Tiểu luận triết học mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước ở việt nam - Pdf 56

MỤC LỤC

Đề tài: Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá
trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam.

A) ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới (được tính từ mốc năm 1986) đến nay, Đảng ta luôn chủ trương:
''Đổi mới mạnh mẽ về kinh tế và giữ vững sự ổn định về chính trị''. Nhìn lại công cuộc đổi mới, chúng
ta đã giành được rất nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội đưa đất nước tiến những bước vững chắc và
hết sức ngoạn mục. Trong suốt hơn 30 năm đó, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
ngày càng được xác định như là mối quan hệ cơ bản và quan trọng hàng đầu trong quá trình đổi mới
đất nước, là nội dung quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước. Hơn thế nữa, nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ này còn là khâu đột phá trong lý
luận của Đảng về công cuộc đổi mới tiến lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.


Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, người viết đề tài với tham vọng làm rõ và cụ thể hóa các
nhiệm vụ cần làm trong quá trình giải quyết mối quan hệ chính trị và mối quan hệ kinh tế. Từ đó, kiến
nghị một số giải pháp để đẩy nhanh quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta.
Xác định được nhiệm vụ trên, nhiệm vụ của đề tài là tổng kết và nhìn nhận lại quá trình giải quyết mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị từ 1986 đến nay trên cơ sở đó kế thừa các thành tựu
đã đạt được về mặt lý luận để tiếp tục vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để
tiếp tục giải quyết mối quan hệ nói trên và kiến nghị những giải pháp cụ thể.
Trong khuôn khổ của đề tài tiểu luận, đề tài sẽ trình bày các khái niệm về đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị từ đó hướng tới việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với các phương pháp khác như phân tích,
tổng hợp, thống kê….

B) GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta
từ khi đổi mới đến nay. Sự nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề này của
Đảng cũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới
của Đảng.
Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đã nhấn mạnh quá mức vai trò
kiến trúc thượng tầng, coi chính trị là thống soái, quyết định kinh tế và tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội; chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế trong quan
hệ với chính trị. Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản về tác
động của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với cơ sở kinh tế. Chính trị can
thiệp quá sâu vào các quá trình kinh tế - xã hội bằng hệ thống những mệnh lệnh
chủ quan của các cơ quan quản lý các cấp. Và thiết chế, bộ máy hành chính còn
quan liêu, cửa quyền, cồng kềnh, kém hiệu quả.
Từ khi đổi mới đến nay, về quan điểm Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay từ đầu
đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị” 1. Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận cả
về mặt thực tiễn.
Đứng trước những khó khăn của thời kỳ mới nhưng Đảng ta vẫn thể hiện bản
lĩnh chính trị vững vàng, sáng tạo để thay đổi tư duy, vận dụng linh hoạt chủ
nghĩa Mác – Lênin được thể hiện trong Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung


ương khoá VI (3-1989) quyết định các nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo toàn bộ quá
trình đổi mới theo đúng định hướng XHCN: “Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục
những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời
đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo vào phát triển chứ không phải xa rời
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”.
Từ việc xác định được tư duy đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định và giải quyết mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị tại Hội nghị lần 6 Ban Chấp
hành Trung ương khoá VI như sau: “Chúng ta tập trung sức làm tốt đổi mới kinh
tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ

mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được. Nhiều
hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục.
Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa còn nhiều khó khăn. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một
số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
chuyển biến chậm.
Đại hội XII cũng xác định các nhiệm vụ trọng tâm mà trong đó
đổi mới chính trị sau thời gian dài Đảng ta tập trung đổi mới
kinh tế nay đã trởn nên không còn phù hợp với tốc độ đổi mới
kinh tế, thậm chí trong một vài khía cạnh đã xuất hiện lực cản
đối với đổi mới kinh tế. Tại Đại hội Đảng ta xác định việc tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tinh gọn bộ máy, hệ thống
chính trị là vấn đề tiên quyết ưu tiên hàng đầu của đổi mới
chính trị. Bên cạnh đó vấn đề đổi mới kinh tế vẫn phải được tiến
hành đồng bộ theo phương hướng chuyển từ đổi mới kinh tế
chiều rộng sang đổi mới kinh tế theo hướng phát triển chiều
sau.


2.2 Giải quyết mối quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị trong giai đoạn hiện nay và các giải pháp cụ thể
hướng tới Đại hội Đảng lần thứ XIII:

Nhìn lại quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị trong tiến trình đổi mới có thể đúc rút ra một
số vấn đề về lý luận như sau:

chủ nghĩa là trọng tâm trong hoạt động đổi mới hiện nay. Hệ
thống lý luận hiện nay về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng tương đối cơ bản góp phần
tác động đến sự phát triển tích cực mọi mặt của đời sống kinh
tế xã hội nước ta, phục vụ kịp thời yêu cầu về xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển vững chắc nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ có hiệu
quả công cuộc đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, cùng với tốc độ
đổi mới kinh tế ngày càng diễn ra nhanh chóng là sự phát triển
của nền kinh tế thị trường và những khuyết tật cố hữu của nó
đã tác động tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Hệ thống lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội đã
thể hiện nhiều thiếu sót, chưa theo kịp với tốc độ đổi mới kinh
tế và đòi hỏi đổi mới chính trị, làm nhân dân mất niềm tin vào
sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của công cuộc đổi mới.
Chính vì vậy, theo quan điểm của người viết, hiện nay hệ thống
lý luận cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Một là, cần xác định rõ đặc điểm“xã hội chủ nghĩa” của nhà
nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng một cách đầy đủ.
Đến nay đã có những ý kiến cho rằng, nếu chỉ dựa trên cơ sở
tính pháp chế và dân chủ thì bất cứ nhà nước pháp quyền nào
trên thế giới cũng như vậy. Còn như lập luận nhà nước pháp
quyền của chúng ta mang đặc trưng xã hội chủ nghĩa là ở cơ sở
kinh tế có tính định hướng xã hội chủ nghĩa thì vẫn chưa rõ và
có phần vội vàng, thiếu sức thuyết phục. Bởi vì, khi nền kinh tế -


tức là cơ sở hạ tầng mới chỉ mang tính định hướng xã hội chủ
nghĩa, thì nhà nước – tức kiến trúc thượng tầng (là cái bị quyết
định trong mối quan hệ với cơ sở hạ tầng – nền kinh tế) có thể

quan hệ với sự lãnh đạo của Đảng.
Bốn là, làm rõ các cơ chế đẻ bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát
của nhân dân, của Mặt trận tổ quốc, của các đoàn thể chính trị xã hội đối với hoạt động của Nhà nước. Sở dĩ vấn đề này đưa ra
xem xét là vì mọi quyền hành chỉ thực sự thuộc về nhân dân
khi nhân dân có một cơ chế phù hợp để có thể trực tiếp giám
sát các hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, của hội
đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, cũng
như giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và công
chức nhà nước. Phải có cơ chế thích hợp để cử tri có thể bày tỏ
sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của mình đối với các đại biểu mà
mình bầu ra, tạo điều kiện để các đại biểu gắn bó hơn với cử tri,
đề cao ý thức trách nhiệm của người đại diện nhân dân.
Năm là, đổi mới tư duy pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật của nước ta. Mặc dầu trong gần 30 năm đổi mới
toàn diện của đất nước, chúng ta đã có nhiều đổi mới trong lĩnh
vực lập pháp, song hệ thống luật pháp của chúng ta cho đến
nay vẫn tỏ ra chưa theo kịp thực tiễn và còn nhiều bất cập. Do
vậy, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu
đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra một cách cấp thiết hơn,
nhằm xây dựng hệ thống luật pháp của Việt Nam một cách
hoàn chỉnh và ổn định hơn, làm cơ sở cho Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đổi mới tư duy pháp lý cần hướng đến giải quyết những nhiệm
vụ như xác định mô hình luật pháp của nước ta; nghiên cứu,
tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước trong lĩnh vực xây
dựng và thực thi các thể chế pháp lý, để tiếp thu có chọn lọc


các giá trị và kinh nghiệm trong lĩnh vực này; đổi mới công tác
kế hoạch lập pháp; thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật,

Hùng – T.S Hà Thị Bắc (đồng chủ biên)





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status