ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN NHỮNG NLCB CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN I
(Đây là đề cương mình tự làm theo sự hướng dẫn của thầy Thắng – GV dạy triết lớp mình, các bạn tham khảo nhé,
chúc các bạn thi cuối kì đạt kết quả cao!)
KT: Đức Phạm
Ôn thi cuối kì chú trọng những nội dung sau:
1. Tiền đề và sự ra đời chủ nghĩa Mác-Lênin
2. Phạm trù vật chất
3. Phạm trù ý thức
4. Quan hệ tồn tại XH và ý thức XH
5. Nguyên nhân-kết quả,cái chung-cái riêng
6. Thực tiễn,vai trò thực tiễn
7. Nhận thức,chủ nghĩa biện chứng
8. Vai trò của quần chúng
Chương I: Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nội dung 1: Những vấn đề cơ bản của Triết học.
Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ tư duy và tồn tại.
Nội dung của các vấn đề cơ bản của Triết học: 2 mặt cơ bản:
- Mặt thứ nhất: Giải thích trong mối quan hệ vật chất – ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết
định cái nào?
Theo chủ nghĩa duy vật (Triết học duy vật): Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định và sản sinh ra
ý thức. (Nhất nguyên duy vật)
theo chủ nghĩa duy tâm: ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất. (Nhất nguyên duy tâm).
Triết học nhị nguyên cho rằng cả vật chất và ý thức đều tồn tại độc lập, chúng không nằm trong quan hệ sản
sinh hay quyết định nhau. Triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hòa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm, nhưng về bản chất triết học nhị nguyên theo CNDT.
- Mặt thứ hai: Ý thức có phải là sự phản ánh thế giới vật chất hay không, hay con người có khả năng nhận thức
thế giới hay không?
Khả tri luận: Tuyệt đại đa số các nhà triết học trong lịch sử (cả DV và DT) đều thừa nhận khả năng nhận thức
của con người. Tuy nhiên họ quan niệm khác nhau về nhận thức.
Bất khả tri: Phủ nhận hoặc hoài nghi khả năng nhận thức của con người. Có 2 dang: Con người hoàn toàn
không biết gì về thế giới (Hium – Anh); Con người chỉ nhận được hiện tượng chứ không nhận được bản chất
Tiền đề về khoa học tự nhiên: Vật lí học: ĐL bảo toàn và chuyển hóa NL.
Học thuyết tế bào
học thuyết tiến hóa về loài -> CNDV biện chứng.
Câu 3: CNDV trước Mác là CNDV không triệt để vì giải thích tự nhiên: Duy vật siêu hình, xã hội: Duy tâm.
Câu 4: Sai vì: CNDV Phoibach: không triệt để CNDV Biện chứng: Triệt để
Phép biện chứng Hê ghen: Duy tâm Mác: Duy vật.
Nội dung 3: Phạm trù vật chất:
Câu 1: So sánh quan điểm vật chất trong lịch sử triết học duy vật trước Mác với quan điểm về vật chất của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Câu 2: Phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lê nin? Ý nghĩa, giá trị khoa học của vật chất?
Câu 3: Sư phân biệt vật chất và ý thức là tương đối hay tuyệt đối?
Thời kì cổ đại: Đồng nhất vật chất với một dạng vật cụ thể. -> Quan điểm vật chất thời kì cổ đại mang tính trực
quan, cảm tính.
Thời kì cận đại: Đồng nhất vật chất với thuộc tính của vật -> Siêu hình, máy móc.
Quan điểm của CNDV về phạm trù vật chất.
Định nghĩa vật chất của Lê nin: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phẩn ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác.
Nội dung định nghĩa phạm trù vật chất của Lê nin:
+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con
người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được.
+ Vật chất là cái gây nên cảm giác của con người khi trức tiếp hoặc gián tiếp tác động nên giác quan của con
người.
+ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ảnh của vật chất.
Ý nghĩa của định nghĩa:
+ Giải quyết triệt để 2 mặt trong vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của CNDV biện chứng.
+ Khắc phục hạn chế, sai lầm của CNDV trước Mác về phạm trù vật chất, bác bỏ, phủ nhận quan điểm của
CNDT về tôn giáo và vấn đề này.
+ Tạo cơ sở cho các nhà triết học duy vật biện chững xây dựng quan điểm vật chất trong lĩnh vực đời sống xã
hội.
mới có điều kiện để thực hiện sự phân hóa tiếp theo.
+ Vận động cá biệt có xư hướng hình thành sự vật ổn định nào đó còn vận động nói chung, tức là tác động qua
lại giữa các sự vật hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi.
Nội dung 5: Ý thức
Quan điểm về ý thức:
Quan điểm duy tâm: Ý thức có trước, vật chất có sau. Cả DTCQ và DTKQ đều tách ý thức ra khỏi vật chất.
Quan điểm của CNDV trước Mác: Vật chất có trước, ý thức có sau, không giải thích đúng về nguồn gốc của ý
thức
CNDV biện chứng: Xây dựng nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên:
+ Ý thức là một dạng thuộc tính của cơ quan có tổ chức cao là bộ não người.
+ Bộ não là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, cấu trúc vật chất phức tạp nhất.
+ Bộ não là khí quan vật chất của ý thức. ý thức là chức năng phản ảnh của bộ não.
Nguồn gốc xã hội: Ý thức ra đời cùng quá trình hình thành bộ não con người nhờ có lao động, ngôn ngữ và các
mối quan hệ xã hội.
Bản chất của ý thức:
Quan điểm DT: Ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất và sinh ra vật chất.
Quan điểm DV siêu hình: Ý thức phản ánh thế giới vật chất tồn tại khách quan, tuy nhiên đó là sự phản ánh thụ
động, đơn giản, máy móc.
Quan điểm của CNDVBC: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người một cách
năng động, sáng tạo.
Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh, ý thức không có tính vật chất.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo
lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội.
Phản ánh ý thức là sự phản ánh sáng tạo.
Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội.
Chương 2: Phép biện chứng duy vật
Nội dung 1: Hai nguyên lí: Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí về sự phát triển.
* Nguyên lí về mỗi liên hệ phổ biến:
Khái niệm mối liên hệ:
Sự phát triển mang tính khách quan
Sự phát triển mang tính phổ biến
Sự phát triển mang tính đa dạng, phong phú.
Ý nghĩa phương pháp luận:
Khi xem xét sự vật hiện tượng cần có quan điểm phát triển:
+ Xem xét sự vật hiện tượng cần đặt chúng trong sự phát triển không ngừng, vạch ra xu hướng biến đổi của
chúng.
+ Phân chia quá trình phát triển thành nhiều giai đoạn, tìm ra phương thức nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của nó.
+ Khi giải quyết vấn đề cần đặt nó ở trạng thái động, nằm tỏng khuynh hường phát triển.
+ Khái quát những điều biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.
+ Đòi hỏi phân chia quá trình phát triển thành các giai đoạn, tìm biện pháp thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển, tìm hiểu xem sự phát triển là có lợi hay có hại cho con người.
Nội dung 2: Các cặp phạm trù cơ bản của triết học.
- Cặp phạm trù cái chung – cái riêng
Nội dung:
* Quan điểm của phái duy danh và phái duy thực
Phái duy danh: Cho rằng chỉ có cái riêng mới tồn tại còn cái chung là trống rỗng, do tư tưởng của con người tạo
ra.
Phái duy thực: Cho rằng chỉ có cái chung mới tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, không phụ
thuộc vào cái riêng, sinh ra cái riêng.
* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Cho rằng cả cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. MQH
biểu hiện như sau
Thứ nhất: Cái chung tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình
Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, không có cái riêng nào tồn tại độc lập tách rời
tuyệt đối cái chung.
Thứ ba: Cái riêng là toàn bộ, phong phú hơn cái chung.
Thứ tư: Cái chung sâu sắc hơn cái riêng.
Thứ năm: cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất. Sự thay đổi
căn bản về chất được gọi là bước nhảy. Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất
mới ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thaythế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp
tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới. Cứ như vậy, quá trình vận động, phát triển của sự vật
diễn ra theocách thức từ những thay đổi về lựợng dẫn đến những thay đổi về chất một cách vô tận. Đó là quá
trình thống nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận động, phát triển.
+ Sự tác động trở lại của chất đối với lượng. Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự
tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù hợp với nó để
có sự thống nhất mới giữa chất là lượng. Sự quy định
Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần thường xuyên, kiên trì tích lũy lượng để khi có đủ
điều kiện thực hiện biến đổi về chất.
+ Cần chống cả 2 tư tưởng: Nóng vội chủ quan cũng như thụ động trong khi thực hiện các bước nhảy
+ Phải biết gắn kết các điều kiện và tình hình cụ thể, tránh máy móc, rập khuôn.
Không thể đồng nhất chất với thuộc tính vì chất chỉ gồm các thuộc tính cơ bản, không bao gồm toàn bộ các
thuộc tính.
Phân biệt chất và thuộc tính : mang tính tương đối.
Quy luật mâu thuẫn:
Nội dung: Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, những khuynh hướng
đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra
đời của cái mới.
Phân tích nội dung quy luật
a. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và mang tính phổ biến, là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng, chỉ thừa
nhận có sự đối kháng, sự xung đột bên ngoài giữa các sự vật hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là có
tính quy luật.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong;
mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau,
những mặt đối lập nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành mâu thuẫn.
mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy tồn tại rất đa dạng; tính đa dạng được quy định bởi đặc điểm của các
mặt đối lập, điều kiện thực hiện sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà
trong đó mâu thuẫn tồn tại.
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, người ta phân loại thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng
một sự vật hiện tượng; mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác
(ví dụ: đồng hóa-dị hóa: bên trong; cơ thể-môi trường: bên ngoài); cách phân loại này chỉ mang tính tương đối,
các mâu thuẫn tác động lẫn nhau và mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự vận động và
phát triển của sự vật hiện tượng (ví dụ: chính sách đối nội-đối ngoại)
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, người ta phân loại thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng
một sự vật hiện tượng; mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác
(ví dụ: đồng hóa-dị hóa: bên trong; cơ thể-môi trường: bên ngoài); cách phân loại này chỉ mang tính tương đối,
các mâu thuẫn tác động lẫn nhau và mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự vận động và
phát triển của sự vật hiện tượng (ví dụ: chính sách đối nội-đối ngoại)
Căn cứ vào vai trò mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn chủ yếu là
mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật hiện tượng, giải quyết nó tạo
điều kiện giải quyết các mâu thuẫn thứ yếu; phân biệt mâu thuẫn chủ yếu với mâu thuẫn thứ yếu chỉ mang tính
tương đối, trong cùng một sự vật trong điều kiện này là mâu thuẫn thứ yếu, trong điều kiện khác lại là mâu
thuẫn chủ yếu.
Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập trong xã hội, người ta phân chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu
thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những
xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau (ví dụ); mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những
lực lượng, những khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích những mang tính cục bộ, tạm thời (ví dụ: mâu
thuẫn trong các bộ phận công nhân, giữa thành thị-nông thôn). Phân biệt được các loại mâu thuẫn trên sẽ góp
phần xác định chính xác phương pháp giải quyết phù hợp: bằng bạo lực cách mạng hay bằng giáo dục thuyết
phục.
Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Muốn nhận ra bản chất sự vật hiện tượng cần phát hiện ra mâu thuẫn, phải thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách
quan, phải biết phân loại, đánh giá đúng vai trò từng loại mâu thuẫn.
phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng như màu sắc, mùi, vị, độ rắn
+ Tri giác là hình thức kế tiếp sau cảm giác. Tri giác không phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, mà phản ánh
nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ giữa chúng với nhau: tri giác được hình thành từ nhiều
cảm giác kết hợp lại. Cũng giống như cảm giác, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cánh trực tiếp thông
qua các giác quan.
+ Biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động.
Biểu tượng xuất hiện trên cơ sở những hiểu biết về sự vật do tri giác đem lại. Biểu tượng là hình ảnh về sự vật
được lưu giữ trong chủ thể nhận thức khi sự vật không còn hiện diện trực tiếp trước chủ thể. Con người không
cần quan sát trực tiếp sự vật mà vẫn hình dung ra chúng dựa trên sự tiếp xúc nhiều lần trước đó. Do đó ở biểu
tượng, nhận thức đã ít nhiều mang tính chất gián tiếp. Biểu tượng là khâu trung gian giữa trực quan sinh động
và tư duy trừu tượng.
b) Tư duy trừu tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức gồm các hình thức khái
niệm, phán đoán, suy lý:
+ Khái niệm là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng.
Nó phản ánh, khái quát những đặc tính cơ bản và phổ biến của một lớp các sự vật, hiện tượng nhất định.
Khái niệm được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn, là kết quả của sự khái quát những tri thức do trực
quan sinh động đem lại.
+ Phán đoán là sự vận dụng các khái niệm trong ý thức con người để phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng cũng như các thuộc tính, tính chất của chúng.
Có rất nhiều loại phán đoán khác nhau: phán đoán khẳng định, phán đoán phủ định, phán đoán phổ biến, phán
đoán đặc thù và phán đoán đơn nhất.
+ Suy lý là quá trình lôgíc của tư duy tuân theo quy luật nhất định để tạo ra một phán đoán mới từ những phán
đoán tiền đề.
Tính chân thực của phán đoán kết luận phụ thuộc vào tính chân thực của phán đoán tiền đề cũng như tính hợp
quy luật của quá trình suy luận.
c) Sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
- Nhận thức cảm tính khác nhận thức lý tính ở chỗ: nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp, phản ánh khách thể
một cách trực tiếp, đem lại những tri thức cảm tính. Ngược lại, nhận thức lý tính là giai đoạn cao, phản ánh
khách thể một cách gián tiếp, khái quát đem lại những tri thức về bản chất và quy luật của khách thể.
- Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức, dựa trên cơ sở thực tiễn
quan hệ sản xuất phát triển.
Như vậy, ở trạng thái phù hợp thì cả ba mặt của quan hệ sản xuất phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất nên sẽ là cơ sở cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó.
+ Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp
thành không phù hợp, đó là trạng thái mẫu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mẫu thuẫn này
càng ngày càng gay gắt làm cho quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất.
+ Song, do yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất
cũ bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp sự phát triển của trình độ sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất
tiếp tục phát triển. Khi thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới tức là phương thúc sản xuất cũ
mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời để thay thế.
- Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Quan hệ sản xuất không phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng sản xuất mà nó quy định mục đích của sản xuất,
có tác động đến thái độ của người lao động, đến phân công lao động, đến sự phát triển và ứng dụng của khoa
học công nghệ nên từ đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đấy lực lượng sản xuất
phát triển. Nếu quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hay tiên tiến một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Tuy nhên việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không hề đơn giản mà thông
qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp thì phải thông qua giai cấp,
thông qua cách mạng xã hội.
Tóm lại: Quy luật này là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại qua các chế độ
xã hội, làm cho xã hội loài người thay thế lẫn nhau từ thấp đến cao. Trong các quy luật xã hội thì quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật căn bản nhất.
Nội dung 3: Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng: Mọi năm thường không thi đến nhưng năm nay có
nằm trong nội dung thi)
Nội dung 4: Tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
1. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định.
8
+ Tồn tại xã hội quyết định sự ra đời của ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc
- Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình.
+ Kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội thể hiện ở những quan điểm, lí luận của mỗi thời đại đều dựa
trên cơ sở tài liệu lí luận của thế hệ trước. Kế thừa thể hiện tính tất yếu khách quan, tính tiến lên trong sự phát
triển.
+ Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển nên không thể giải thích một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào
những quan hệ kinh tế có mà không chú ý đến các giai đoạn phát triển trước đó.
+ Trong xã hội có giai cấp, tính kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính giai cấp của nó. Những giai cấp khác
nhau kế thừa những nội dung và ý thức khác nhau của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận các di
sản tiến bộ của xã hội củ để lại. Giai cấp lỗi thời thì tiếp thu khôi phục những tư tưởng phản tiến bộ của thời kì
lịch sử trước.
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng:
- Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội.
Theo hai khuynh hướng đối lập: Ý thức xã hội phản ánh đúng thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển; ý thức xã hội
không phản ánh đúng kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội.
Mức độ tác động phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vị trí, vai trò giai cấp đề ra tư tưởng, đúng sai của hệ tư tưởng;
mức độ truyền bá tư tưởng trong quấn chúng nhân dân.
Nội dung 5: Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân lãnh tụ trong sự phát triển của lịch sử:
1. Quần chúng nhân dân:
- Khái niệm:
+ Là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, tầng lớp và những giai cấp, liên kết
thành một tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức, đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội của một thời đại nhất định.
+ Là một phạm trù lịch sử, nhưng trong mọi thời đại quần chúng nhân dân đều bao gồm các bộ phận dân cư
sau: Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất có giá trị tinh thần; Những bộ phận dân cư chống lại
giai cấp thống trị; Những giai cấp, tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
9
- Vai trò của quần chúng nhân dân:
Quan điểm phi Macxit:
*Quan điểm tôn giáo cho rằng sự p.triển của lịch sử là do mệnh trời quyết định, trời trao quyền đó cho các cá
nhân thực hiện.
thời đại.
Nội dung 6: Học thuyết hình thái kinh tế xã hội
Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là sự phát triển của lịch sử tự nhiên:
+ Xã hội phát triển qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, tương ứng với mỗi giai đoạn nhất định là một hình thái
kinh tế xã hội.
+ Sự vận động, thay thế các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử do các quy luật khách quan chi phối. Đó là
một quá trình lịch sử tự nhiên.
+ Nguồn gốc sâu xa của sự vận động và phát triển của xã hội là do sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Quy luật chung của nhân loại đi từ thấp tới cao, Song mỗi dân tộc đều có thể bị chi phối bới các điều kiện tự
nhiên, chính trị, truyền thống, văn hóa, và điều kiện quốc tế. Do đó có những dân tộc có thể bỏ qua một số hình
thái kinh tế xã hội nào đó. Song sự bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử tựu nhiên chứ không phải
do ý muốn chủ quan.
10