Quản lý công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tại thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ- KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ- KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN HÙNG


2.3. Phân tích thực trạng quản lý công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tại địa
bàn thị xã Điện Bàn........................................................................................................................... 38
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa
bàn thị xã Điện Bàn........................................................................................................................... 50
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN........................................................................................................................ 57
3.1. Quan điểm và định hướng giải quyết dân số - kế hoạch hóa gia đình...................57
3.2. Các nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dân số - kế hoạch hóa
gia đình trên địa bàn thị xã Điện Bàn......................................................................................... 64
3.3. Đề xuất về điều kiện thực hiện giải pháp......................................................................... 69
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CỤM TỪ
VIẾT TẮT
CBCT

: Cán bộ chuyên trách

CNH-HĐH

: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CTMT

: Chương trình mục tiêu


: Ủy ban nhân dân

UBDSGĐ&TE

: Ủy ban dân số gia đình và trẻ em

VNĐSS

: Viêm nhiễm đường sinh sản

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Qui mô và biến động dân số của thị xã Điện Bàn qua các năm 20142018 ...........................................................................................................................
Bảng 2.2: Cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính năm 2018 ...................................
Bảng 2.3: Số lượng sử dụng các biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng .....................................................................................
Bảng 2.4. Đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống văn bản về DS-KHHGĐ .......
Bảng 2.5. Một số chính sách ảnh hưởng đến chính sách DS-KHHGĐ ....................
Bảng 2.6. Trình độ của cán bộ DS-KHHGĐ tại Trung tâm DS-KHHGĐ thị xã và
CBCT xã, phường đến tháng 12/2018 ......................................................................
Bảng 2.7. Thâm niên công tác của cán bộ DS-KHHGĐ từ thị xã tới xã, phường
đến tháng 12/2018 .....................................................................................................


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Đánh giá sự phối hợp của các cơ quan ban ngành đối với hoạt động

hóa gia đình của một số cán bộ vẫn còn bất cập, khả năng tham mưu cho lãnh đạo
địa phương chưa hiệu quả dẫn đến việc thực hiện chính sách và các quy định về
pháp luật chưa nghiêm túc, cách hiểu và vận dụng còn khác nhau, chưa thống nhất,
không phù hợp với pháp luật hiện hành. Điều đó đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc
thực hiện các chủ trương, chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Đảng và
Nhà nước.
1


Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Dân số - Kế hoạch hóa gia
đình tại thị xã Điện Bàn. Tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý công tác Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp chương
trình đào tạo Thạc sỹ Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về công tác DS-KHHGĐ không phải là vấn đề mới mà đang
dành được sự quan tâm nghiên cứu nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống cơ quan
quản lý cũng như phát triển các nghiệp vụ của công tác này. Nhiều công trình
nghiên cứu ở một số địa phương quy mô khác nhau đã góp phần quan trọng về cơ
sở thực tiễn:
1.

Nguyễn Văn Nghị, Lê Cự Linh (2008): Đặc điểm dậy thì, kiến thức về tình

dục và biện pháp tránh thai của thanh thiếu niên: Kết quả điều tra ban đầu nghiên
cứu sức khoẻ vị thành niên và thanh niên tại Chí Linh, Hải Dương. Tạp chí Y học
dự phòng tập XVIII, số 6(98), trang 25-37
2.
Nguyễn Văn Nghị, Vũ Mạnh Lợi, Lê Cự Linh (2009): Quan điểm và
hành
vi tình dục ở vị thành niên: Điều tra sức khoẻ vị thành niên, thanh niên tại huyện

góp phần vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra đối với công tác Dân số - Kế
hoạch hóa gia đình tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn hiện nay.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài luận văn góp phần hoàn thiện quản lý công tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung vào 3 mục tiêu cụ thể như
sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia
đình.
+
hóa

Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý công tác Dân số - Kế hoạch

gia đình để xác định những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế, các nguyên
nhân dẫn tới tồn tại hạn chế.
+

Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị và điều kiện thực hiện nhằm cải

thiện công tác quản lý nhà nước về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại thị xã Điện
Bàn trong giai đoạn tới.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở cách tiếp cận quản lý và tiếp cận hệ thống, luận văn áp dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
+

Phương pháp nghiên cứu tại bạn (desk study): Thu thập các tài liệu, tư liệu,

số liệu thứ cấp để phân tích, tổng hợp.
+

Phương pháp phân tích, xử lý tài liệu, số liệu: Toán học, phân tích, so sánh,

tổng hợp.
+
Phương pháp phân tích, so sánh mô tả: nhằm phân tích làm rõ xu
hướng và
đánh giá hiệu quả công tác quản lý Dân số -KHHGĐ
+

Phương pháp phân tích có sự tham gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên

gia, các nhà quản lý nhằm làm rõ công tác quản lý Dân số -KHHGĐ tại thị xã Điện
Bàn.
Mẫu điều tra khảo sát (bổ sung thêm số lượng và đối tượng khảo sát)
4


-

Số lượng mẫu: 100 phiếu

-

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý công tác DS-

KHHGĐ tại thị xã Điện Bàn.


5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC
DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CẤP HUYỆN/THỊ XÃ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
1.1.1.1. Khái niệm về Dân số
Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: Quy mô, cơ cấu và
chất lượng. [15]
Dân số là vấn đề gắn bó mật thiết với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Nói đến Dân số là nói đến mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người hay
mối quan hệ giữa các cộng đồng người ở cấp độ vĩ mô: Vùng, miền, lãnh thổ, dân
tộc. Dân số của một quốc gia được xác định tại thời điểm tiến hành cuộc tổng điều
tra dân số. Dân số toàn cầu được xác định dựa trên số liệu thống kê và báo cáo hàng
năm của các quốc gia và các khu vực trên thế giới.
Dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản sau:
Một là quy mô dân số: Là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng
địa lư kinh tế, hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định.
Quy mô dân số thường xuyên biến động qua thời gian và không gian lãnh
thổ. Quy mô dân số có thể tăng hoặc giảm tùy theo các biến số cơ bản nhất bao
gồm: Sinh, chết và di dân.

báo này, như đã biết, biểu thị số dân trên một đơn vị diện tích (thông thường là số
người trên 1km2).
Bốn là chất lượng dân số: Ăng-ghen cho rằng: “Chất lượng dân số là khả
năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất”. [24]
Theo quan điểm của các nhà nhân khẩu học Nga [24], chất lượng dân số là
“khái niệm trung tâm của hệ thống tri thức của dân số” được phản ánh bởi các chỉ tiêu:

-

Trình độ giáo dục

-

Cơ cấu nghề nghiệp, xã hội

-

Tính năng động của tình trạng sức khỏe.

Chất lượng dân số hình thành nhờ chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo nghề
cũng như các hoạt động cụ thể khác như văn hóa thể thao, du lịch. Pháp lệnh dân số
7


Việt Nam năm 2003 (được sửa đổi năm 2008) đã định nghĩa: “Chất lượng dân số
phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”. [22]
1.1.1.2. Khái niệm Kế hoạch hóa gia đình
Kế hoạch hóa gia đình là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá nhân)
nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không chỉ bao hàm việc lựa chọn
sử dụng các biện pháp tránh thai mà còn giúp đỡ các cặp vợ chồng để có thai và

sức ép lên mọi mặt của đời sống xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc
sống, cản trở sự phát triển nền kinh tế đất nước. Vì vậy, mục tiêu dân số là phải
giảm nhanh tỉ lệ sinh. Muốn thực hiện mục tiêu này, cần phải xây dựng một chính
sách về kế hoạch hóa gia đình. Như vậy kế hoạch hóa gia đình là một nội dung hẹp
của vấn đề dân số, là việc đặt ra chỉ tiêu một cách khoa học về sinh đẻ thông qua sử
dụng các biện pháp tránh thai. Sinh đẻ có kế hoạch nhằm tránh sự sinh đẻ quá dày,
gia đình có quá nhiều con. Số con trong mỗi gia đình ít sẽ có tác động quyết định
đối với các vấn đề dân số. Như vây, mục tiêu của chương trình DS-KHHGĐ là giảm
tỉ lệ gia tăng dân số thông qua tăng tỉ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng
các biện pháp tránh thai.
-Các yếu tố ảnh hưởng đến Dân số -Kế hoạch hóa gia đình.
Một là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức sinh: Mức sinh không chỉ phụ thuộc
vào khả năng sinh sản của các cặp vợ chồng, mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi một
loạt yếu tố khác như tuổi kết hôn, khoảng cách giữa các lần sinh, thời gian chung
sống của các cặp vợ chồng, ý muốn và số con của các cặp vợ chồng, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội, địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, việc sử dụng
các biện pháp tránh thai.
Hai là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức chết: Chết là hiện tượng tự nhiên, là
điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơ thể sống. Tuy nhiên mức chết phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế -xã hội; Đặc biệt là trình độ đạt được về mặt
y học.
Ba là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới di dân: Cùng với sinh và chết, di dân cũng
ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ phát triển dân số và những đặc trưng về cấu trúc của
dân số. Di dân là hiện tượng rất phức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, như
văn hóa, kinh tế, chính trị - xã hội.
Bốn là nhóm chính sách dân số: Trong bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công
tác DS-KHHGĐ thì nhóm chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có tác động
trực tiếp đến tất cả các nhân tố của ba nhóm trên nhằm quản lý dân số, điều tiết mức
9


quá trình xã hội, phương thức quản lý bằng pháp luật và mục tiêu là duy trì và phát
triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và phát triển quyền lực nhà nước.
1.1.2.2. Khái niệm công tác quản lý Dân số - Kế hoạch hóa gia đình:
QLNN về DS-KHHGĐ là nhà nước thông qua hệ thống chính sách, luật pháp
và cơ chế tổ chức các cơ quan quản lý của mình để điều khiển và tác động vào các
đối tượng của quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về quy mô, cơ cấu, phân bố và
10


chất lượng dân số, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo
sự phát triển bền vững của đất nước. [15]
Đối tượng QLNN về DS-KHHGĐ là các quá trình dân số liên quan đến quy
mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để
phân chia đối tượng quản lý ra thành các loại khác nhau (Cá thể, tập thể, tổ chức)
nhằm phù hợp với các yêu cầu quản lý của nhà nước.
Khách thể của QLNN về dân số là các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Khách
thể của quá trình quản lý chính là hành vi, các hoạt động của con người, các tổ chức
người trong cuộc sống xã hội bao gồm cả các hoạt động sản xuất vật chất và hoạt
động tinh thần cũng như các điều kiện sống của con người trong xã hội.
Khi xem xét mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cần xem
xét mối quan hệ đó trong từng lĩnh vực cụ thể để đánh giá.
Mục tiêu QLNN về DS-KHHGĐ xét một cách chung nhất là trạng thái thay
đổi về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bố dân số, chất lượng dân số hoặc các quá
trình sinh, chết, di dân phù hợp mà nhà nước mong muốn đạt được để tạo điều kiện
nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, xã
hội và môi trường.
1.1.2.3. Đặc điểm quản lý nhà nước về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Thứ nhất: QLNN về DS-KHHGĐ ở nước ta là hoạt động chủ động của nhà
nước được tiến hành trước hết dựa vào quyền lực của nhà nước. QLNN về DS –
KHHGĐ nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của

Phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng các dự án luật, pháp lệnh,
văn bản dưới luật, chính sách về dân số - kế hoạch hóa gia đình để trình Chính phủ.
Nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành: Pháp lệnh Dân số, Nghị định, hướng
dẫn một số điều thi hành của Pháp lệnh Dân số.
Ban hành theo thẩm quyền các Quyết định, Thông tư, Chỉ thị để hướng dẫn
kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước, quy chế quản lý các chương
trình và dự án dân số - kế hoạch hóa gia đình; Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ
thuật, quy trình, quy phạm về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.

12


Hai là, xây dựng, tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình và
đề án về dân số - kế hoạch hóa gia đình trên phạm vi cả nước.
Để xây dựng một Chương trình mục tiêu Quốc gia, các đề án thuộc chương
trình cần triển khai các nội dung cơ bản sau:
-

Tập hợp cơ sở pháp lý, phân tích, đánh giá thực trạng của ngành, lĩnh vực,

rút ra những vấn đề cấp bách cần được giải quyết.
-

Căn cứ mục tiêu của chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của đất nước

gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và phương hướng phát triển của ngành, lĩnh
vực, các cam kết quốc tế để xây dựng mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của
CTMT Quốc gia.
- Xác định các dự án cần thực hiện; Các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, thời gian

Bốn là, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách có liên quan
đến dân số - kế hoạch hóa gia đình
Tổ chức phối hợp giữa các Bộ, cơ quan của Chính phủ, đoàn thể nhân dân và
tổ chức xã hội thực hiện, việc cung cấp thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình
đến tận người dân; Xây dựng các quy chế thực hiện chính sách dân số - kế hoạch
hóa gia đình của Nhà nước đối với các đơn vị, cá nhân thuộc các Bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, cá nhân tham gia
cung cấp dịch vụ dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Năm là, đào tạo, bồi dưỡng và hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và
cán bộ chuyên môn về dân số - kế hoạch hóa gia đình
Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ
quan khác có liên quan việc bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý chương trình dân số - kế
hoạch hóa gia đình cho các lãnh đạo, cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia
đình. Quyết định việc tuyển dụng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu và thực
hiện các chế độ khác của Nhà nước đối với viên chức do Ủy ban trực tiếp quản lý.
Sáu là, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng và trình
Chính phủ kế hoạch tài chính bảo đảm cho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia
đình
Sau khi được Chính phủ phê duyệt, Ủy ban có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra
và quản lý kế hoạch đó theo quy định của Chính phủ.
Bảy là, tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế, điều ước quốc
tế theo quy định của Chính phủ
Trình Chính phủ việc tham gia các tổ chức quốc tế, việc ký kết, tham gia, phê
duyệt các điều ước quốc tế về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; Theo sự ủy
14


quyền của Thủ tướng Chính phủ, tham gia đàm phán hoặc đàm phán ký kết với các
tổ chức quốc tế, các cơ quan nước ngoài về dân số - kế hoạch hóa gia đình. Theo
dõi, chỉ đạo và điều phối chung việc thực hiện chương trình, dự án quốc tế tài trợ về

Việc tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSKHHGĐ tại địa phương sẽ từng bước thay đổi nhận thức cho người dân về hoạt
động DS-KHHGĐ. Chính vì thế, chủ trương xã hội hóa với phương thức tiếp thị xã
hội các phương tiện tránh thai ngày càng được đồng thuận cao và thực hiện thành
công, các chỉ tiêu chuyên môn đều đạt và vượt như: Giảm tỷ suất sinh thô; giảm tỷ
lệ sinh con thứ 3 đều đạt và vượt kế hoạch ; Duy trì kiểm soát tỉ số giới tính khi sinh
trên địa bàn thành phố < 110 bé trai/100 bé gái; Các mô hình, đề án nâng cao chất
lượng dân số cũng hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao, chất lượng dân số ngày
một nâng cao. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác DS-KHHGĐ của
chúng ta cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ đặc
biệt là nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh, sự chênh lệch mức sinh và tỷ lệ phụ
nữ sinh con thứ 3 trở lên ở các địa phương nghèo, khó khăn, miền núi, ven biển còn
rất cao. Chất lượng dân số, sức khoẻ sinh sản vẫn còn hạn chế; Tỷ lệ trẻ em sinh ra
bị dị tật bẩm sinh vẫn còn nhiều; Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bị các bệnh nhiễm
khuẩn đường sinh sản chưa giảm. Dịch vụ sàng lọc trước sinh và sơ sinh vẫn còn
nhiều hạn chế. Vấn đề triển khai và thực hiện xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ chưa
đồng bộ, vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn. Do đó các văn bản về quản lý nhà nước
về Dân số- Kế hoạch hóa gia đình cần ban hành kịp thời và trọng tâm.
Hai là, tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình và đề án về
dân số - kế hoạch hóa gia đình tại địa phương
Tổ chức, chỉ đạo triển khai chương trình Mục tiêu quốc gia về DS-KHHGĐ.
Hướng dẫn thực hiện kế hoạch các đề án trong lĩnh vực DS-KHHGĐ bao gồm: Đề
án “Sàng lọc trước sinh và sơ sinh”; Đề án “Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn
nhân”; Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh”; Đề án “Kiểm
soát dân số vùng biển, đảo và ven biển”; Đề án “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
dựa vào cộng đồng”. Giúp Giám đốc Sở Y tế quản lý và tổ chức thực hiện các Dự án
đầu tư trong lĩnh vực DS-KHHGĐ theo phân cấp của Sở Y tế.
16


Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động, chuyển đổi hành vi, kết hợp triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status