HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1. Giới thiệu chung về vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại
1.1. Vốn chủ sở hữu là gì?
Vốn chủ sở hữu (VCSH) hay vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn riêng của
ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh.
Vai trò của VCSH của ngân hàng:
- Là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản
- Điều kiện bắt buộc để có giấy phép hoạt động
- Tạo niềm tin cho công chúng và sự đảm bảo với chủ nợ về sức mạnh tài chính của
ngân hàng
- Cung cấp năng lực tài chính và điều tiết sự tăng trƣởng và phát triển của ngân hàng
- Quyết định quy mô hoạt động của NHTM và xác định tỷ lệ an toàn
Đặc điểm của VCSH của ngân hàng:
- Chỉ chiếm 5% đến 10% tổng nguồn vốn
- Ổn định và luôn đƣợc bổ sung trong quá trình phát triển
1.2. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Xét quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong những
năm gần đây, có thể thấy nhìn chung, quy mô vốn còn rất nhỏ. Hệ thống NHTM Nhà
nƣớc vẫn chiếm đến hơn 70% thị phần huy động vốn đầu vào và thị phần cho vay, trong
khi tổng mức vốn tự có của các NHTM Nhà nƣớc chỉ tƣơng đƣơng với một ngân hàng
cỡ trung bình trong khu vực, với mức vốn tự có trung bình của một ngân hàng này là
4.200 tỷ đồng, hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, Capital Adequacy
Ratio – CAR) bình quân thấp. Các NHTM ngoài quốc doanh có mức vốn tự có bình
quân và hệ số an toàn vốn cao hơn nhƣng lại không chiếm thị phần chủ yếu. Tuy vậy, có
thể khẳng định rằng các ngân hàng đều đang tích cực tăng vốn điều lệ và hệ số an toàn
vốn những năm vừa qua. Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân
hàng tăng 30% so với cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Một số
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
thống kê cho thấy hệ số CAR tại các ngân hàng thƣơng mại của khu vực châu Á - Thái
Bình Dƣơng bình quân hiện nay là 13,1%, của khu vực Đông Á là 12,3%. Đây cũng là
*** Vấn đề tăng vốn tự có của NHTM ở Việt Nam thời gian qua
Tại các quốc gia phát triển, với hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả
thì việc tăng vốn điều lệ sau một thời gian hoạt động là việc làm bình thƣờng. Việc tăng
vốn này mang tính tất yếu do những áp lực nhƣ sau:
- Lạm phát: lạm phát làm tăng giá trị tài sản của ngân hàng nhƣng đồng thời cũng
làm tăng giá trị các khoản nợ, làm giảm giá trị vốn bằng tiền của ngân hàng và kết
quả là giá trị vốn tự có của ngân hàng có chiều hƣớng giảm sút.
- Do nhu cầu phải duy trì và gia tăng lòng tin của công chúng
- Những biến động kinh tế dẫn đến khả năng làm xuất hiện thêm nhiều loại rủi ro,
buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có để tăng cƣờng khả năng tự bảo vệ
- Những giới hạn của luật pháp về cho vay, huy động vốn… buộc ngân hàng tăng vốn
để có thể đáp ứng nhu cầu vay (ngày càng tăng) của các khách hàng lớn
- Do hoạt động của ngân hàng ngày càng mở rộng, quy mô của ngân hàng ngày
càng tăng, ngân hàng thực hiện thêm nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới và mở
thêm nhiều trụ sở, chi nhánh mới
- Do cơ quan quản lý buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có để tăng sức cạnh tranh và
tăng độ an toàn trong kinh doanh của hệ thống
- Do áp lực của cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng nƣớc
ngoài có quy mô vốn lớn đã và sẽ xâm nhập vào thị trƣờng Việt Nam
Ở Việt Nam, theo cam kết WTO, kể từ ngày 1.4.2007, các ngân hàng và các tổ
chức tài chính nƣớc ngoài đƣợc phép mua cổ phần của các NHTM trong nƣớc hoặc đƣợc
phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nƣớc ngoài. Thực tế này dẫn đến khả năng cạnh
tranh mạnh mẽ giữa một bên là các ngân hàng trong nƣớc còn yếu về vốn, trình độ quản
lý và cả về chất lƣợng sản phẩm - dịch vụ với một bên là các tập đoàn tài chính - ngân
hàng hùng mạnh của thế giới.
Trong năm 2006 cho đến những tháng đầu năm 2007 đã xuất hiện sự kiện các
ngân hàng đua nhau tăng vốn điều lệ, có thể kể ra nhƣ trong năm 2006, ngân hàng Nhà
Hà Nội (Habubank) nâng vốn điều lệ từ 300 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng, ngân hàng An
Bình nâng vốn từ 200 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng, ngân hàng Kỹ thƣơng (Techcombank)
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
Tính đến thời điểm tháng 1/2010, VCSH của BIDV đạt 1,5 tỷ USD, tƣơng đƣơng
hơn 20000 tỷ, vƣơn lên vi trí thứ nhất. Eximbank xuống vị trí thứ 2 với số vốn 14000 tỷ
đồng.