Lời nói đầu
Cách đây khoảng 20,30 năm,nếu hỏi một người nào đó về tri thức khoa
học công nghệ, sẽ chẳng ngạc nhiên khi câu trả lời nhận được là một cái lắc
đầu.Còn hiện nay,mỗi người trong chúng ta chắc chẳng còn lạ lẫm gì nữa với
khái niệm này vì chúng ta có thể bắt gặp nó từng ngày,từng giờ trên các
phương tiện thông tin đại chúng và ngay cả trong cuộc sống thường ngày.
Quả thực vai trò của tri thức khoa học công nghệ ngày càng trở nên to lớn.Nó
đang có những bước phát triển chóng mặt. Tri thức khoa học công nghệ ngày
nay đã và đang trở thành nguồn lực chủ yếu của sản xuất hiện đại. Một đất
nước có thể xem là phát triển hay không không chỉ dựa vào tổng sản phẩm
quốc dân của họ cao hay thấp mà chủ yếu dựa vào sức mạnh công nghệ tương
đối của họ.Việc xây dựng một cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa và một nền
sản xuất công nghiệp hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ
là con đường ngắn nhất,hiệu quả nhất quyết định thành công của quy trình
phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việc phổ cập tri thức
khoa học công nghệ đã phần nào được thể hiện bằng việc đưa các bộ môn Tự
nhiên-xã hội và Công nghệ vào chương trình giáo dục tiểu học và trung học.
Điều đó thể hiện ảnh hưởng của khoa học công nghệ đã và đang lan rộng trên
mọi lĩnh vực của cuộc sống. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế khoa học công
nghệ có thể nói là đã mang lại một số thành tựu và có một vai trò cực kì quan
trọng. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, tôi chỉ xin phép đề cập đến những
khía cạnh,những đóng góp nổi bật của tri thức khoa học công nghệ trong sự
phát triển kinh tế
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin
Nội dung
I. Khái niệm tri thức khoa học, tri thức công nghệ và mối quan hệ
giữa tri thức khoa học và tri thức công nghệ.
Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối
tượng được nhận thức, làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc
tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng
và được diễn đạt bằng ngôn ngữ hay hệ thống ký hiệu khác hay nói cách khác
phương pháp, các quy tắc, các kĩ năng được con người sử dụng để tác động
vào đối tượng lao động nhằm tạo ra 1 sản phẩm nào đó cần thiết cho xã
hội.Có 3 nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:
-Một là : Công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng triển
khai ( trong tương quan với khoa học cơ bản) trong việc vận dụng các quy
luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất
và tinh thần ngày càng cao của con người.
- Hai là: Công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất
kĩ thuật , hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể
hoá thành các công cụ, các phương tiện kĩ thuật cần cho sản xuất và đời sống.
- Ba là: Công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ
thuật, các kĩ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử
dụng vào sản xuất trong các nghành khác nhau để tạo ra các sản phẩm.
3. Mối quan hệ giữa tri thức khoa học và tri thức công nghệ.
Khoa học và công nghệ có quan hệ khăng khít bền chặt với nhau. Ngày
nay khi nói đến công nghệ, người ta hiểu ngay trong nó có khoa học. Trong
công nghệ trí tuệ, tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ngược lại, những tri thức khoa học hiện đại không thể có đựơc nếu thiếu sự
trợ giúp của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.Trong lịch sử xã hội
loài người, khoa học và công nghệ đã từng độc lập tương đối với nhau. Và chỉ
đến ngày nay thì khoa học và công nghệ mới thực sự đồng điệu và gắn bó
chặt chẽ.Khoa học một mặt đã giải quyết được thành công các nhiệm vụ do
kinh tế và công nghệ đặt ra, mặt khác đã nhanh chóng vật thể hoá các tri thức
khoa học thành các trang thiết bị máy móc và công nghệ nói chung để đưa
Thái Vĩnh Hà
3
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin
vào quá trình sản xuất xã hội. Ngược lại, hoạt động của kĩ thuật, công nghệ
càng ngày càng phải dựa vào cơ sở khoa học, chẳng hạn như các lý thuyết vật
lý học, các thành tựu của nghành hoá học, vật lý thực nghiệm…
- Năng lượng.
Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất tạo nên điều kiện tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt công nghệ ảnh hưởng trực tiếp và
quyết định tới khả năng sản xuất sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú để
thoả mãn những nhu cầu phát triển của xã hội. Không có sự phát triển của
công nghệ, đặc biệt là những công nghệ mới, công nghệ có hàm lượng chất
xám cao, thì không thể đa dạng hoá sản xuất và cung cấp cho thị trường nhiều
sản phẩm có ảnh hưởng quyết định tới nền sản xuất và đời sống của xã hội
hiện đại. Nhiều sản phẩm mới chỉ có thể được sản xuất nhờ tiến bộ công
nghệ, đặc biệt những công nghệ cao, mới được thiết kế và đưa vào sử dụng.
2. Thúc đẩy phân công lao động xã hội
Ngày nay cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ làm chuyển biến về
chất của phương thức sản xuất xã hội. Sự chuyển biến này kéo theo hàng loạt
những chuyển biến khác về tính chất lao động sản xuất của con người, về tổ
chức sản xuất và hoạt động kinh tế. Lao động dần từ chỗ chủ yếu là lao động
cơ bắp thủ công với những trang thiết bị kĩ thuật lạc hậu, thô sơ trong những
ngành công nghiệp đơn giản, sử dụng ít chất xám sang những ngành công
nghiệp có hàm lượng trí tuệ, khoa học, kĩ thuật cao. Chính bởi vậy đòi hỏi
phải có chuyên môn hoá và dẫn đến phân công lao động xã hội phát triển.
3. Hạn chế được ảnh hưởng của tự nhiên, cho phép phát triẻn hoạt
động kinh tế ngay cả khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi.
Trong nhiều trường hợp, những điều kiện sản xuất mới đòi hỏi phải có
những công nghệ sản xuất phù hợp. Chẳng hạn trong các điều kiện đặc biệt
độc hại, con người không thể hoạt động được nhưng lại rất cần tiến hành (làm
việc dưới độ sâu lớn, ở những nơi có cường độ phóng xạ cao, những nơi có độ
cao lớn…) cần có những công nghệ được thiết kế riêng, thích ứng với những
đặc điểm của môi trường hoạt động.Hay nói cách khác chính khoa học kỹ
thuật đã nối dài khí quan cho con người.
Thái Vĩnh Hà
5
Ở tất cả các nước công nghiệp phát triển, sự hình thành và phổ biến công
nghệ mới, từ nhiều năm nay đã trở thành bộ phận quan trọng nhất trong chính
sách công nghiệp, khoa học và công nghệ.
Từ giữa thế kỷ 20, Mỹ đã trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về tiến bộ
khoa học công nghệ . Cho đến những năm 60-70, Liên Xô là nước cạnh tranh
với Mỹ về một số lĩnh vực khoa học công nghệ, nhưng đến những năm 80
Liên Xô đã mất khả năng cạnh tranh với Mỹ. Đến giữa những năm 90 mới
xuất hiện một số nước (Đức, Anh, Pháp và Nhật Bản) có khả năng cạnh tranh
với Mỹ trên một số thị trường công nghệ.
Mỹ có được vị thế lãnh đạo thế giới về công nghệ là do nước này đã có
chính sách phát triển dài hạn khoa học công nghệ và với chi phí cho nghiên
cứu và phát riển (R&D) lớn.
Mức chi phí cho R&D của Mỹ và các nước OECD:
Chỉ tiêu 1989 1991 1993 1995 1996 1998
Mức chi phí của Mỹ
cho R&D (tỷ USD)
143,8 160,7 165,0 179,1 184,7 198,3
Mức chi phí của 27
nước OECD (tỷ USD)
317,4 363,8 382,2 409,7 412,9 445,2
Tỷ lệ chi phí của Mỹ
trên chi phí của 27 nước
OECD (%)
45,3 44,2 43,5 43,6 44,7 44,5
Thái Vĩnh Hà
7
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin
Tỷ trọng chi phí cho R&D so với GDP của một số nước công nghiệp phát
triển (%)
Nước 1990 1997
máy bay; công nghệ gen và các hệ sinh khối; các hệ thống điện tử; công nghệ
thông tin và truyền thông; chế phẩm y học; sản phẩm nông nghiệp; công nghệ
hạt nhân nhiệt hạch; nhiên liệu và nguyên liệu nhân tạp; công nghệ lade và
bán dẫn; các hệ vũ khí thế hệ mới. Tổng giá trị xuất khẩu các loại sản phẩm
này của Mỹ từ 1990 đến 1996 đạt 615,9 tỷ USD, trong đó sản phẩm kỹ thuật
điện tử, máy bay - thiết bị vũ trụ, công nghệ thông tin và truyền thông chiếm
91-93%.
Tại châu Âu, cũng giống như ở các khu vực phát triển khác của thế giới,
vai trò của các yếu tố khoa học, công nghệ và đầu tư ngày càng trở nên quan
trọng đối với phát triển kinh tế. Ngay cả đối với một vài nước, nhịp độ tăng
trưởng kinh tế và năng suất lao động có chậm lại đôi chút, nhưng phần lớn
các nước Tây Âu vẫn tăng cường đầu tư cho R&D. Châu Âu coi việc đầu tư
cho R&D là nguồn chính để phát triển kinh tế và phục lợi xã hội. Trong thập
niên cuối cùng của thế kỷ 20, Tây âu đã đầu tư cho "tri thức", tức là đầu tư
cho R&D, đào tạo đại học, công nghệ thông tin và truyền thông tăng với nhịp
độ cao hơn đầu tư cho sản xuất. Trong giai đoạn 1990-1998, trong khi tốc độ
tăng trưởng trung bình hàng năm của toàn khu vực công nghiệp của EU là
1,46%, thì tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực công nghiệp dựa vào tri thức
(Knowledge-Based industries) đạt trên 2%.
Cơ cấu đầu tư cho công nghệ "tri thức" thể hiện rõ ở các nước EU, phản
ánh tính chất chuyên môn hoá trong việc hình thành nền kinh tế "mới". Các
nước áo, Đức, Pháp, Thuỵ Điển đã dành trên 50% tổng chi phí đầu tư cho
khoa học công nghệ cho R&D. Định hưởng cho các lĩnh vực công nghệ "tri
thức". Hầu hết các nước châu Âu (Tây Âu và Bắc Âu) đều ưu tiên đầu tư phát
Thái Vĩnh Hà
9
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin
triển công nghệ thông tin và truyền thông, trong đó có khâu đảm bảo chương
trình.
Xu hướng chung thứ hai trong cơ cấu đầu tư cho khoa học công nghệ ở
mạnh và phát triển giáo dục trong suốt thời kỳ kháng chiến mà thanh niên ta đã
hiểu được nghĩa vụ công dân của mình, có điều kiện tiếp thu kỹ thuật và sử dụng
những vũ khí hiện đại góp phần đánh thắng quân xâm lược. Trong công cuộc xây
dựng đất nước những năm thực hiện đường lối đổi mới, có được những thành tựu
như ngày nay, cũng phải nói là có sự đóng góp không nhỏ của khoa học - công
nghệ. Nhưng bước vào giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học - công nghệ của Việt Nam đã bộc lộ những
yếu kém và bất cập trầm trọng
Trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam, Ðảng đã có nhận thức kịp thời và sáng suốt về vai trò của
giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, đặt sự nghiệp quan trọng này vào
trọng trách phục vụ đắc lực công cuộc CNH, HÐH đất nước. Với Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa VII) xác định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công
nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Đại hội lần thứ VII, lần thứ IX của
Đảng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ trong
quá trình đẩy mạnh và rút ngắn thời kỳ CNH - HĐH đất nước.
Khoa học - công nghệ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu mới rất lớn để
phục vụ đắc lực cho những mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra cho năm 2020 và xa
hơn nữa. Yêu cầu đối với giáo dục - đào tạo là phải có bước đột phá, không
chỉ để khắc phục những tồn tại trầm trọng hiện nay, không chỉ để tiến nhanh,
tiến mạnh như các nước khác mà phải tiến lên vượt bậc. Có như thế khoa học
- công nghệ mới góp phần làm cho đất nước không còn tụt hậu so với các
nước trong khu vực, mà từng bước vươn lên ngang tầm với thế giới. Có thể
nói trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
khoa học và công nghệ có trách nhiệm to lớn và nặng nề hơn bao giờ hết đối
với vận mệnh, tương lai của đất nước. Chúng ta cần làm cho nhận thức về
trách nhiệm này được thống nhất cao trong toàn Ðảng, Nhà nước và xã hội,
tạo thành sức mạnh, động lực để đưa khoa học và công nghệ thật sự là quốc
Thái Vĩnh Hà
11
Thái Vĩnh Hà
12
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin
- Giai đoạn 1996-2000, tổng quỹ tích luỹ tăng bình quân hàng năm là
9,5%, nhưng đến giai đoạn 2001-2005 đã tăng bình quân là 11,3%.
- Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP: năm 1990 đạt
15,2% GDP, năm 1995 đạt 20%, năm 2000 đạt khoảng 17% (do ảnh hưởng
khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, năm 2005 đạt 24,4%.
- Thu chi ngân sách có nhiều tiến bộ, mức tăng thu là 19,1%/năm, tỷ lệ
huy động GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt 24,4% (mục tiêu
20-21%), trong đó tỷ trọng thu nội địa tăng lên (năm 2001 là 50,7%, năm
2005 là 55%). Tổng chi ngân sách giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân
19,4%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển chiếm bình quân 28% (mục tiêu là
25-26%).
-Tỷ lệ tiết kiệm bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 tăng 9%/năm
(kế hoạch là 5,5%). Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trong GDP tăng nhanh. Năm
1990, vốn đầu tư phát triển trong GDP là 17,3% , đến năm 2000 là 28% và
năm 2005 là 38,7%.
Thứ hai. Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và hoàn thiện hơn
đã thúc đẩy khả năng phát triển kinh tế và nâng cao mức sống dân cư. Hiện
nay Việt Nam đạt mật độ 0,63 km đường/km2 bề mặt, ngang bằng với những
nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan. Đến cuối năm
2005, cả nước có khoảng 17.300 km chiều dài quốc lộ và khoảng 3.400 km
đường sắt. Đến năm 2006, tổng công suất nguồn điện vào khoảng 11.440
MW, trong đó thuỷ điện chiếm 42,5%, nhiệt điện (than, dầu, khí) chiếm
66,5%. Năm 2005, sản lượng điện thương phẩm khoảng gần 46 tỷ kwh. Hệ
thống thủy lợi 5 năm 2001-2005 bảo đảm năng lực tưới thêm 300 nghìn héc-
ta, năng lực tiêu tăng thêm 146 nghìn héc-ta, năng lực ngăn mặn tăng thêm
226 nghìn héc-ta
Kết cấu hạ tầng nông thôn cấp xã đến cuối năm 2005 đã có nhiều tiến bộ
trọng.Chính vì lẽ đó, chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ phải
trong quá trình luật pháp hoá một cách khoa học, hướng vào sự nghiệp đổi
mới và phát triển bền vững đất nước được mọi quốc gia phát triển và đang
phát triển quan tâm. Chiến lược, chính sách khoa học và công nghệ hoàn
thiện, đúng đắn, phù hợp với các qui luật tự nhiên, xã hội, nhân tâm, có tính
pháp lý cao sẽ tạo điều kiện mở ra khả năng huy động mọi nguồn lực quốc
gia, nguồn dự trữ tài nguyên, khoáng sản, nhân lực (chất xám) và tài lực của
đất nước cũng như khai thác các khả năng quan hệ quốc tế để phát triển khoa
học và công nghệ nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hoá,
tăng trưởng nền kinh tế, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, công bằng
theo xu thế phát triển bền vững.
Thái Vĩnh Hà
15