LỜI CẢM ƠN
Trong chuyến đi khảo sát thực tế tại Trung tâm Dân số / Kế hoạch hóa gia
đình của Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tôi đã hoàn thành bài báo cáo
tốt nghiệp với đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá chiến dịch truyền thông dân số- kế
hoạch hóa gia đình tại Thành phố Tam Kỳ , tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2009-
2010”
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể các Thầy, Cô giáo
Trường Đại học khoa học Huế đã tạo điều kiện để tôi có chuyến thực tập, trải
nghiệm kiến thức đầy ý nghĩa này. Trong thời gian thực tập và thu thập tài liệu
viết bài, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cô, chú, anh, chị tại
Trung tâm Dân Số/ Kế hoạch hóa gia đình Thành phố Tam Kỳ. Đặc biệt cô giáo
Trương Thị Yến – Giáo viên hướng dẫn thực tập, nhưng do đề tài khá rộng, thời
gian nghiên cứu còn hạn chế, tài liệu còn thiếu và không đầy đủ nên không
tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các Thầy, cô giáo để bài báo cáo được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Cùng với các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của
đất nước, chính sách Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình đã góp phần không nhỏ vào
công cuộc xây dựng gia đình hòa thuận ấm no, hạnh phúc; đất nước giàu mạnh,
phát triển và phồn vinh.
Công tác Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình trong tình hình mới được Đảng và Nhà
nước khẳng định là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, có tác động rất lớn đến
đời sống kinh tế -xã hội của đất nước như quan điểm của Nghị quyết 4 ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa XII: “ Công tác Dân số và Kế hoạch hóa gia đình
là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong
những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để
nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội
’’. Khi nào mọi người dân đều thấm nhuần một chân lý rằng: Trách nhiệm của
các bậc cha mẹ đối với con cái là ở chỗ tạo ra một giá trị về thể lực, trí lực và
Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa XII: “Công tác Dân số và Kế hoạch hóa
gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một
trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản
để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã
hội”. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam đang trong tình trạng gia tăng dân số đến
mức đáng báo động. Mỗi năm dân số nước ta tăng khoảng 1,1 triệu người.
Trước tình hình đó Thành phố đã chấp hành chủ trương của Nhà nước,
thực hiện Chiến dịch truyền thông Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình nhằm kìm
hãm tốc độ gia tăng dân số.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nâng cao sức khỏe sinh sản của người dân.Đồng thời cải thiện cuộc sống
của người dân tại Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Mục tiêu nghiên cứu
- Tình hình gia tăng dân số trên địa bàn thành phố Tam Kỳ
- Đánh giá việc thực hiện chiến dịch Truyền thông Dân số/ Kế hoạch hóa gia
đình và một số biện pháp góp phần nâng cao nhận thức của người dân về chất
lượng dân số.
5. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Địa bàn dân cư thuộc 13 xã, phường trên toàn thành phố
Tam Kỳ
Thời gian: từ ngày 25/6 đến 25/7 năm 2014
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Người dân tại thành phố Tam Kỳ
6.2. Đối tượng nghiên cứu
Qúa trình thực hiện chiến dịch Truyền thông Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình đi thực tế tại địa phương tôi thu nhập được rất nhiều tài
liệu như tài liệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa phương
nghe
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Bài báo
cáo chia làm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các lý thuyết liên quan
Chương 2: Tình hình thực hiện chiến dịch truyền thông giáo dục chuyển đổi
hành vi về Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn 2009-2010
Chương 3. Đánh giá chiến dịch Truyền thông Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình tại
Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2009-2010
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Tổng quan về Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và các khái
niệm, lý thuyết liên quan
1.1. Tổng quan về Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
1.1.1Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Tam Kỳ được thành lập tại Nghị định số 113 ngày 29/9/2006 của Chính
phủ, Thành phố Tam Kỳ - trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Nam, với
diện tích tự nhiên là 10,406km bao gồm 13 đơn vị hành chính. Trong đó có
9 phường (An Mỹ, An Sơn, Hòa Hương, Phước Hòa, An Xuân, An Phú,
Trường Xuân, Tân Thạnh, Hòa Thuận) và 4 xã (Tam Thăng, Tam Thanh,
Tam Phú, Tam Ngọc).
Phía Bắc: giáp huyện Thăng Bình
Phía Nam: giáp huyện Núi Thành
Phía Tây: giáp huyện Phú Ninh
Phía Đông: giáp Biển Đông
1.1.1.2. Địa hình
Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ,
là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng
bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông. Địa hình có dạng
đồi thấp và đồng bằng được hình thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa
có mật độ dân số cao, nãy sinh nhiều vấn đề về nhà ở, y tế, giáo dục, sức khỏe,
dân số… nhiều vấn đề khác cần phải chú trọng quan tâm. Công tác truyền thông
Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình là một trong những vấn đề được chú trọng quan
tâm hàng đầu tại địa phương.
1.1.3 Điều kiện văn hóa-xã hội
Nhìn chung đời sống văn hóa ở các xã, phường Thành phố Tam Kỳ phong
phú,đa dạng và mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Các phong
tục tập quán vẫn luôn được duy trì và phát huy như: tập quán thờ cúng ; tế lễ;
ma chay; cưới xin v v sinh hoạt văn hóa dân gian mang nhiều nét đẹp.
Tam Kỳ là một trung tâm hành chính, văn hóa-khoa học kỹ thuật của tỉnh
Quảng Nam, nằm ở trung độ của cả nước. Thời gian đến Thành phố Tam Kỳ tập
trung
phát huy lợi thế tiềm năng, đẩy mạnh tốc độ phát triển văn hóa-xã hội ngang
tầm với vị thế trung tâm chính trị-văn hóa của một tỉnh giàu truyền thông văn
hóa và đấu tranh cách mạng, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tăng
cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn, phấn đấu xây dựng
Thành phố đạt các tiêu chí đô thị loạII, trung tâm xây dựng hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thống
nhất đồng bộ, có hiệu quả, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh quốc
phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
1.1.4 Dân cư
Theo Niên giám thống kê của Thành phố Tam Kỳ Năm 2011, dân số của Thành
phố là 109.322 người. Trong đó:
Dân số thành thị là 82.587 người chiếm 75,5% tổng dân số Thành phố
Dân số nông thôn là 26.735 người chiếm 24,5% tổng dân số Thành phố
Tình hình phân bố dân cư không đều. Dân cư chủ yếu tập trung hai bên đường
phố chính, đặc biệt là đường Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu và một số khu
dân cư được xây dựng từ khi tái lập tỉnh (từ năm 1997), còn các khu vực khác
dân cư rất thưa thớt.
Dân số thành thị tăng nhanh theo quá trình đô thị hóa và ngày càng chiếm tỷ
thay đổi về hiểu biết, thái độ và hành động
1.2.1.3. Truyền thông Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình
Là quá trình truyền thông, nhưng coi nội dung về Dân số/ Kế hoạch hóa gia
đình là mục tiêu chính, là nền tảng bền vững của đối tượng trên cơ sở được
cung cấp đầy đủ thông tin, là thước đo để đánh giá mức độ thành công của
chương trình/dự án/kế hoạch truyền thông.
1.2.2. Một số lý thuyết liên quan
1.2.2.1. Học thuyết kinh tế vi mô về mức sinh (Malthus)
Trong các phân tích mức sinh dựa vào lý thuyết kinh tế vi mô, trẻ em được nhìn
nhận như những hàng hóa mang lại độ thỏa dụng cho người tiêu dùng trong một
thời gian dài. Theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng, các cá nhân (trong trường
hợp này là các ông bố, bà mẹ) với mức thu nhập nhất định sẽ cố gắng tối đa hóa
mức thỏa dụng của mình thông qua việc lựa chọn tiêu dùng các hàng hóa hàng
ngày, các hình thức dịch vụ, nghỉ ngơi…và lựa chọn việc cần sinh bao nhiêu
con để có thể đảm bảo điều kiện thu nhập, lao động cũng như các nhu cầu học
hành, chăm sóc sức khỏe, chăm lo đời sống tinh thần cho con cái.
Mối quan hệ giữa phát triển và hành vi sinh con là quan hệ hai chiều. Tỷ lệ sinh
giảm xuống là do các yếu tố cơ bản:
Phụ nữ có trình độ ngày một cao, có việc làm và thu nhập ổn định, có vị trí xã
hội
Thu nhập của các gia đình tăng, nhu cầu nuôi dưỡng và chăm sóc con cái cao
hơn.Hệ thống chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội tốt, có quan hệ xã hội tạo
cuộc sống tinh thần thoải mái.
Vận dụng lý thuyết này đánh giá nhận thức về hành vi sinh đẻ của người dân.
1.2.2.2. Lý thuyết về chất lượng dịch vụ (Bruce)
Ban đầu được xây dựng chủ yếu cho các dịch vụ tránh thai trong việc đánh giá
chất lượng dịch vụ của các chương trình kế hoạch hóa gia đình. Sau này, khi
dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được mở rộng hơn trong các chương trình sức
khỏe sinh sản thì khung lý thuyết này vẫn còn giữ nguyên giá trị và được nhiều
công trình nghiên cứu áp dụng. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ cũng được nhìn
2.1.4. Kiến thức, thái độ, hành vi
Tăng cường kiến thức và hiểu biết về Dân số/ Kê hoạch hóa gia đình cho
mọi đối tượng, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Khắc phục
ảnh hưởng của tâm lý, tập quán và hành vi không có lợi đối với sức khỏe sinh
sản.
2.1.5. Công tác giáo dục cho Vị thành niên, Thanh niên
Nâng cao hiểu biết và nhận thức đầy đủ, đúng đắn của Vị thành niên,
Thanh niên về Sức khỏe sinh sản/ Kế hoạch hóa gia đình cũng như các kỹ năng
cần thiết về chăm sóc sức khỏe (kỹ năng thuyết phục, sử dụng bao cao su…);
Hạn chế các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn,
các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS trong Vị thành niên,
thanh niên. Đẩy mạnh sự ủng hộ của xã hội dối với truyền thông giáo dục Dân
số/ Kế hoạch hóa gia đình cho Vị thành niên, Thanh niên trong và ngoài nhà
trường.
2.1.6. Truyền thông lồng ghép Dân số gia đình trẻ em
Các chương trình truyền thông về Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình, gia
đình và trẻ em của các Bộ, ban ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội cần đổi
mới sự điều phối và lồng ghép về cả nội dung và phương pháp truyền thông, lấy
gia đình làm trung tâm, tập trung vào nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình
theo cách tiếp cận vòng đời (khi là trẻ nhỏ, vị thành niên, thanh niên, trung niên
đến tuổi già), nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, kỹ năng, vai trò và trách
nhiệm của mọi thành viên trong gia đình.
2.2. Tổ chức thực hiện
2.2.1. Đề nghị trung tâm DS/ KHHGĐ Thành phố Tam kỳ,tỉnh Quảng Nam
Trung tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình thành phố là cơ quan thường
trực của Ban chỉ đạo, Trung tâm có trách nhiệm xây dựng Kế hoạch tổ chức
thực hiện chiến dịch truyền thông dân số năm 2010 trên địa bàn thành phố và
phối hợp với các phòng, ban, đơn vị, hội, đoàn thể liên quan triển khai thực hiện
Chiến dịch đạt kết quả.
Phối hợp với Đài Truyền thanh, Trung tâm văn hóa thông tin, Ủy Ban
Tiếp nhận và cung cấp kịp thời các nguồn thuốc thiết yếu phục vụ chiến
dịch và thanh quyết toán theo quy định.
Kịp thời tiếp nhận, xử lý khi có sự cố xảy ra trong quá trình triển khai
thực hiện; chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết để tiếp nhận đối tượng thực
hiện cấy thuốc tránh thai, đình sản tại Trung tâm.
2.2.3. Phòng Y tế Thành phố Tam Kỳ
Đối với phòng y tế cần quan tâm bố trí cán bộ tham gia công tác tuyên
truyền, tư vấn đối tượng tham gia chiến dịch truyền thông dân số năm 2010 và
phối hợp với Trung tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình thành phố triển khai
thực hiện chiến dịch đạt kết quả.
Cung cấp các dụng cụ phục vụ cho quá trình thực hện
2.2.4. Đài truyền thanh Thành phố Tam Kỳ
Chủ động phối hợp với Trung tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình thành
phố thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền; phản ánh tình hình tổ chức
thực hiện trong quá trình triển khai Chiến dịch thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng trên địa bàn Thành phố.
Xây dụng phóng sự về công tác Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình trong quá
trình triển khai chiến dịch truyền thông dân số năm 2010 trên địa bàn thành phố
đạt kết quả.
2.2.5. Phòng Tài chính - Kế hoạch Thành phố
Tham mưu Uỷ Ban Nhân Dân thành phố hỗ trợ một phần kinh phí (ngoài nguồn
kinh phí của Trung ương) để triển khai chiến dịch truyền thông dân số năm
2010 trên địa bàn thành phố đạt kết quả.
2.2.6. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố và các hội,
đoàn thể có liên quan
Quan tâm phối hợp với trung tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình thành
phố để triển khai thực hiện chiến dịch truyền thông dân số năm 2010 đạt kết
quả.
Hướng dẫn xã, phường triển khai thực hiện các hoạt đông truyền thông, giáo
dục chuyển đổi hành vi về Dân số/ Kế hoạch hoá gia đình năm 2009.
đạo. kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm và đột xuất trên địa bàn xã, phường để
tổ chức truyền thông có hiệu quả và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh.
Phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể xã, phường đưa nội dung truyền thông
về Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình vào các hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể,
tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về Dân số/ Kế hoạch
hóa gia đình, tập trung tuyên truyền mạnh vào các ngày kỷ niệm của ngành.
Tập trung và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các đối tượng chưa
sử dụng các biện pháp tránh thai trong các đợt chiến dịch truyền trông Dân số/ Kế
hoạch hóa gia đình, đặc biệt chú trọng đến các thôn, xóm, tổ dân phố khó khăn, có
mức sinh và sinh 3
+
cao.
Tham mưu Uỷ Ban Nhân Dân xã, phường tổ chức bình chọn, tập luyện và
tham gia liên hoan tuyên truyền viên Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình tại thành phố.
Vận động thuyết phục những người cao tuổi nhắc nhỡ con cháu thực hiện
chính sách Dân số/ Kế hoạch hoá gia đình; tích cực tham gia và thực hiện tốt các
quy định của hương ước, quy ước ở thôn, khối phố đã được tập thể cộng đồng thông
qua.
Tổ chức các đợt truyền thông lưu động, các buổi nói chuyện chuyên đề về
Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình/ Sức khỏe sinh sản tại cộng đồng dân cư; tư vấn cho
vị thành niên và thành niên trong các trường học và địa bàn dân cư; truyền thông
trực tiếp, tư vấn tại hộ gia đình để nâng cao hiểu biết cụ thể cho đối tượng, thúc đẩy
sử dụng các dịch vụ chăm sóc Sức khỏe sinh sản/ Kế hoạch hóa gia đình trong mỗi
gia đình và cộng đồng.
Tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề, gặp mặt giao lưu, biểu diễn văn nghệ,
biểu dương cá nhân điển hình tiên tiến nhân kỷ niệm các ngày truyền thống của
ngành như ngày 11/7, ngày 26/12,
Thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo theo quý, 6 tháng và năm gửi về
Trung tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình theo mẫu quy định trước đây.
Căn cứ vào kế hoạch tổ chức chiến dịch truyền thông dân số năm 2010
hóa gia đình tại các vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng khó khăn,
đặc biệt là đối với các xã trực thuộc thành phố có điều kiện kinh tế khó khăn.
Góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc Sức khỏe sinh sản/ Kế hoạch hóa gia
đình và thực hiện chỉ tiêu công tác Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình năm 2010.
Tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực, dư luận xã hội để mỗi
cá nhân, gia đình, cộng đồng có nhận thức, thái độ, hành vi có lợi và bền vũng
về Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược dân số trên địa bàn
thành phố đạt kết quả cao.
Bằng các hình thức vận động và tuyên truyền nhằm mục đích nâng cao
nhận thức của người dân về kiến thức Sức khỏe sinh sản/ Kế hoạch hóa gia
đình, từ đó tại các địa phương thực hiện tốt chỉ tiêu giảm sinh, đảm bảo sức
khỏe và có điều kiện nuôi dạy con cái tốt.
2.3.2 Mục tiêu cụ thể
Triển khai thực hiện chiến dịch 13 xã, phường theo đúng kế hoạch về thời
gian và địa điểm diễn ra chiến dịch.
Phấn đấu có 90% trở lên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thuộc 13
xã, phường trên địa bàn diễn ra Chiến dịch được cung cấp thông tin, tư vấn để
nâng cao hiểu biết cơ bản về Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình và ngăn ngừa viêm
nhiễm đường sinh sản khi thực hiên các biện pháp kế hoạch hóa gia đình,…
Tại địa bàn triển khai chiến dịch, đảm bảo thực hiện trên 95% chỉ tiêu kế
hoạch năm về sử dụng các biện pháp tránh thai lâm sàn trong thời gian diễn ra
Chiến dịch.
Điều trị và hướng dẫn điều trị bệnh phụ khoa cho các đối tượng khi phát
hiện bị mắc bệnh.
Bên cạnh đó, trung tâm cần thực hiện và hoàn thành các chỉ tiêu dưới
đây:
- Giảm tỷ suất sinh thô: 0,38 %o.
- Giảm tỷ lệ sinh 3
+
điều trị bệnh phụ khoa cho phụ nữ. Ngoài ra, nhiều xã, phường đã tranh thủ sự ủng
hộ của các cấp Ủy Đảng, Chính quyền địa phương hỗ trợ thêm nguồn kinh phí
trọng Chiến dịch gần 6 triệu đồng; tổng kinh phí để tổ chức thực hiện Chiến dịch
năm 2010 là gần 79 triệu đồng.
- Kết quả chung Chiến dịch đạt chưa cao so với kế hoạch đề ra, trong đó
có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chính là do chưa tập trung quyết liệt
trong
thời gian diễn ra Chiến dịch, đối tượng đến điểm dịch vụ khám còn thấp, bên
cạnh đó tỷ lệ phụ nữ viêm nhiễm đường sinh sản vẫn còn cao nên ảnh hưởng
đến việc thực hiện các chỉ tiêu trong Chiến dịch. Tuy nhiên có 02 đơn vị nổi bậc
là phường An Phú và xã Tam Thăng đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra, được Chi cục
Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình tỉnh khen thưởng, và 02 đơn vị đạt chỉ tiêu thấp
nhất là Tân Thạnh, Trường Xuân.
2.3.4 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu
Thực hiện dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình
• Biện pháp tránh thai lâm sang:
Theo số liệu báo cáo thống kê từ các xã, phường thì tổng biện pháp tránh
thai thực hiện từ đầu năm đến 30/4/2010 có 4037/4708 ca đạt 85.75% kế hoạch
năm. Trong đó tổng biện pháp tránh thai lâm sàng là 875/1438 ca đạt 60.85%,
thực hiện trong Chiến dịch là 512/770 ca đạt 66.49% kế hoạch Chiến dịch về
biện pháp tránh thai lâm sàng. Đến nay có 03/13 đơn vị hoàn thành trên 90% chỉ
tiêu tổng biện pháp tránh thai hiện đại là An Phú, An Xuân và Tam Ngọc; có
03/13 đơn vị đạt trên 70% chỉ tiêu biện pháp tránh thai lâm sàng là Tân Thạnh,
An Phú và Tam Thanh.
+ Về Đình sản: Toàn thành phố thực hiện được 04/28 ca đạt 14% so với
kế hoạch năm, có 03/13 đơn vị hoàn thành chỉ tiêu này từ 50% trở lên là An
Mỹ, Tam Thăng và Tam Thanh.
+ Về Vòng tránh thai: Thực hiện được 625/1190 ca đạt 52.5% kế hoạch
năm. Thực hiện trong Chiến dịch được 447/699 ca đạt 63.9% kế hoạch Chiến
dịch. Chưa có đơn vị nào hoàn thành chỉ tiêu này, có 04 đơn vị đạt chỉ tiêu trên
của Đảng và Nhà nước. Qua chiến dịch truyền thông đợt này tôi rút ra một số
đánh gia sau:
3.1. Đánh giá về mục tiêu đề ra
Căn cứ vào mục tiêu đã đề ra cho thấy đường lối, chủ trương của Tỉnh và
Trung Tâm Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình là hoàn toàn đúng đắn. Các mục tiêu
đề ra liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong đó có kinh tế, chính trị và dân số.
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe, kế hoạch
hóa gia đình.
Như mục tiêu đã nêu, phấn đấu có 90% trở lên các cặp vợ chồng trong độ
tuổi sinh đẻ (từ 15-49 tuổi) thuộc 13 xã, phường được tư vấn để hiểu cơ bản về
vấn đề Dân số/ Kế hoạch hóa gia đình và kể cả vấn đề Sức khỏe sinh sản. 95%
chỉ tiêu về sử dụng các biện pháp tránh thai. Như vậy đây là chỉ tiêu rất cao, nếu
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các cá nhân và hộ gia đình thì sẽ hoàn
thành mục tiêu, góp phần khống chế gia tăng dân số.
Hơn nữa việc xây dụng các mô hình nông thôn, khối phố không có người
sinh con thứ 3 trở lên là rất khó thực hiện. Chỉ tiêu này nếu thực hiện trong 1
giai đoạn sẽ không khả thi, nếu muốn đạt được đó là cả một quá trình lâu dài.
Do vậy về phía trung tâm cũng như lãnh đạo địa phương cần có những biện
pháp tích cực và hữu hiệu hơn.
Mặt khác mục tiêu chính của Chiến dịch truyền thông Dân số/ Kế hoạch
hóa gia đình là giảm tỷ lệ sinh, kìm hãm sự gia tăng dân số. Đây là chiến lược
lâu dài của cơ quan chức năng có liên quan. Việc hoàn thành mục tiêu sẽ góp
phần làm cho kinh tế phát triển, cuộc sống người dân ổn định, có điều kiện nâng
cao chất lượng nuôi dạy con cái, góp phần làm cho địa phương giàu mạnh. Do
vậy việc thực hiện các mục tiêu là rất cần thiết đối với địa phương nói riêng và
toàn tỉnh nói chung.
3.2. Về đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ là những người đóng vai trò nòng cốt, nhũng người chủ
lực trong công tác truyền thông đợt này. Tuy nhiên đối vợi họ, bên cạnh những
mặt tích cực sẽ không tránh khỏi những hạn chế.