TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
ĐẶNG THỊ HUYỀN
LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ SỰ KẾ THỪA
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. HOÀNG THANH SƠN
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị đã tận tình dạy dỗ, chỉ
bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
tại trường.
Đặc biệt, để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới thầy giáo Th.S HOÀNG THANH SƠN đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn
và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ................................................................................... 3
2.1. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 3
3. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 3
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.............................................. 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Ý nghĩa của đề tài khoá luận ......................................................................... 6
7. Kết cấu của khoá luận ................................................................................... 6
Chương 1: QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ QUYỀN
CON NGƯỜI .................................................................................................... 7
1.1. Quan niệm phi Mác xít về quyền con người ........................................... 7
1.1.1. Tư tưởng về quyền con người thời kỳ cổ đại, trung đại ......................... 8
1.1.2. Sự phát triển tư tưởng quyền con người trong thời kỳ phục hưng, khai
sáng và cận đại ................................................................................................ 12
1.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người ................. 15
1.2.1. Một số nội dung khái quát mang tính phương pháp luận ..................... 15
1.2.2. Nguồn gốc và bản chất của quyền con người ....................................... 18
Chương II: SỰ KẾ THỪA LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM............. 24
2.1. Vấn đề quyền con người trên thế giới hiện nay ....................................... 24
2.1.1. Lịch sử vấn đề quyền con người ........................................................... 24
2.1.2. Quan niệm của Liên Hợp quốc về quyền con người ............................ 26
2.2. Sự kế thừa của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng quyền con người
theo lý luận của chủ nghĩ Mác – Lênin........................................................... 29
2.2.1. Vai trò của lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người đối với
dụng vào thực tiễn nhiều nước tư bản đã xuất hiện một loạt các thuyết pháp
quyền mới: thuyết pháp quyền lịch sử, thuyết pháp quyền thực chứng...
Những nhà XHCN không tưởng vĩ đại ở Pháp, Anh cũng đưa ra nhiều tư
tưởng quan trọng về quyền con người nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu
xót. Những tư tưởng trước Mác vẫn còn tính trừu tượng, chủ nghĩa duy tâm
về lịch sử và tính xa rời thực tiễn hiện thực của cuộc sống.
Trong bối cảnh đó, sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã khắc phục được
những thiếu sót của các thuyết về quyền con người trước đây, đồng thời tạo ra
một bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển lý luận về nhà nước, pháp
quyền và nhân quyền. Chủ nghĩa Mác đã xác định đúng vai trò của con người
và tương quan giữa con người với quy luật khách quan của xã hội, đưa ra
quan niệm cho rằng con người trong tính hiện thực của nó là "tổng hoà các
1
mối quan hệ xã hội" [1; tr. 285]. Trên cơ sở đó, Chủ nghĩa Mác – Lênin đã
làm sáng tỏ các cơ sở khoa học của quyền con người, đưa ra những luận giải
đúng đắn đối với một số vấn đề cốt lõi của quyền con người, chẳng hạn vấn
đề bình đẳng, tự do, vấn đề về mối quan hệ giữa quyền cá nhân và quyền của
cộng đồng, vấn đề quyền tự quyết dân tộc, các quyền kinh tế, văn hoá, xã
hội,…
Trong thời đại ngày nay, quyền con người đã trở thành mối quan tâm
chung của cộng đồng nhân loại. Quyền con người được ghi nhận là giá trị
chính trị, đạo đức, pháp lý phổ biến. Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lý luận và kim
chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Trong mọi thời kỳ lịch sử cụ thể, Đảng
ta luôn quan tâm tới vấn đề quyền con người theo định hướng Chủ nghĩa Mác
– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự nghiệp đổi mới đất nước được Đảng và
Nhà nước khởi xướng từ năm 1986 đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của hội
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người.
Thứ ba: Phân tích một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứu về quyền con
người ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
3. Tình hình nghiên cứu
* Nghiên cứu quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con
người
Quyền con người đã được Liên Hiệp Quốc, các nhà khoa học pháp lý
trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu. Hơn thế, trong bối cảnh có nhiều
học thuyết về quyền con người như hiện nay, việc nhìn nhận và đánh giá
chính xác các tư tưởng, quan niệm về quyền con người là vô cùng quan trọng.
Do đó, trong thời gian qua, ở nước ta cũng như trên thế giới có rất nhiều công
trình nghiên cứu quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người.
Các bài viết như: Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật
biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Hoàng Văn Nghĩa (1999) về đề
3
tài “Quan niệm của Triết học Mác về quyền con người” lưu tại Thư viện Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn; Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Triết học
của Vũ Thị Lúa (2014) về đề tài “Quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen về
Quyền con người” lưu tại Thư viện Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn;
Phạm Hồng Thái (2016), Tư tưởng Việt Nam về quyền con người, Khoa Luật,
ĐHQG Hà Nội; Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình lý
luận và Pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội;
Jacques Mourgon (1995), Quyền con người, Trung tâm nghiên cứu Quyền
con người – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Ngọc
Đường (2004), Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Động (2005),
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là quan niệm của C.Mác về quyền
con người và sự kế thừa của Đảng Cộng sản Việt Nam; vấn đề nghiên cứu
quyền con người ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quyền con người là nội dung được ghi nhận không chỉ trong Hiến pháp
– đạo luật cơ bản của quốc gia, mà còn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm do giá trị lý luận và thực tiễn của nó. Tuy nhiên, trong phạm vi khoá luận
này, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về
quyền con người và sự kế thừa của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con
người. Từ đó, phân tích một số vấn đề đặt ra trong nghiên cứu về quyền con
người ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ
nghĩa Duy vật lịch sử để làm sáng tỏ những nội dung trong khoá luận.
Sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử,
tổng hợp và khái quát hoá, đối chiếu và so sánh, thống kê,…
6. Ý nghĩa của đề tài khoá luận
Khóa luận có ý nghĩa thiết thực với tác giả trong việc nghiên cứu làm
quen với công tác nghiên cứu khoa học, rèn luyện phương pháp tiếp cận
những vấn đề trong tư tưởng, đường lối chủ trương chính sách của Đảng,
nhận thức về khoa học chuyên ngành.
Đề tài đưa ra tư tưởng về quyền con người theo lý luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin và sự kế thừa của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện
quyền con người trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Phân tích được tình hình nghiên cứu về quyền con người trên thế giới,
trong đó đưa ra những thành tựu, thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam đạt
1.1.
Quan niệm phi Mác xít về quyền con người
Quyền con người với tư cách là một ngành của pháp luật quốc tế mới
chỉ được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc từ
năm 1945. Tuy nhiên, ý tưởng và quan niệm về quyền con người thì đã hình
thành từ rất sớm trong lịch sử. Kể từ thời kỳ cổ, trung đại cho đến thời kỳ
phục hưng, khai sáng và cận đại, tư tưởng về quyền con người đã từng bước
được thể hiện trong quan điểm của các nhà triết học, chính trị học, luật học.
Các tôn giáo lớn trên thế giới như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hinđu, Hồi
giáo… đều đề cập đến những quy tắc ứng xử nhằm tôn trọng phẩm giá con
người.
1.1.1. Tư tưởng về quyền con người thời kỳ cổ đại, trung đại
Từ thời cổ đại, các nhà triết học duy vật đã quan niệm con người là sản
phẩm của thế giới tự nhiên, bắt nguồn từ thế giới vật chất, mọi hoạt động của
con người cũng tuân theo các quy luật của tự nhiên. Quan niệm về quyền con
người đã được thể hiện ở các ý niệm, tư tưởng thể hiện thông qua các hình
phạt hay yêu sách về quyền. Bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển
của xã hội nô lệ cổ đại là sự hình thành các bộ lạc, thị tộc và tiếp đó là nhà
nước nô lệ cổ đại. Chính trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn xã hội phát
sinh giữa giai cấp chủ nô và nô lệ nhằm thoát khỏi sự áp bức, bất công mà tư
tưởng về bảo vệ các quyền tự nhiên vốn có của con người, về sự tôn trọng
phẩm giá đã dần dần được hình thành và phát triển ở cả phương Đông và
phương Tây.
Sự xuất hiện những ý tưởng pháp lý đầu tiên về quyền con người được
thể hiện trong Đạo luật Ur-Nammu (2050 TCN), đạo luật Hammurabi (1780
TCN). Đạo luật Hamurabi của Đức vua Babilone được xác lập nên nhằm mục
người. Như vậy, theo Aristốt, quan niệm con người là “một động vật - chính
trị” nên “kẻ này là nô lệ, người kia là tự do, là chủ nô, và điều đó là đúng, là
hợp lý” [12; tr.45]. Do vậy, quyền con người được gắn với đặc quyền của giai
cấp thống trị.
Theo đuổi quan điểm triết học duy tâm, Platon cho rằng nhà nước xuất
hiện từ sự đa dạng hoá của nhu cầu con người và từ đó, xuất hiện các dạng
phân công lao động để thoả mãn các nhu cầu ấy. Vì vậy, trong xã hội cần duy
trì các dạng nhu cầu khác nhau, không thể có sự bình đẳng hoàn toàn giữa con
người với con người. Xuất phát từ nhận thức này mà ông khẳng định mỗi
hạng người cần phải làm tròn bổn phận của mình, con người sống vì nhà nước
chứ không phải vì con người. Đêmôcrit (460 - 370 TCN) cũng đưa ra phân
tích về sự ra đời của nhà nước trong mối quan hệ với quyền con người. Theo
ông, sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật là một tất yếu. Nó vừa là kết quả
đấu tranh của con người, vừa thể hiện quyền lợi chung của các công dân.
Ở phương Đông, ngay từ thế kỷ X TCN, triều đại nhà Chu ở
Trung Quốc cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân và
giá trị của con người. Khổng Tử (551- 479 TCN) quan niệm: trong muôn loài,
con người là quý nhất nên cần phải đối xử với nhau theo nguyên tắc “kỷ sở
bất dục, vật thi ư nhân” (Điều mình không muốn thì không làm cho
người khác). Khổng Tử cũng đề cao một số quyền con người như quyền
được chọn người có khả năng để làm lãnh đạo, quyền được học tập, quyền
được chăm sóc của người già, trẻ em và người khuyết tật. Cùng với việc
mong muốn xây dựng một xã hội hài hoà, Khổng Tử cũng đề cập đến
những nghĩa vụ mà mỗi người cần phải làm để đảm bảo lợi ích chung. Tư
tưởng về bình đẳng cũng đã bước đầu được đề cập trong học thuyết của Mặc
Tử (479 - 371 TCN) bằng quan niệm cho rằng trong đời sống chính trị, mọi
người đều có quyền ngang nhau và tiêu chuẩn để tham gia công việc nhà nước
không phải là nguồn gốc xuất thân hay địa vị xã hội mà chính là tài năng. Các
vương là do ý chí Thượng đế” quy định [12; tr.87]. Con người cũng như vạn
vật cần giữ vững vị trí mà Thượng đế đã định sẵn mà không được có ý đồ
thay đổi vị trí đó. Sự kết hợp giữa thần học và chế độ phong kiến đã tạo nên
chế độ chuyên chế độc đoán vô cùng hà khắc của các thế lực phong kiến và
tăng lữ - “đêm trường trung cổ” kéo dài trên dưới nghìn năm ở các nước châu
Âu. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa của nông dân, sự phản kháng chế độ
độc đoán của Nhà thờ, truyền thống nhân đạo…đã buộc các vua chúa một
số nước phải ban hành một số đạo luật bảo vệ các thần dân của mình. Vua
Giôn của nước Anh năm 1215 đã ban hành Hiến chương Magna Carta, trong
đó thừa nhận các quyền của các công dân tự do được sở hữu và thừa kế tài
sản, phụ nữ goá chồng được kế thừa tài sản và quyền tái hôn hoặc không tái
hôn, quyền không phải đóng thuế quá mức, quyền được đối xử công bằng và
bình đẳng trước pháp luật, Nhà thờ được quyền tự do hành đạo không có sự
can thiệp của nhà nước… Song đây chỉ là những hiện thực lịch sử cá biệt hy
hữu không thể là căn cứ để đánh giá khác đi về thời kỳ trung cổ ở châu Âu
như một thời kỳ lịch sử đen tối, phi nhân tính.
Như vậy, có thể thấy tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện trong
thời kỳ cổ đại và trung đại nhưng nó chỉ gắn với các giai cấp thống trị trong
xã hội. Tuy vậy, đây cũng là nền tảng, là cơ sở để tư tưởng về quyền con
người phát triển hơn trong các giai đoạn tiệp theo của lịch sử.
1.1.2. Sự phát triển tư tưởng quyền con người trong thời kỳ
phục hưng, khai sáng và cận đại
Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự
lớn mạnh của giai cấp tư sản đã tạo nên những bước phát triển quan trọng
trong lý luận về con người và quyền con người. Những tư tưởng xuyên suốt
về quyền con người trong thời kỳ này dựa trên học thuyết về quyền tự nhiên.
Dựa trên quan điểm triết học duy vật, bác bỏ các quan điểm duy tâm tôn giáo,
học thuyết này cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của
thánh định ra phải phục tùng các quyền tự nhiên, có trách nhiệm tôn trọng và
bảo vệ các quyền tự nhiên của con người và công dân của họ. Các pháp luật
trái với quyền tự nhiên, mâu thuẫn với bản chất tự nhiên của con người –
pháp luật phong kiến, phải bị phê phán và thay đổi cho phù hợp với các quy
luật của lý trí.
Thomas Hobbes (1588 - 1679) nhà triết học duy vật của Anh thế
kỷ XVII được coi là người đầu tiên đưa ra quan điểm về vai trò quyết định
của nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người. T.Hobbes cho rằng
con người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội. Tính tự
nhiên làm cho mọi người đều giống nhau về thể xác và tinh thần. Trong trạng
thái tự nhiên, theo ông, khát vọng bản chất của con người mang nặng tính vị
kỷ và hung ác: cuộc sống tự nhiên là một cuộc chiến tranh của tất cả chống lại
tất cả”, “người với người là chó sói”. Để khắc phục trạng thái tự nhiên, con
người phải từ bỏ các quyền tự nhiên của mình, ký kết với nhau khế ước xã
hội, kết quả là chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội - đó là nhà
nước.
Nhà nước là do con người tạo ra, chứ không hề có nguồn gốc thần
thánh. Nhà nước lập ra là để giữ gìn trật tự xã hội, điều hành sự phát triển xã
hội, xử phạt những ai vi phạm lợi ích chung. Mỗi công dân phải có nghĩa vụ
tuân theo luật pháp của nhà nước, Nhà nước là chủ thể các quyền. Đó là cách
tốt nhất để mọi người có thể sống yên ổn. Hobbes lý giải về tình trạng hỗn
loạn của thế giới là do các quyền không có giới hạn, không được ghi nhận.
Theo đó, nếu như con người muốn sống trong hoà bình thì phải từ bỏ các
quyền tự nhiên của mình và tạo lập các nghĩa vụ về mặt đạo đức trong một xã
hội dân sự và chính trị. T.Hobbes phản đối quan niệm cho rằng quyền bắt
nguồn từ Luật tự nhiên. Theo ông, thường có sự nhầm lẫn giữa luật (“lex”) và
quyền (“jus”). Luật đề cập đến nghĩa vụ còn quyền thì không cần nghĩa vụ. Vì
rằng bản chất của con người là mong muốn có được hạnh phúc tối đa nên
bức, bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng dân chủ và tự do. Vì vậy, khi
nghiên cứu quyền con người cần phải có cách nhìn biện chứng để thấy được
quy luật vận động của quá trình nhận thức và thực tiễn về quyền con người.
Khi nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người,
cần phải thấy, cả C. Mác và V.I. Lênin đều không để lại cho chúng ta bất kỳ
một công trình chuyên khảo hay những tác phẩm riêng nào nghiên cứu về
quyền con người, hay một định nghĩa “kinh điển” về quyền con người [16;
tr.13]. Vì vậy nghiên cứu tư tưởng của những nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin về quyền con người cần phải tìm cái căn bản nhất của tư tưởng con
đường giải phóng con người của các ông. Tư tưởng nhân văn đấu tranh chống
áp bức, bóc lột giải phóng con người được thể hiện trong các công trình
nghiên cứu tác phẩm của ông về dân chủ, đấu tranh cách mạng, đấu tranh giai
cấp, nhà nước và pháp luật bằng thực tiễn đấu tranh, cách mạng giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc. Đây là vấn đề có tính phương pháp luận quan
điểm phải được quán triệt trong nghiên cứu tư tưởng về quyền con người.
Như vậy mới tìm ra được tư tưởng về quyền con người của các nhà tư tưởng
nói chung và những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng.
Tư tưởng quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về
vấn đề quyền con người, đấu tranh giai cấp giải phóng dân tộc bị áp bức là
một di sản lý luận - thực tiễn to lớn của các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên
toàn thế giới. Đây là cơ sở lý luận và phương pháp luận để các thế hệ nhà
nghiên cứu macxít tiếp tục suy ngẫm, nghiên cứu, phân tích nội dung của
quyền con người trong lịch sử cũng như quyền con người trên thế giới đương
đại. Và trên cơ sở lý luận về quyền con người cần có sự phê phán những quan
điểm phi khoa học, phi giai cấp trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, từ những
nhận thức lý luận mác xít về quyền con người, có thể xây dựng những mô
hình hiện thực về quyền con người phù hợp với thời đại, dân tộc, giai cấp,
điều kiện kinh tế, xã hội,…