Đánh giá kết quả phẫu thuật cầu nối hai động mạch đùi – động mạch đùi trong điều trị bệnh thiếu máu mạn tính chi dưới tại bệnh viện bạch mai - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) là tình trạng bệnh lý của động mạch
chủ bụng và các động mạch chi dưới trong đó lòng mạch bị hẹp do sự hình thành
các mảng xơ vữa trong lòng mạch dẫn đến lòng mạch bị hẹp, tắc gây giảm tưới máu
cơ và các bộ phận liên quan phía hạ lưu. Phần lớn những người những người mắc
BĐMCD thường không tự phát hiện bệnh vì triệu chứng rất nghèo nàn. Triệu chứng
điển hình nhất là đau cách hồi chi dưới có ở 50–70%, là nguyên nhân chủ yếu làm
người bệnh đến khám và nhập viện ở giai đoạn cuối của bệnh với các tổn thương
nặng như loét chi, hoại tử các đầu ngón chân hoặc cả bàn chân, thậm chí phải đoạn
chi [1] [2].
Trong những năm gần đây BĐMCD tại Việt Nam và trên thế giới diễn biến
theo xu hướng tăng dần về số lượng bệnh nhân cũng như mức độ phức tạp của bệnh.
Nguyên nhân là tuổi thọ trung bình tăng, số lượng bệnh nhân mắc các bệnh lý
chuyển hóa tăng cũng như thay đổi chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân dẫn tới tỷ lệ
bệnh động mạch chi dưới ngày càng nhiều [3]. Theo nghiên cứu của tác giả
M.H.Criqui và cộng sự (2015) có đến 200 triệu người mắc bệnh động mạch chi
dưới, trong đó trên 30% người trên 80 tuổi mắc bệnh [4]. Một nghiên cứu khác của
tác giả DeBakey nghiên cứu trên 13827 bệnh nhân bị tắc nghẽn mạch máu nói
chung thì tắc, hẹp động mạch chủ, chậu, đùi chiếm tỉ lệ cao nhất (40,0%) [5]. Tại
Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Lan Hương thực hiện trên 139 bệnh nhân
mắc bệnh mạch vành thì có 16,5%(23/139) trường hợp mắc BĐMCD, tuổi và tiền
căn gia đình mắc bệnh mạch vành sớm là yếu tố nguy cơ độc lập của BĐMCD[6].
Có nhiều phương pháp điều trị BĐMCD: điều trị nội khoa, phẫu thuật mạch
máu hoặc can thiệp nội mạch. Những bệnh nhân mắc BĐMCD thường là những
bệnh nhân có độ tuổi cao và hay mắc những bệnh lý về tim mạch và hô hấp kèm
theo khó có thể trải qua được một cuộc phẫu thuật lớn, do đó phẫu thuật tạo cầu nối
theo đường đi giải phẫu bình thường của mạch máu như cầu nối động mạch chủ động mạch đùi hai bên, cầu nối động mạch chủ - động mạch đùi một bên thường




CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm giải phẫu động mạch chậu, đùi, cấu trúc thành động mạch
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu động mạch vùng chậu, đùi
Hệ thống động mạch (ĐM) ngoại biên được tính từ động mạch chủ bụng
dưới động mạch thận, ĐM chậu hai bên đến ĐM hai chi dưới. Động mạch chủ bụng chia
thành hai nhánh động mạch chậu chung trái và phải ở ngang mức đốt sống thắt lưng 4.
Hai ĐM chậu chung không cho nhánh bên. Mỗi ĐM chậu chung lại chia thành ĐM chậu
trong và ĐM chậu ngoài. Động mạch chậu ngoài là nguồn cung cấp chính cho chi dưới,
ĐM chậu trong cấp máu cho các tạng vùng tiểu khung và vùng mông.

Hình 1.1. Giải phẫu động mạch vùng bụng – chậu[8]
Động mạch chậu ngoài khi đến phía sau điểm giữa dây chằng bẹn thì đổi tên
thành ĐM đùi chung. Ở vùng bẹn, thần kinh chạy ngoài cùng, kế đến là ĐM, tĩnh


4

mạch ở trong cùng. Đi qua vùng bẹn khoảng 4cm, ĐM đùi chung tách ra thành ĐM
đùi nông và ĐM đùi sâu. Động mạch đùi sâu thường xuất phát từ vị trí sau – ngoài
của ĐM đùi chung. Động mạch đùi nông sau đó chui qua vòng gân cơ khép đổi tên
thành động mạch khoeo.

Hình 1.2. Giải phẫu các động mạch vùng đùi và gối [8]
Động mạch khoeo bắt đầu từ vòng cân cơ khép tới bờ dưới cơ khoeo thì chia
hai nhanh tận là ĐM chày trước và thân chày mác. Động mạch chày trước bắt đầu
từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước, tiếp tục đi
xuống theo đường định hướng từ hõm trước đầu trên xương mác đến giữa hai mắt

Đường kính(mm)
Nam
Nữ
7,7
6,76
6,38
5,13
6,5 - 7
5,5 – 6
4,6 – 5,5

Giải phẫu vùng xương mu: Bàng quang ở người trưởng thành nằm ở phía
trước khung chậu, được bao phủ bởi lớp mỡ ngoài phúc mạc và mô liên kết. Bàng
quang ngăn cách với khớp mu bởi khoang trước bàng quang (khoang Retzius) và
khoang sau xương mu. Trong hai khoang này là các mô liên kết thưa, mô mỡ và các
mạch máu, thần kinh đến bàng quang.
Khoang trước xương mu là nơi luồn đoạn mạch nhân tạo của cầu nối hai
động mạch đùi chung đi qua. Đây là vùng mô dưới da, chứa chủ yếu là lớp mỡ,
không có thần kinh hay mạch máu lớn đi qua, rất thuận lợi để luồn đoạn mạch nhân
tạo vì không làm tổn hại đến các cấu trúc quan trọng nào của cơ thể.


6

Hình 1.3. Giải phẫu vùng trước xương mu [10]
1.1.2. Cấu trúc thành động mạch [11]
Thành ĐM bình thường cấu tạo bởi 3 lớp áo đồng tâm từ trong ra ngoài bao gồm:
Lớp nội mạc: Bao gồm các tế bào nội mô và vùng dưới nội mạc. Giữa lớp
nội mạc và lớp trung mạc là lớp đàn hồi trong. Lớp nội mạc có 2 chức năng cơ bản:


1.2. Bệnh tắc, hẹp động mạch chậu đùi mạn tính
1.2.1. Đại cương
Bệnh động mạch chi dưới là tình trạng chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay
(gọi tắt là ABI - Ankle Brachial Index) giảm so với giá trị bình thường.
Bệnh động mạch chi dưới thường biểu hiện dưới hai hình thái:


Thiếu máu chi dưới khi gắng sức, có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc
chưa, diễn biến mạn tính.



Thiếu máu chi dưới thường xuyên (trầm trọng), có thể là mạn tính hoặc cấp
tính (Critical Limb Ischemia - CLI).
Bệnh lý động mạch chi dưới do vữa xơ là nguyên nhân thường gặp nhất của

bệnh động mạch chi dưới mạn tính (chiếm 90%). Gần 95% bệnh nhân BĐMCD có
ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch. Các bệnh lý động mạch khác không do vữa xơ
bao gồm bệnh Buerger, bệnh Takayasu, viêm động mạch sau xạ trị, hẹp/tắc ĐM do
chấn thương [12].
Tình trạng thiếu máu kéo dài sẽ dẫn đến teo cơ, loét và hoại tử chi, lan dần từ
ngọn chi đến gốc chi. Hậu quả cuối cùng là phải phẫu thuật cắt bỏ phần chi hoại tử,
ban đầu là cắt cụt chi tối thiểu, sau đó là cắt cụt chi mở rộng, khiến người bệnh mất
đi một phần chi đáng kể, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng chi
phí điều trị cho bản thân gia đình và xã hội [13].
1.2.2. Dịch tễ học
BĐMCD là bênh thường gặp ở phần lớn đối tượng là người trưởng thành trên
thế giới [14].
Trên thế giới: Theo nghiên cứu của tác giả Boccalon thực hiện trên 3694
bệnh nhân >40 tuổi có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc đau chi dưới, khi

80% bệnh nhân BĐMCD có hút thuốc lá [20] [14].



Đái tháo đường: BĐMCD ở bệnh nhân đái tháo đường diễn tiến nhanh hơn,
ảnh hưởng sớm đến các mạch máu lớn, đi kèm với bệnh lý thần kinh ngoại
biện. Bệnh nhân mắc đái tháo đường có nguy cơ mắc BĐMCD từ 2 – 4 lần,
có 12 – 20% bệnh nhân BĐMCD bị đái tháo đường [16] [21], nguy cơ mắc
BĐMCD tỷ lệ thuận với mức độ nặng và thời gian bi mắc bệnh đái tháo
đường [22] [23].



Tăng huyết áp: Hầu hết các nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ độc lập giữa
tăng huyết áp và BĐMCD, đáng chú ý nhất là sự hiện diện của huyết áp tâm
thu liên quan đến bệnh này [24]



Rối loạn lipid máu: Cholesterol toàn phần tăng lên mỗi 10mg/dl làm tăng
nguy cơ mắc BĐMCD lên từ 5 - 10% [25] [26] [27]. BN đau cách hồi chi


9

dưới có cholesterol toàn phần cao hơn, LDL - cholesterol cao hơn và HDLcholesterol thấp hơn so với người bình thường cùng lứa tuổi [28].


Tăng homocystein máu: làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý động mạch do
vữa xơ từ 2 - 3 lần. Một nghiên cứu chỉ ra homocystein máu tăng mỗi 5

Giai đoạn
Lâm sàng
I
Chưa có triệu chứng đau cách hồi
IIA
Đau cách hồi khi đi bộ trên 200m
IIB
Đau cách hồi khi đi bộ dưới 200m
Đau khi nằm nghỉ: thiếu máu chi dưới xuất hiện thường
III
xuyên, kể cả khi nghỉ
IV
Có rối loạn dinh dưỡng trên da, loét và/hoặc hoại tử đầu chi
Triệu chứng thực thể:


Loạn dưỡng da: hai chi dưới lạnh, xanh tím, giảm vận động và cảm giác.
Da khô, lông móng rụng, loét hoặc hoại tử đầu chi. Cơ cẳng chân teo đét.



Mất mạch: Đối với tắc động mạch chậu chung, chậu ngoài, đùi chung thì
không bắt được động mạch đùi, động mạch khoeo, động mạch mu chân,
động mạch chày sau cùng bên. Đối với tắc động mạch đùi nông thì động
mạch đùi cùng bên bắt được, động mạch khoeo, động mạch mu chân, động
mạch chày sau cùng bên không bắt được.



Nghe âm thổi tâm thu dọc đường đi động mạch chậu: để xác định hẹp

0,9 – 1,4
0,75 – 0,9
0,4 – 0,75
1 thì khả năng không có bệnh là 99%. ABI < 0,5 là bệnh nặng và có
nguy cơ cắt cụt chi. Giá trị ABI thay đổi trên 15% có giá trị đánh giá tiến triển nặng
của bệnh. Để đánh giá kết quả tái tưới máu cần ABI tăng trên 15% [20]


12

Chỉ số ABI còn được coi là yếu tố tiên lượng sự sống còn của chi khả năng
lành vết thương và đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị. Theo tác giả
Jelnes và cộng sự chỉ ra rằng nếu ABI>0,5 thì rất ít khả năng dẫn tới thiếu máu chi
trầm trọng trong 6,5 năm tiếp theo. Ngược lại, khi ABI
Nhẹ: 0 – 49
1,5 – 2,0
Trung bình:50 – 75
2,0 – 4,0
Nặng: >75
>4,0
Tắc
1.2.5.3. Chụp mạch máu có cản quang

Tỉ số vận tốc
4:1
-

Chụp động mạch chi dưới được sử dụng trong những trường hợp có tổn
thương động mạch chậu và/hoặc động mạch đùi trên siêu âm Doppler. Kết quả chụp
động mạch chi dưới cản quang phải cho phép đánh giá được:


Vị trí của động mạch bị tổn thương (gần: tầng chủ - chậu; xa: tầng đùi
khoeo).



Mức độ lan rộng của tổn thương: lan tỏa hay khu trú.




Việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ là một trong những phương pháp
điều trị dự phòng quan trọng, có thể làm chậm lại quá trình diễn tiến của tắc động
mạch chi dưới mạn tính, cải thiện triệu chứng, giảm nguy cơ dẫn đến hoại tử chi và
các tai biến về tim mạch khác. Bệnh nhân cần phải ngưng hoàn toàn hút thuốc lá,
thuốc lào. Bệnh nhân nào có tăng lipid máu cần được điều trị tích cực bằng thuốc và
chế độ ăn uống hợp lý [37].
1.2.6.2. Điều trị nội khoa
Điều trị tăng huyết áp: các loại thuốc hạ áp nên được chỉ định cho bệnh nhân
bị cao huyết áp. Trong một số trường hợp, thuốc hạ áp có thể làm nặng thêm triệu
chứng của bệnh tắc động mạch. Thuốc ức chế men chuyển và chẹn beta giao cảm là
các loại thuốc đầu tay trong điều trị.
Điều trị bệnh đái tháo đường: bệnh nhân tiểu đường cần được điều trị tích
cực, các sang chấn dù nhỏ cũng sẽ dẫn đến nhiễm trùng nếu đường huyết không ở
trong giới hạn bình thường.
Chống kết tập tiểu cầu: hiện nay phổ biến nhất là Aspirin (biệt dược hay gặp
là Aspergic). Thuốc này ít có vai trò trong việc cải thiện triệu chứng ở bệnh nhân
tắc động mạch ngoại biên, nhưng làm giảm tỉ lệ bệnh nhân cần can thiệp nội
mạch hoặc phẫu thuật. Ngoài ra, thuốc ức chế tiểu cầu còn có tác dụng làm giảm
nguy cơ xảy ra các biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim ở người bệnh xơ
vữa động mạch.
Cilostazol là thuốc đầu tay trong cải thiện triệu chứng đau cách hồi ở bệnh
nhân, lựa chọn khác là pentoxifylline [31] [38]
1.2.6.3. Điều trị phục hồi lưu thông mạch


15

Bao gồm phẫu thuật mạch máu đơn thuần, can thiệp nội mạch đơn thuần và
xu hướng trên thế giới hiện nay là phối hợp của hai phương pháp trên.
Chỉ định:

ảnh hưởng đến ĐM đùi chung

Type B

Tắc hoàn toàn ĐM chậu ngoài một bên không ảnh hưởng đến
gốc ĐM chậu trong hoặc ĐM đùi chung
Tắc ĐM chậu gốc hai bên
Hẹp ĐM chậu ngoài 2 bên từ 3 - 10cm không ảnh hưởng đến ĐM
đùi chung

Type C

Hẹp ĐM chậu ngoài một bên lan đến ĐM đùi chung
Tắc ĐM chậu ngoài một bên có ảnh hưởng đến gốc ĐM chậu
trong hoặc ĐM đùi chung
Tắc ĐM chậu ngoài một bên kèm theo vôi hóa, có/không kèm
theo tổn thương gốc ĐM chậu trong/ ĐM đùi chung.
Tắc ĐMCB dưới thận
Tổn thương lan tỏa ĐM chủ chậu hai bên cần điều trị
Hẹp lan tỏa một bên ảnh hưởng đến ĐM chậu gốc, chậu ngoài và
đùi chung

Type D

Tắc hoàn toàn một bên cả ĐM chậu gốc và chậu ngoài Tắc ĐM
chậu ngoài hai bên
Hẹp ĐM chậu cần điều trị ở bệnh nhân có phồng ĐM chủ
bụng, không thể đặt stentgraft, hoặc có tổn thương ĐM chủ - chậu
khác cần phẫu thuật.


Tắc mạn tính hoàn toàn (CTO) của ĐM đùi chung hoặc ĐM đùi
nông, có tổn thương của ĐM khoeo, dài trên 20cm. Tắc mạn tính

Type D

hoàn toàn ĐM khoeo và tổn thương ba nhánh mạch dưới gối chỗ
chia nhánh.

1.2.6.4. Mở cân cẳng chân
Chỉ định trong trường hợp có hội chứng khoang sau tái tưới máu, gặp trong
trường hợp bệnh nhân có thiếu máu chi trầm trọng (critical limb ischemia), bệnh
nhân có thời gian phẫu thuật kéo dài, thời gian kẹp mạch dài. Vị trí mở cân thường
gặp nhất là 4 khoang cẳng chân[40] [41].
1.2.6.5. Cắt cụt
Chỉ định:
Thiếu máu chi nặng trên nền tổn thương mạch không có khả năng phục hồi
lưu thông mạch máu.
Chi thiếu máu có hoại tử rộng hoặc nhiễm trùng nặng.
Cắt cụt lớn của chi (major amputation): Gồm các cắt cụt chi trên khớp cổ chân.
Hay gặp nhất là cắt cụt 1/3 dưới đùi và cắt cụt 1/3 trên cẳng chân [42].


18

Hình 1.6.Các vị trí cắt cụt chi lớn thường gặp [42]
Cắt cụt nhỏ của chi (minor amputation): Bao gồm các cắt cụt ở bàn, ngón
chân trong đó xương gót được bảo tồn. Ngày nay với các biện pháp điều trị phục
hồi lưu thông mạch kết hợp với chuyển vạt, cắt cụt nhỏ, hút áp lực âm liên tục tỷ lệ
áp dụng và thành công của cắt cụt nhỏ ngày càng cao, giúp bệnh nhân bảo tồn gót
chân để đi lại không cần cắt cụt lớn [41].


Phương pháp cầu nối hai ĐM đùi chung nên được thực hiện ở những BN có
nguy cơ phẫu thuật cao của cầu nối ĐM chủ - đùi hoặc chậu đùi - như: có
bệnh tim, phổi nặng kèm theo, có nguy cơ cao khi gây mê, tiền căn đã phẫu
thuật nhiều lần ở vùng bụng, tiền căn xạ trị ở vùng bụng, tiền căn thoát vị
vùng bụng…
Đảm bảo sự tưới máu tốt từ ĐM chậu của chân là điều kiện tiên quyết trước

khi thực hiện phẫu thuật nối hai cầu ĐM đùi. Ở những trường hợp có hẹp ĐM chậu
của chân cho thì có thể đảm bảo sự tưới máu tốt bằng phương pháp can thiệp nội
mạch ĐM chậu.
1.3.2. Quy trình thực hiện
1.3.2.1. Quy trình phẫu thuật
a. Chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật:


Các xét nghiệm tiền phẫu: Công thức máu, đông máu toàn bộ, bộ mỡ máu,
chức năng gan thận, tổng phân tích nước tiểu, X-quang ngực thẳng, điệm tâm
đồ, siêu âm tim, siêu âm động mạch cảnh 2 bên, siêu âm mạch thận, đo ABI.



Vệ sinh vùng bẹn



Kháng sinh dự phòng




Gây mê tủy sống



Gây tê tại chỗ và tiền mê

Các bước thực hiện:

 Trường hợp bắc cầu hai động mạch đùi chung đơn thuần


Bước 1: Rạch da dọc vùng đùi 2 bên, bộc lộ ngã ba động mạch đùi 2 bên.
Các ĐM thường nằm nông nên có thể dễ dàng được bộc lộ.



Bước 2: Tạo đường hầm dưới da trước xương mu bằng cách dùng 2 ngón tay
trỏ tạo đường hầm dưới da từ 2 vết mổ bộc lộ ĐM đùi, đường hầm qua trước
xương mu, thông 2 vết mổ. Cẩn thận đưa đoạn mạch nhân tạo qua đường
hầm, tránh căng đoạn mạch quá mức hoặc xoắn vặn quá mức làm ảnh hưởng
đến dòng chảy qua đoạn mạch nhân tạo.


21

Hình 1.8. Tạo đường hầm trước xương mu [44]


Bước 3: Bolus heparin toàn thân, liều 50UI/kg



Đánh dấu vi trí hẹp, tắc sau đó luồn dây dẫn nội mạch vào trong động mạch
qua ống dẫn nội mạch, quan sát đường đi của dây dẫn nội mạch để đảm bảo
nằm trong lòng ĐM.


22



Tiến hành nong bóng tạo hình lòng mạch hoặc đặt giá đỡ nội mạch hoặc kết
hợp cả hai.



Chụp mạch đánh giá lại sang thương hẹp, tắc đã can thiệp.



Rút ống dẫn nội mạch và dây dẫn nội mạch, xem xét dòng máu phụt qua chỗ
mở ĐM.



Bóc nội mạc ĐM đùi chung, nông hoặc sâu khi cần.



Tiến hành làm cầu nối hai ĐM đùi chung như trên.




Tổn thương thần kinh đùi

1.4. Một số nghiên cứu về phẫu thuật cầu nối hai động mạch đùi chung của các
tác giả trong nước và nước ngoài.
1.4.1. Nghiên cứu trong nước
Mặc dù phương pháp phẫu thuật tạo cầu nối hai ĐM đùi chung đã được áp
dụng rộng rãi trong thời gian dài, tuy nhiên các nghiên cứu đánh giá về kết quả điều
trị của phương pháp này vẫn rất hạn chế.
Theo nghiên cứu của tác giả Dương Đình Bảo (2015) thực hiện tại khoa Phẫu
thuật mạch máu, Bệnh viện Chợ Rẫy trên 36 bệnh nhân cho các kết quả như: Phẫu
thuật cầu nối hai ĐM đùi chung có tỉ lệ cải thiện cao, chiếm 85,7% sau phẫu thật 12


23

– 36 tháng. Tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp, do đó có thể áp dụng cho những bệnh nhân
lớn tuổi, thể trạng gầy yếu, nhiều bệnh lý kèm theo. ABI có giá trị trong việc đánh giá
theo dõi sau phẫu thuật cầu nối hai ĐM đùi chung trong điều trị tắc hẹp ĐM chậu đùi
mãn tính, kết quả lâm sàng cải thiện tốt thì giá trị ABI cũng tăng lên [7].
Một vài công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đánh giá phẫu thuật
điều trị tắc, hẹp ĐM chậu đùi mãn tính như: Nghiên cứu của tác giả Lê Đức
Tín(2012) cho thấy kết quả khả quan khi kết hợp phẫu thuật mổ mở (bao gồm cầu
nối hai động mạch đùi chung) và can thiệp nội mạch trong điều trị nhiều trường hợp
tắc ĐM hai chi dưới phức tạp [45].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Thắng trên 50 bệnh nhân có thiếu máu
chi dưới mạn tính được điều trị bằng phối hợp phẫu thuật và can thiệp nội mạch, kết
quả sớm cho thấy: phẫu thuật và can thiệp nội mạch được tiến hành trên tất cả các
tầng của mạch máu chi dưới, trong đó can thiệp trên ĐM chậu chiếm 76,0%, phẫu

2.1. Thiết kế nghiên cứu
• Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
• Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2020.
• Địa điểm nghiên cứu: Khoa Phẫu thuật Lồng ngực Mạch máu - Bệnh viện
Bạch Mai.
2.3. Đối tượng và tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu.
• Tất cả các bệnh nhân phải phẫu thuật bắc cầu động mạch đùi - đùi trong điều
trị thiếu máu mạn tính chi dưới.
2.3.2. Tiêu chuẩn lựa chọn như sau:
• Đồng ý tham gia nghiên cứu
• Tuổi từ 18 trở lên
• Có hồ sơ bệnh án đầy đủ rõ ràng.
2.3.3. Tiêu chuẩn loại trừ.
• Có bệnh lý tắc, hẹp động mạch chủ bụng.


25

• Có thực hiệu nối động mạch chủ - đùi hoặc chậu – đùi.
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
• Chọn toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu.
• Ước tính khoảng 30 bệnh nhân.
2.5. Phương pháp đo lường và các biến số/chỉ số
2.5.1. Các biến số/chỉ số
• Thông tin chung: Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập bình quân
hàng tháng.
• Các yếu tố nguy cơ:





Phẫu thuật: Phương pháp vô cảm, có can thiệp ĐM chậu không?. Thuốc
dùng khi xuất viện.



Biến chứng sau mổ: Huyết khối động mạch, nhiễm trùng đoạn mạch nhân
tạo, hoại tử chi, tử vong

2.5.2. Đánh giá kết quả lâm sàng.
a. Ba giai đoạn kết quả lâm sàng


Chu phẫu: Sau phẫu thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status