Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa mác lênin về quyền con người và ý nghĩa với việt nam hiện nay các chuyên đề nghiên cứu - Pdf 13

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
*********
TẬP HỢP BÁO CÁO
CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2007
Mã số: B07-14
NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ Ý NGHĨA VỚI VIỆT NAM HIỆN NAYCơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Quyền con người
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Đức Thuỳ
Thư ký đề tài: Ths. Nguyễn Thị Thanh Hải 6966-1
28/8/2008
HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC
Trang
Sự phát triển của tư tưởng về quyền con người
trước Mác
ThS. Nguyễn Thị Thanh Hải
1

ThS. Lê Quang Hoà

108
Vấn đề quyền con người và xã hội công dân theo
quan điểm Mác - Lênin
ThS. Trần Mai Hùng
127
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò
của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con
người, quyền công dân
ThS. Tống Đức Thảo
146
Quan điểm Mác - Lênin về dân chủ và quyền
dân chủ
ThS. Hoàng Văn Nghĩ
a
161
Quan điểm Mác - Lênin về quyến sở hữu
ThS. Đỗ Thị Thơm
191
Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền tự
do tôn giáo tín ngưỡng
ThS. Trần Thị Hoè
204
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền
lao động và thực tiễn Việt Nam
Trần Thị Hồng Hạnh
220
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền
được giáo dục

Phật giáo, Hinđu, Hồi giáo… đều đề cập đến những quy tắc ứng xử nhằm tôn trọng
phẩm giá con người.
1.1. T− t−ëng vÒ quyÒn con ng−êi trong thêi kú cæ, trung ®¹i
Từ thời cổ đại, các nhà triết học duy vật đã quan niệm con ng
ười là sản phẩm của
thế giới tự nhiên, bắt nguồn từ thế giới vật chất, mọi hoạt động của con người cũng
tuân theo các quy luật của tự nhiên. Quan niệm về quyền con người đã được thể
hiện ở các ý niệm, tư tưởng thể hiện thông qua các hình phạt hay yêu sách về quyền.
Bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội nô lệ cổ đạ
i là sự hình
thành các bộ lạc, thị tộc và tiếp đó là nhà nước nô lệ cổ đại. Chính trong quá trình
giải quyết các mâu thuẫn xã hội phát sinh giữa giai cấp chủ nô và nô lệ nhằm thoát
khỏi sự áp bức, bất công mà tư tưởng về bảo vệ các quyền tự nhiên vốn có của
con người, về sự tôn trọng phẩm giá đã dần dần được hình thành và phát triển ở cả
phương Đông và phươ
ng Tây.
Sự xuất hiện những ý tưởng pháp lý đầu tiên về quyền con người được thể
hiện trong Đạo luật Ur-Nammu (2050 TrCN), đạo luật Hammurabi (1780TCn ).
Đạo luật Hamurabi của Hoàng đế Babilone được xác lập nên nhằm mục đích “ngăn
chặn kẻ mạnh áp bức kẻ yếu”. Các đạo luật này đã đưa ra những quy định, trừng
phạt có liên quan đến quyền của phụ nữ, trẻ em, quyền của nô l

1
.

1
Bách khoa toàn thư Wikipedia, tài liệu có tại địa chỉ
http://en.wikipedia.org/wiki/Human_rights#Human_Rights_in_the_ancient_world
(truy cập ngày 23/12/2007)


Aristot (384-322 TCN) người được C.Mác đánh giá là “nhà tư tường vĩ đại
thời cổ đại” đã đưa ra quan niệm con người là một sinh vật xã hội, một
động vật
chính trị có các quyền bình đẳng trong việc tham gia công việc nhà nước và xã hội;
nhà nước và xã hội có trách nhiệm phải đảm bảo đời sống vật chất, công lý và sự
bình đẳng cho mọi người. Như vậyAristôt quan niệm con người là “một động vật -

1
Bản tuyên bố này được khắc trên một chiếc thùng làm bằng đất sét.
2
Bách khoa toàn thư Wikipedia, tài liệu có tại địa chỉ
http://en.wikipedia.org/wiki/Human_rights#Human_Rights_in_the_ancient_world
(truy cập ngày 23/12/2007)
3
Bách khoa toàn thư Wikipedia, tài liệu có tại địa chỉ
http://en.wikipedia.org/wiki/Human_rights#Human_Rights_in_the_ancient_world
(truy cập ngày 23/12/2007)
4
Xem Nguyễn Văn Vĩnh, Triết học chính trị về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, H 2005, Tr 23.

3
chính trị” nên “kẻ này là nô lệ, người kia là tự do, là chủ nô, điều đó là đúng, là hợp
lý. Quyền con người, do vậy, được gắn với đặc quyền của giai cấp thống trị.
Theo đuổi đường lối triết học duy tâm, Platon cho rằng nhà nước xuất hiện
từ sự đa dạng hoá của nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao
động để thoả mãn các nhu cầ
u ấy. Trong xã hội cần duy trì các dạng nhu cầu khác
nhau, do vậy, không thể có sự bình đẳng hoàn toàn giữa con người với con người.
Xuất phát từ nhận thức này mà ông khẳng định mỗi hạng người cần phải làm tròn
bổn phận của mình, con người sống vì nhà nước chứ không phải vì con người

Xem giáo trình Lý luận về quyền con người, bản thảo Tr. 32

4
hiện giá trị của hạnh phúc, bình đẳng và tự do. Theo các quan niệm tôn giáo, con
người và vạn vật là do Thượng đế hay Chúa sáng tạo ra, và do vậy bất khả xam
phạm. Mọi hoạt động, suy nghĩ, tồn tại của con người đều phụ thuộc vào sức mạnh
vạn năng của Thượng đế, một lực lượng siêu nhiên hùng mạnh từ bên ngoài có thể
chi phối, ban phát và quyết định số phận của mỗi con ng
ười. Do đó, quyền con
người là quyền của Thượng đế ban cho con người. Nhiều nhà tư tưởng thời kỳ Phục
hưng và Khai sáng đã bác bỏ mạnh mẽ các quan niệm tôn giáo về con người và
quyền con người.
Mặc dù thuật ngữ “quyền con người” chưa được đưa ra trong các tôn giáo
truyền thống nhưng tư tưởng của các tôn giáo đã thể hiện được những tư tưởng cơ
bả
n về con người. Cho rằng con người đều thuộc về thánh thần, Kinh thánh khẳng
định A đam được sinh ra từ “hình ảnh của Chúa” và do vậy, con người có giá trị rất
cao. Kinh Quran khẳng định chắc chắn chúng ta đã ban tặng nhân phẩm cho con
người. Có thể nói, các quan niệm này đều mang tính duy tâm mà chưa gắn với con
người hiện thực.
Đến thời kỳ trung cổ, do sự hà khắc của kết cấu kinh tế, xã hội và tôn giáo
củ
a chế độ phong kiến mà tư tưởng về quyền con người dường như cũng bị hạn chế.
Ở thời kỳ này, lý thuyết về tự do thống trị trong xã hội là lý thuyết duy tâm và mang
tính thần học. Tự do được quan niệm là khả năng hành động phù hợp với mục đích
hợp lý mà đấng Chúa trời tối cao đã định trước. Vấn đề trọng tâm là quan hệ giữa ý
chí con ngườ
i và ý chí của chúa.Quyền con người, vì vậy cũng được coi là quyền
trừu tượng, phi hiện thực và mang tính thần thánh. Tự do và bình đẳng chỉ được thể
hiện bằng tâm hồn. Quyền lực là do đã được chúa trời sắp xếp.

sản lên cầm quyền ở Anh, Hà Lan, Pháp, Mỹ…
Có thể kể đến các nhà tư tưởng lớn về theo đuổi học thuyết về quyền tự
nhiên như
Thomas Hobbes, John Locke, Spinôda, Bôdanh, Điđơrô, J.
Rousseau,Thomas Paine, Jefferson,…và cả L.Phoi-ơ-bắc( 1804-1872), một nhà triết
học duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức.
Thomas Hobbes (1588 - 1679) nhà triết học duy vật của Anh thế kỷ XVII
được coi là người đầu tiên đưa quyền tự nhiên vào quan điểm triết học chính trị và
đạo đức của mình. Hobbes cho rằng bản chất của con người là mang tính vị kỷ. Vì
rằng, con người luôn hành độ
ng theo bản chất của mình nên đó là quyền của họ.
Theo Hobbes, chối bỏ quyền này tức là đã chối bỏ quyền được làm người và đó là
điều vô lý vì cũng giống như loài động vật không được ăn thịt, cá không được bơi.
Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là quyền mang tính quy định áp đặt nghĩa vụ cho
người khác mà chỉ đơn thuần là “tự do”. Bởi vậy, chúng ta không có nghĩa vụ tự6
nhiên mà chỉ có quyền không có giới hạn- điều này dẫn tới tình trạng con người
phải xâm chiếm, chém giết, bóc lột lẫn nhau để tồn tại. Hobbes lý giải về tình trạng
hỗn loạn của thế giới là do các quyền không có giới hạn không được ghi nhận. Theo
đó, nếu như con người muốn sống trong hoà bình thì phải từ bỏ các quyền tự nhiên
của mình và xây dựng nên các nghĩa vụ về mặt đạ
o đức trong một xã hội dân sự và
chính trị. Đây chính là những ý tưởng đầu tiên cho việc xây dựng quan niệm về
“khế ước xã hội” sau này.
Hobber phản đối quan niệm cho rằng quyền bắt nguồn từ Luật tự nhiên.
Theo ông, thường có sự nhầm lẫn giữa luật (“lex”) và quyền (“jus”). Luật đề cập
đến nghĩa vụ còn quyền thì không cần nghĩa vụ. Vì rằng bản chất của con người là
mong muốn có được hạnh phúc tối đa nên quyền phải có trước pháp luật. Quan

7
tự do và tư hữu. Mặc dù tư tưởng của John Locke bắt nguồn từ quan niệm con
người là do chúa sáng tạo ra nhưng những tư tưởng của ông cũng có ý nghĩa quan
trọng đối với sự hình thành và phát triển khái niệm quyền sau này. Các quyền tự
nhiên theo quan điểm của Locke không xuất phát từ quyền công dân hay phát luật
quốc gia và cũng không hạn chế trong một nhóm tôn giáo, sắc tộc, văn hoá cụ thể
nào. Ông chính là người
đầu tiên đưa ra quan niệm về tính không thể phân chia của
quyền con người
1
.
Mặc dù còn những hạn chế nhất định, tư tưởng của các nhà triết học theo
trường phái pháp luật tự nhiên có ý nghĩa tiến bộ, góp phần to lớn vào cuộc đấu
tranh chống lại vương quyền và thần quyền, phục hưng và khẳng định các giá trị
cao quý của con người theo tinh thần cùa thời đại tư sản. Học thuyết về quyền tự
nhiên cũng đã xác định đượ
c nguyên tắc chung đối với quyền lực chính trị nhà nước
là Bảo vệ các quyền tự nhiên.
Tư tưởng tiến bộ về quyền của trường phái pháp luật tự nhiên đã được nhiều
nhà triết học của thời kỳ khai sáng tiếp tục kế thừa. Có thể kể đến một số tên tuổi
các nhà triết học nổi tiếng của thời kỳ này như Vôn-te (1694- 1778), Mông te ski ơ
(1689-1775).
Theo Vôn-te, các quy luật của tự nhiên cũng thể hiện ra như là nguồn gốc
của các quyền, nó trao cho con người các quyền tự nhiên về tự do và bình đẳng.
Tuy nhiên, khác với con người bản năng trong trường phái pháp lý tự nhiên, ông coi
con người là co người được giáo dục và mang các nguyên tắc đạo đức xã hội. Và vì
vậy, quyền và nhân phẩm phải được mọi thành viên trong xã hội thừa nhận.
Môngteskiơ cho rằng con người không đơn giản là con người tự nhiên
độc
lập với các quan hệ xã hội mà phải gắn với một thể chế nhà nước nhất định và phải

quán, đạo đức đã trở thành một quy phạm pháp luật.
Vic bo v quyn ca con ngi, c bit l quyn tham gia chớnh tr, t do
tụn giỏo, chng li s ỏp bc ca chớnh quyn chớnh l ng l
c ca cuc cỏch
mng Anh nhiu quc gia chõu u. T tng v quyn con ngi cng ó c
k tha trong cỏc vn kin ni ting sau ny nh Tuyờn ngụn c lp ca Hp
Chng quc Hoa K (1776) v Tuyờn ngụn Dõn quyn v Nhõn quyn ca Phỏp
(1789), B lut nhõn quyn Anh. B lut nhõn quyn ca Anh cp n nhi vn
c bn v phỏp lut v quy
n. B lut coi nh vua cng phi chu s iu chnh
ca phỏp lut ging nh bt k cụng dõn no. Nh vua cng phi tụn trng quyn
lc ca quc hi - c quan i din cho nhõn dõn. Mi ngi u cú cỏc quyn c
bn nh c tip cn cụng lý, khụng c trng pht dó man, c xột x cụng
bng Tuyờn ngụn c lp ca M nm 1776 nờu rừ chớnh kh
khụng ch cn phi
c thnh lp da trờn s ng thun ca ngi dõn m cũn phi luụn ghi nh vic
bo v cỏc quyn con ngi vỡ rng tt c mi ngi sinh ra u bỡnh ng, to hoỏ
ó trao cho h nhng quyn bt kh xõm phm, trong nhng quyn ú cú quyn
sng, quyn t do v quyn mu cu hnh phỳc.

9

Cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin
về con ngời và quyền con ngời

TS. Vũ Hùng

Trit hc l khoa hc v th gii quan v phng phỏp lun, ó xut hin
v c tha nhn t thi c i, cỏch õy hn 2000 nm, c phng Tõy v
phng ụng.


10
I. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và giải phóng con người
Con người là đối tượng nghiên cứu khảo sát của nhiều ngành khoa học.
Tuy nhiên, "
chỉ có triết học mới có thể nhận thức được con người một cách
toàn bộ, nhất là ở bình diện duy lý"
(
1)
. Do đó từ xưa đến nay con người vẫn là
một vấn đề triết học lớn, lôi cuốn tư duy triết học của mọi thời đại, cả ở phương
Đông và phương Tây.
Ở phương Đông từ xưa đã có những tư tưởng đề cao con người và vị trí
của con người, đặt con người trong vũ trụ "
Tam tài
" gồm ba ngôi: Trời, Đất,
Người; coi con người là một "
tiểu vũ trụ
" (nhân thân tiểu vũ trụ), thấy dược
giữa con người với thiên nhiên có sự cảm thông ("
thiên nhân tương cảm"
).
Những triết gia lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử… đã đề cập
đến vấn đề con người, bản tính con người, chữ "
nhân
" và đạo làm người với
những quan điểm khác nhau.
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ Hylạp đã có những nhà triết học nổi tiếng
đưa ra quan niệm của mình về con người.
Prô-ta-gô-rát cho rằng: "

2)
, (3)
Xem Lênin: Bút ký triết học, Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr.287, tr.294.
(
4)
Từ điển danh ngôn Đông Tây của Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường, tái bản lần thứ II, Nxb Văn hóa
Thông tin, 1996, tr.76.
(
5)
Từ điển danh ngôn Đông Tây của Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường, tái bản lần thứ II, Nxb Văn hóa
Thông tin, 1996, tr.76.

11
Kế thừa và phát triển những quan điểm tiến bộ về con người, Mác và
Ăngghen đã đề cập đến vấn đề con người một cách toàn diện và sâu sắc, trong
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội, trên quan điểm triết học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Có thể nêu lên một số luận điểm cơ bản
của triế
t học Mác - Lênin về con người như sau:
1. Con người là một bộ phận của tự nhiên và là sản phẩm cao nhất của
quá trình phát triển của tự nhiên
Trong tác phẩm "
Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844"
, Mác đã khẳng
định: "
Giới tự nhiên - nghĩa là giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó
không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người.
Con
người sống bằng giới tự nhiên.
Như thế nghĩa là

ấy quy định hoạt động của mình"
(
8)
.

Như vậy, với quan điểm duy vật biện chứng, Mác - Ăngghen đã tách biệt
và đối lập một cách tương đối
con người
với giới
tự nhiên
để phân tích và
khẳng định nguồn gốc con người là từ tự nhiên, gắn với tự nhiên, và con người

(
6)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.47.
(
7)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tập III, tr.506.
(8)
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tập 29, tr.199.

12
chính là một bộ phận của tự nhiên, trái hẳn với quan điểm duy tâm, siêu hình
cho rằng con người là do "
Thượng đế
" tạo ra.
Tự nhiên, hay giới tự nhiên, gồm tất cả những sự vật tồn tại khách quan,
độc lập với con người, không phải do con người tạo ra, không có sự can thiệp
hoặc tác động của con người, biểu hiện bằng các hình thức muôn hình muôn vẻ.

khác với con cừu chỉ là ở chỗ trong con người, ý thức thay thế bản năng hoặc
bản năng của con người là bản năng đã được ý thức"
(
9)
.
Mác đã phân tích và khẳng định: "
Con vật tự đồng nhất mình một cách

(
9
)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, 1993, tập III, tr.44.

13
trực tiếp với hoạt động sinh sống của nó. Nó là hoạt động sinh sống ấy. Còn
con người thì biến bản thân hoạt động sinh sống của mình thành đối tượng của
ý chí và ý thức, con người có một hoạt động sinh sống có ý thức…
Hoạt động
sinh sống có ý thức
phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của
con vật"
(
10)
.
Lao động sản xuất là một dấu hiệu và tiêu chuẩn rất cơ bản để phân biệt
con người với con vật. Trong tác phẩm "
Hệ tư tưởng Đức"
, Mác và Ăngghen
đã khẳng định: "
Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi

Mác cũng nêu một ví dụ rất hay để so sánh giữa loại "
sản xuất
" có tính
chất thuần tuý bản năng của loài vật với loại sản xuất sáng tạo, có mục đích, có

(
10)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.118.
(
11)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.268.
(
12)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.119 - 120.

14
ý thức của con người: "
Con ong, với những ngăn tổ sáp của mình còn khéo hơn
một nhà kiến trúc nhiều. Nhưng điều phân biệt trước tiên giữa một nhà kiến
trúc tồi nhất và con ong giỏi nhất là nhà kiến trúc trước khi xây dựng từng ngăn
trong tổ ong, thì đã xây dựng từng ngăn đó trong óc mình rồi"
(
13)
.
Lao động sản xuất hiểu theo đúng nghĩa của nó có vai trò đặc biệt quan
trọng, như Ăngghen đã khẳng định, là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời
sống loài người, và trên một ý nghĩa nào đó có thể nói đã sáng tạo ra con người.
Và Ăngghen đã đưa ra một kết luận có giá trị tư tưởng và ý nghĩa phương pháp
luận sâu sắc: "
Sự khác nhau cơ bản giữa xã hội loài người và loài súc vật là ở

C.M¸c: T− b¶n, quyÓn I, tËp I, Nxb Sù thËt, Hµ Néi, 1969, tr.216.
(14)
M¸c - ¡ngghen: TuyÓn tËp, Nxb Sù thËt, Hµ Néi, 1982, tËp III, tr.596 - 597.

15
sống, vì vậy con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng"
(
15)
. "
Khi
Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ đụng đến lịch sử; còn khi ông
có tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật. ở Feuerbach, lịch sử và
chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau"
(
16)
.
Đi đôi với việc phê phán quan điểm duy tâm và siêu hình, Mác đã tiếp
thu những tư tưởng hợp lý, tiến bộ và phát triển thành quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử về con người. Mác khẳng định rằng: "
Do bản tính, con
người không những là một động vật chính trị, như Aristote nói, mà
trong mọi
trường hợp, con người đều là một động vật xã hội"
(
17)
.
Con người là "
động vật xã hội"
, nghĩa là trước hết con người cũng là một
sinh vật, có những chức năng và nhu cầu để tồn tại như mọi sinh vật, nhưng

.

(
15)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 21, tr.420.
(
16)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập 1, tr.286.
(
17)
C.Mác: Tư bản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, quyển I, tập II, tr.23 - 24.
(
18)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.258.
(
19)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.115.
(
20)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 1, tr.337.

16
Xã hội là sản phẩm của mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người và
người, là hình thức sinh hoạt chung có tổ chức với nhiều cấp độ khác nhau của
loài người ở một trình độ phát triển nhất định của lịch sử dựa trên một phương
thức sản xuất nhất định. Con người, theo quan điểm của Mác, "
không phải là
một sinh vật trừu tượng đang ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới
" rất duy tâm và
siêu hình, mà là những con người hiện thực, cụ thể, bằng xương bằng thịt, đang

kiện sinh sống cụ thể riêng biệt, đều chịu sự tác động của môi trường xã hội, và
đều là sản phẩm của "
tổng hòa các quan hệ xã hội"
, hình thành nên những nhân
cách, những bản chất cá nhân khác nhau. Tuy vậy, bản chất cá nhân cũng không
phải là cái gì đơn độc - ở ngoài xã hội mà cũng chính là bản chất xã hội của cá
nhân đó.
3. Con người trong xã hội tư bản bị "tha hóa"
Trong xã hội có đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp, đặc biệt là trong
xã hội tư bản chủ nghĩa, con người bị "
tha hóa
" nặng nề. Khái niệm "
tha hóa
"
vốn là của triết học cổ điển Đức được Mác kế thừa và dùng để phân tích một
cách sâu sắc vấn đề con người trong xã hội tư bản. "
Tha hóa
" (tha = cái khác,
hóa = biến thành) nghĩa là biến thành cái khác, ngược với bản chất vốn có của

(
21)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 2, tr.200.
(
22)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập 1, tr.257.

17
sự vật, của con người. Trong tác phẩm "
Bản thảo kinh tế triết học 1844

man; lao động càng mạnh mẽ thì người công nhân càng bất lực; lao động của
anh ta càng có tinh thần thì bản thân anh ta càng mất hết trí óc và càng bị nô lệ
vào giới tự nhiên"
(
23)
.
Đó là: "
lao động sản xuất ra những vật phẩm kì diệu cho những người
giàu nhưng nó lại sản xuất ra sự cùng khổ của công nhân. Nó sản xuất ra lâu

(23),
(24)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.113, tr.115.

18
đài, nhưng cũng sản xuất ra cả những túp lều lụp xụp cho công nhân. Nó sản
xuất ra cái đẹp, nhưng cũng sản xuất ra sự tàn lụi của công nhân. Nó thay lao
động chân tay bằng máy móc, nhưng nó lại ném một bộ phận công nhân trở về
với lao động dã man và biến một bộ phận công nhân khác thành những cái
máy. Nó sản xuất ra máy móc nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc
cho công nhân"
(24)
.
Đó là: "
Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong
khi được thực hiện những chức năng động vật của mình - ăn, uống, sinh con đẻ
cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức v.v… - còn trong những
chức năng con người của anh ta, thì anh ta cảm thấy mình chỉ là con vật. Cái
có tính súc vật, trở thành cái có tính người, còn cái có tính người thì biến thành
cái có tính súc vật"

phục sự "
tha hóa
" để giải phóng con người.
Giải phóng con người chính là tư tưởng cốt lõi, là điểm xuất phát và cũng
là mục tiêu cuối cùng của triết học Mác - Lênin.

(
25)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.115.
(
26)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.258.

19
Giải phóng con người nghĩa là làm cho con người thoát khỏi sự áp bức
bóc lột, thoát khỏi tình trạng bị kiềm chế, bị giam hãm, trói buộc đau khổ cả về
đời sống vật chất và tinh thần, để làm cho con người được tự do và hạnh phúc.
Đó là "
mệnh lệnh tuyệt đối"
, xuất phát từ chính con người, "
không còn có thể
viện đến danh hiệu lịch sử mà chỉ có thể viện đến danh hiệu
của con người"
, vì
"
bản thân con người là bản chất tối cao của con người
". Trong
Lời nói đầu
tác
phẩm

coi "
bản thân sự giải phóng chính trị còn
chưa phải
là giải phóng con
người"
(
30)
, giải phóng chính trị "
còn xa mới được giải phóng về mặt con người.
Do đó, giải phóng chính trị và giải phóng con người phải có sự khác nhau"
(
31)
.
Có lẽ phải hiểu rằng: giải phóng chính trị là giải phóng giai cấp bị áp bức
bóc lột chiếm số đông trong dân cư thoát khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp

(
27)
Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.26.
(
28)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập I, tr.534.
(
29)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập I, tr.539.
(
30)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 1, tr.546.
(
31)

mật thiết, cả hai vế đều là tiền đề và điều kiện cho nhau tồn tại và phát triển. Và
điều đó đã được Mác chỉ ra rất rõ ràng:
"
Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do
của tất cả mọi người"
(
34)
.
"
Dĩ nhiên là xã hội không thể nào giải phóng cho mình được nếu không
giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt"
(
35)
.
"
Chỉ có trong cộng đồng, cá nhân mới có được những phương tiện để có
thể phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, và do đó, chỉ có trong

(
32)
M¸c - ¡ngghen: Toµn tËp, 1994, tËp 16, tr.24.
(33)
M¸c - ¡ngghen: Toµn tËp, 1994, tËp 20, tr.892.
(34)
M¸c - ¡ngghen: Toµn tËp, 1995, tËp 4, tr.628.
(35)
M¸c - ¡ngghen: Toµn tËp, 1994, tËp 20, tr.406.

21
cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân"

Thái vẫn phải thắng bản chất con người đang gắn anh ta với tư cách con người
với những người khác, vẫn phải tách anh ta ra khỏi những người không phải là
Do Thái
". Mác đã phê phán Brunô: "
Chính bản thân ông ta không hiểu thực
chất của các "quyền" (con người) đó và đã có thái độ giáo điều đối với các
quyền đó"
(
38)
.
Xăng-sô sau khi làm phép thánh cho quyền qua đủ mọi thử thách bằng
nước và lửa và thần thánh hóa nó thì "
Thủ tiêu luôn cả quyền (con người)
"
(
39)
.
Stiếc-nơ "
đã giết chết quyền (con người) chỉ bằng cách tuyên bố nó là
một khái niệm… phát sinh từ cuộc đấu tranh của con người với khái niệm của

(36)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 3, tr.108.
(
37)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập 1, tr.557.
(
38)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập III, tr.132.
(

Trước hết nói về thuật ngữ. Mác và Ăngghen chưa bao giờ đưa ra một
định nghĩa về quyền con người như chúng ta mong muốn, mặc dù các ông đã
nhiều lần nói đến nội dung quyền con người và dùng thuật ngữ "
quyền của con
người
". Thậm chí nhiều khi các ông chỉ dùng chữ "
quyền"
, chúng ta cũng cần
phải hiểu là các ông đang nói đến "
quyền con người
". Chính Mác đã khẳng định
điều đó: "
Còn nói về quyền… quyền dưới một hình thức chung nhất - với ý
nghĩa là quyền của con người"
(
42)
.
Nhiều nhà triết học duy vật Anh và Pháp thời kỳ Phục hưng và ánh sáng
thế kỷ XVII - XVIII với ý thức chống lại tư tưởng phong kiến ràng buộc kìm
hãm con người và đề cao tư tưởng tự do cá nhân của chủ nghĩa tư bản đang lên
cho rằng quyền con người là tự nhiên, là bẩm sinh. Mác không đồng ý với quan
điểm đó, cho rằng "
quyền bẩm sinh
" không phải là cho tất cả mọi người mà chỉ
có ở những người giàu có, có quyền hành trong giai cấp thống trị. Mác đã hài

(
41
)
Mác - Ăngghen: Toàn tập, 1995, tập III, tr.324 - 325.

44)
. Mác cho rằng quyền con người phụ thuộc vào phương thức sản
xuất vật chất, với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, ông khẳng định một
cách duy vật biện chứng nguồn gốc của quyền con người: "
quyền (con người)
phát sinh… từ những quan hệ vật chất giữa người với người và từ sự đấu tranh
giữa người với người do những quan hệ đó gây ra"
(
45)
. Điều đó cũng thêm
chứng tỏ quyền con người không phải là "
thiên phú"
, bẩm sinh, mà có tính chất
lịch sử.
2. Quyền con người vừa có tính giai cấp vừa mang tính nhân loại
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chưa có vấn đề quyền con người như
chúng ta quan niệm. Chỉ khi xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã, loài người từ
bỏ thời đại "
dã man"
, bước sang thời đại văn minh, có giai cấp và đấu tranh giai
cấp thì mới nảy sinh vấn đề quyền con người, do đó quyền con người gắn liền
với xã hội phân chia giai cấp, "
Toàn bộ lịch sử của nhân loại (từ thời kỳ tan rã
của xã hội thị tộc nguyên thuỷ với chế độ sở hữu ruộng đất công cộng sủa nó) là
lịch sử của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp đi bóc lột và bị bóc
lột, giai cấp thống trị và giai cấp bị áp bức"
(
46)
. Đó là cái cơ sở mà Ăngghen nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status