên kế hoạch cho những lựa chọn và quyết định này.
- Giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều
kĩ năng khác tương tự. Qua thực hành việc ra quyết định và giải quyết vấn
8
đề giúp con người có thể xây dựng được những kĩ năng cần thiết đưa ra
được sự lựa chọn tốt nhất trong bất kì hoàn cảnh nào mà họ gặp phải trong
cuộc sống.
Lưu ý: Trên thực tế các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau
mà có liên quan chặt chẽ đến nhau. Ví dụ: Khi cần ra quyết định một cách
đúng đắn thì những kĩ năng sau đây thường được vận dụng :
+ Kĩ năng tự nhận thức
+ Kĩ năng thu thập thông tin
+ Kĩ năng tư duy phê phán
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo
+ Kĩ năng xác định giá trị
- Để có thể giao tiếp một cách có hiệu quả cần phối hợp những kĩ năng sau:
+ Kĩ năng tự nhận thức
+ Kĩ năng thương lượng
+ Kĩ năng tư duy phê phán
+ Kĩ năng cảm thông, chia sẻ
+ Kĩ năng kiềm chế, đương đầu với cảm xúc
- Để đặt được mục tiêu cần phối hợp các kĩ năng sau:
+ Kĩ năng tự nhận thức
+ Kĩ năng tư duy phê phán
+ Kĩ năng giao tiếp
nhận thức về kiểu người hấp dẫn mình.
+ Hình thành và cố gắng khẳng định giá trị cá nhân: bắt đầu có quan
niệm về những điều quan trọng trong cuộc sống, tìm hiểu và có chính kiến
trước các nguyên tắc sống, nguyên tắc ứng xử trong xã hội.
+ Độc lập hơn đối với cha mẹ: tìm tòi, khám phá cuộc sống, dần dần tự
đánh giá, tự đưa ra quyết định về các hành động của mình trong từng hoàn
cảnh.
+ Hướng tới tương lai: xác định được rằng mình muốn một cuộc sống như
thế nào trong tương lai, các mong muốn về nghề nghiệp và gia đình.
- Những thay đổi nhanh chóng trong xã hội cũng có tác động lớn đối với
học sinh Trung học. Bên cạnh những yếu tố tích cực, thì những ảnh hưởng
tiêu cực của cơ chế thị trường, sự du nhập của lối sống thực dụng, lai căng
đã tạo ra những áp lực dụ dỗ, lôi kéo các em vào các hành động liều lĩnh,
trở thành nạn nhân của tình trạng lạm dụng hay bạo lực về SKSS, căng
thẳng, mất lòng tin, mặc cảm,…
- Được trang bị KNS sẽ giúp các em biết cách ứng phó lành mạnh trước
những thay đổi và áp lực trong cuộc sống hàng ngày, có những ứng xử phù
hợp với trước các tình huống gay cấn như: bị quấy rối tình dục, xâm hại tình
dục; bị lôi kéo vào các hành vi mua bán dâm, sử dụng ma tuý; quan hệ tình
dục sớm có thai ngoài ý muốn, phòng tránh HIV/AIDS, ...
Do đó, việc giáo dục KNS là hết sức quan trọng để giúp học sinh
Trung học rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và
cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự
lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bè cùng trang lứa, phòng ngừa những hành
vi có hại cho sức khoẻ thể chất và tinh thần của các em, giúp các em biết lựa
chọn cách ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống.
IV. Phương pháp giáo dục KNS
Để giáo dục KNS có hiệu quả, cần sử dụng cách tiếp cận cùng tham
gia và trải nghiệm.
11
hành các KNS trong những tình huống giả định hoặc tình huống có thực của
cuộc sống. Để thông qua đó, người học có thể nhận dạng được các KNS,
hiểu được bản chất, cảm nhận được ý nghĩa, giá trị của các KNS đối với
cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Dưới đây là một số phương pháp cụ thể giúp người học có thể trải
nghiệm và tham gia một cách tích cực:
1. Phương pháp động não
Bản chất
Động não là phương pháp giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy
sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một
phương pháp có ích để " lôi ra " một danh sách các thông tin.
Cách tiến hành
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm
hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ người học đóng góp ý kiến (bằng lời hoặc ghi ra giấy
nhỏ) càng nhiều càng tốt.
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý
kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng
- Tổng hợp ý kiến của người học, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì
không.
Yêu cầu sư phạm
- Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề
nào, song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc
trong thực tế cuộc sống của HS.
- Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết
mở.
13
- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật
trí ngồi thảo luận cho các nhóm.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các
nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến.
- GV tổng kết các ý kiến.
Yêu cầu sư phạm
- Có nhiều cách chia nhóm, có thể chia theo số điểm danh, theo giới
tính, theo màu sắc, theo các mùa trong năm, theo biểu tượng, ...
- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tuỳ theo vấn đề thảo luận. Tuy
nhiên, nhóm không nên quá đông để đảm bảo tất cả HS có thể
tham gia thảo luận tích cực; đồng thời nhóm cũng không nên quá ít
để đảm bảo rằng nhóm không bao giờ thiếu ý tưởng và không có gì
để nói. Một nhóm làm việc hiệu quả thường bao gồm từ 4 – 6
thành viên.
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận
cho các nhóm.
- Sẽ thuận lợi hơn nếu mỗi nhóm chọn một trong những thành viên
trong nhóm làm trưởng nhóm. Nhóm trưởng điều khiển quá trình
thảo luận của nhóm, mời các thành viên phát biểu, chuyển sang
câu hỏi khác khi thích hợp, đảm bảo rằng mỗi người - bao gồm cả
những cá nhân hay xấu hổ hoặc ngại phát biểu có cơ hội để đóng
góp ý kiến. Đồng thời, trong nhiều trường hợp, mỗi nhóm cần có
15
một người ghi biên bản cuộc thảo luận để sau đó trình bày trước
lớp.
- HS cần được luân phiên nhau làm “nhóm trưởng” và “ thư kí” và
luân phiên nhau đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận.
- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức :
bằng lời, đóng vai, viết hoặc vẽ trên giấy to, ...; có thể do một
chính của phương pháp này mà điều quan trọng hơn là sự thảo luận sau phần
diễn ấy.
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như :
- HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ
thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực
tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho người học.
- Tạo điều kiện để phát triển óc sáng tạo của người học.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng
tích cực.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm
của các vai diễn.
Cách tiến hành
Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :
17
- GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng
vai cho từng nhóm. Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn
bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
- Các nhóm lên đóng vai.
- Lớp thảo luận, nhận xét.
- GV kết luận về cách ứng xử phù hợp trong tình huống và ý
nghĩa của nó
Yêu cầu sư phạm
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục phù
hợp với đặc điểm người học và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm HS chuẩn bị đóng
vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng
6.Phương pháp trò chơi
Bản chất
Phương pháp trò chơi là tổ chức cho HS chơi một trò chơi nào đó để
tìm hiểu một vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp
trong một tình huống cụ thể.
Phương pháp trò chơi có ưu điểm sau:
- Qua trò chơi, HS có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi.
Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở họ niềm tin
19
vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho
những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, người học sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa
chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống.
- Qua trò chơi, HS được hình thành năng lực quan sát, được rèn
luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng,
sinh động; không khô khan, nhàm chán. HS được lôi cuốn vào quá
trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách
nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong
học tập.
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS với HS,
giữa GV với HS.
Yêu cầu sư phạm
- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề
GD, với đặc điểm và trình độ người học, với quỹ thời gian, với
hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học.
- HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.
- Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.
- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều
kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn
gián tiếp qua thư từ, điện thoại, điện tín, email,…. Muốn thành công,
chúng ta cần rèn luyện và nắm được các quy tắcgiao tiếp; biết kết hợp
21
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
giữa giao tiếp bằng lời và không lời.
Chúng ta cũng cần biết cảm thông, chia sẻ với người khác, đặc biệt là
những khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn.
Kĩ năng giao tiếp có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ
tốt đẹp giữa con người với con người và góp phần làm cho cuộc sống xã
hội lành mạnh hơn, tốt đẹp hơn.
Hướng dẫn thực hiện hoạt động
a. Mục tiêu: HS biết được cách chào hỏi và ý nghĩa của việc chào hỏi
b. Cách tiến hành
- HS đứng thành hai vòng tròn đồng tâm, có số người bằng nhau. Những
người đứng ở vòng tròn bên trong quay mặt ra ngoài, còn những người ở
vòng tròn bên ngoài lại đứng quay mặt vào trong làm thành từng đôi một.
- Theo hiệu lệnh của người điều khiển trò chơi, từng đôi một sẽ chào nhau
trong từng tình huống cụ thể. Chẳng hạn:
+ HS gặp cô giáo ở trên đường
+ Hai người bạn thân cũ lâu ngày mới gặp lại nhau tại nhà hát
+ Nhân viên gặp Sếp ở công sở
+ Hai nguyên thủ Quốc gia gặp nhau trong một cuộc đón tiếp chính
thức
+ Hai người- một nam và một nữ lần đầu tiên gặp nhau tại một buổi
liên hoan mừng sinh nhật.
+ Hai người theo đạo Hồi gặp nhau
….
Chú ý: sau khi chào hỏi trong mỗi tình huống, những người ở vòng tròn
ngoài lại di chuyển sang bên trái một bước, đứng đối diện với một người
cùng với cả lớp so sánh giữa thông tin ban đầu phát ra và thông tin cuối
cùng nhận được.
- Nhóm nào truyền tin nhanh và chính xác, nhóm đó sẽ thắng cuộc.
- Thảo luận lớp theo các câu hỏi sau:
1. Em nghĩ gì khi thực hiện trò chơi này?
23
Hoạt động 2: Truyền tin
2. Tại sao lại có sự khác biệt giữa thông tin ban đầu và thông tin nhận
được cuối cùng của các nhóm?
3. Làm thế nào để truyền và nhận thông tin được chính xác ?
c. Kết luận
Truyền tin bằng lời nói là một hình thức phổ biến của giao tiếp. Để truyền
và nhận thông tin được chính xác, cần chú ý đến cả hai phía, người truyền tin
và người nhận tin.
Người truyền tin phải rõ ràng, chính xác, dễ hiểu. Người nhận tin phải
biết chú ý lắng nghe và biết phản hồi lại .
a. Mục tiêu:
- HS biết lắng nghe tích cực khi giao tiếp.
- HS có thái độ tôn trọng ý kiến của người khác và biết tạo
điều kiện để người khác nói
b. Cách tiến hành:
- GV chia HS thành nhóm 3 - 4 người. Yêu cầu các nhóm thảo luận về
một chủ đề nào đó như: phòng chống tệ nạn xã hội, phòng tránh nhiễm
HIV/ AIDS, ...
Lần 1: GV yêu cầu các HS trong nhóm cùng bày tỏ ý kiến riêng của mình
một lúc, không cần lắng nghe xem người khác nói gì.
- Sau khi các nhóm kết thúc, GV yêu cầu một số HS nói rõ cảm giác của
mình trong cuộc nói chuyện và những thông tin gì nghe được của HS
khác.
- Thảo luận lớp theo các câu hỏi: