Xây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại thành phố hội an, tỉnh quảng nam - Pdf 30

1

MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và
sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch….kéo theo mức
sống của người dân càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công
tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh
từ các hoạt động sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành
phần và độc hại hơn về tính chất.
Ở các đô thị lớn của Việt Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường
trầm trọng. Xử lý rác luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường đô thị.
Không riêng gì đối với các đô thị đông dân cư, việc lựa chọn công nghệ xử lý rác
như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường
trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng.
Việc xử lý chất thải sinh hoạt một cách hợp lý đã và đang đặt ra những vấn đề bức
xúc đối với hầu hết các tỉnh, thành của nước ta.
Hội An là một thành phố cổ tập trung nhiều khách du lịch thì vấn đề phát sinh
ra rác thải cũng rất lớn, nên gây ra nhiều khó khăn trong việc thu gom và xử lý rác
thải sinh hoạt, và chủ yếu lượng rác thải phát sinh ra đó được công ty công trình
công cộng thu gom và vận chuyển đến bãi rác gây ra tình trạng quá tải ở bãi rác
Cẩm Hà và làm cho môi trường ở đây ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng.
Trong lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ra hằng ngày đó chủ yếu là rác thải
từ nhà bếp mà trong thành phần của rác thải nhà bếp chủ yếu là rác thải hữu cơ dễ
phân hủy gây mùi hôi thối gây ảnh hưởng đến môi trường không khí và sức khỏe
của con người nơi đây. Tuy nhiên nếu chúng ta biết tận dụng nó và biến nó thành
một sản phẩm mới để phục vụ cho đời sống của mình mà đặc biệt là sử dụng rác
thải hữu cơ để làm phân compost sẽ giúp cho môi trường giảm thiểu được lượng rác
thải, hạn chế được lượng phân hóa học trên cách đồng và giúp con người giảm chi
phí trong sản xuất nông nghiệp.
Xuất phát từ những tồn tại trên và sự cần thiết của việc phân loại rác tại
nguồn để làm phân compost nên tôi đã chọn đề tài “Xây dựng quy trình làm

- Rác thải nhà bếp khó được thu gom phân loại riêng tại nguồn, gây khó khăn
cho việc xử lý rác.
- Rác thải nhà bếp sẽ khó được tận dụng tái chế thành phân hữu cơ nếu
không được phân loại tại nguồn.Vì vậy cần phải được thu gom và phân loại riêng
trong những túi chất liệu đặc biệt dễ phân hủy.
Với thành phần, và đặc điểm của rác thải nhà bếp như trên thì con người
chúng ta không ngừng nâng cao hiểu biết và tìm ra những phương pháp hữu hiệu
nhất để góp phần nâng cao đời sống và đặc biệt là bảo vệ môi trường sống của nhân
loại.Và để xử lý được rác thải nhà bếp người ta đã ứng dụng nhiều nhà máy chế
biến phân compost, các nhà máy tái chế rác thải sinh hoạt…


3

Với xu hướng xử lý rác thải thân thiện với môi trường thì mô hình sản xuất
phân compost từ rác thải nhà bếp với quy mô hộ gia đình là một trong những biện
pháp không những giúp giảm thiểu được tổng lượng rác thải mà còn tạo cho người
dân chúng ta bắt đầu tiếp xúc với việc nghiên cứu khoa học. Sản xuất ra lượng phân
compost phục vụ trong nông nghiệp của từng địa phương [4]

1.3 ĐỊNH NGHĨA PHÂN COMPOST
Phân compost hay còn gọi là phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm phân bón được
tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất có nguồn gốc khác
nhau, có tác động của vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành
mùn. Tùy thuộc vào nhu cầu của sản xuất mà có thể cân đối phối trộn các phân liệu
sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không cần phải bón bất kỳ các loại phân
nào. Phân vi sinh có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc. Loại phân này có hàm
lượng dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản xuất phù hợp cho từng
loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất.[12]


25-30
52-58
6-8
50-55
Lớn hơn 5


4

Trong thực tế, hầu hết chúng trở nên độc nếu nồng độ vượt quá mức cho
phép. Hầu hết những nguyên tố Mg, Co, Mn, Fe, S…có vai trò trong việc trao đổi tế
bào chất.
Cơ chất là nguồn cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và vi lượng
cần thiết, trong thực tế muốn có lợi ích bắt buộc phần lớn hoặc tất cả cơ chất trong
quá trình sản xuất compost đều là chất thải.
1.4.1.2 Tỷ lệ C/N
Tỷ lệ C:N là hệ số dinh dưỡng chính. Trong sản xuất compost, tỷ lệ này vào
khoảng 20:1 đến 25:1. Nếu tỷ lệ C:N vượt quá giới hạn vừa nêu, tốc độ phân hủy sẽ
bị chậm lại. Ngược lại, nếu tỷ lệ thấp hơn 20:1, N bị thất thoát (Bởi vì, N dư chuyển
hóa thành NH3). Giai đoạn chuyển hóa tích cực trong sản xuất compost có đặc điểm
là nồng độ PH và nhiệt độ khá cao. Tương quang C/N nhỏ dần cho đến khi tỷ lệ nitơ
cố định và nitơ khoáng hoá như nhau. Sau một quá trình dài, tỷ lệ C/N của phần còn
lại sẽ bằng với tỷ lệ của vi sinh vật.
Bảng 1.2 : Hàm lượng N và tỷ lệ C:N có trong những loại rác thải và chất thải khác
nhau

Chất thải

Hàm lượng N


1,5

34,8

Cỏ bị xén

3-6

12-15

Phân ngựa

2,3

25

Cỏ hỗn hợp

214

19

5,5-6,5

6-10

Bùn hoạt tính
Máu

Phân bắc

Bùn tươi

4-7

11

Mùn cưa

0,1

200-500

Rơm, yến mạch

1,1

48

Rơm, lúa mì

0,3-0,5

128-150

Nước tiểu

15-18

0,8


lên tương ứng với vi sinh vật sử dụng những acid vừa sinh ra trong giai đoạn trước.
Ở giai đoạn đầu pH giảm xuống không gây ức chế đối với hầu hết các vi sinh vật, vì
thế để nâng pH người ta dùng Ca(OH)2 để cải thiện điều kiện vật lý của khối ủ, một
phần hoạt động như vật liệu hút ẩm.
1.4.2.3 Yếu tố độ ẩm
Việc sản xuất compost từ rác thải đô thị có một đặc điểm quan trọng là mối
quan hệ mật thiết giữa độ ẩm và không khí, cơ sở của mối quan hệ này dựa trên
thực tế là nguồn oxi chủ yếu cần cung cấp cho quần thể vi khuẩn đó là không khí
giữ lại trong những khe hở giữa những chất thải. Việc khuyết tán oxi trong không
khí và bên trong khối chất thải để thỏa mãn nhu cầu oxi của vi sinh vật là không
quan trong lắm. Bởi vì, trong các khe hở giữa những chất thải có chứa độ ẩm tự do
trong khối ủ giữa độ ẩm và oxi phải có một sự căn bằng. Theo đó, nếu ở mức cao
hơn nữa sự thiếu oxi sẽ diễn ra và tình trạng kỵ khí sẽ bắt đầu phát triển. Tầm quan
trọng của việc giữ độ ẩm của cơ chất từ 40%– 45% thường bị coi nhẹ trong quá
trình sản xuất compost. Điều này thực chất rất quan trọng bởi vì độ ẩm thấp hơn sẽ
kìm hãm hoạt động của vi khuẩn và tất cả vi khuẩn sẽ ngừng hoạt động ở độ ẩm
12%.
1.4.2.4 Hệ thống vi sinh vật
Vi sinh vật có một đóng góp vô cùng quan trọng đến thời gian ủ phân
compost. Với một hệ thống vi sinh vật được tuyển chọn tốt thì không những thời
gian ủ được rút ngắn mà chất lượng phân bón cũng đảm bảo hơn.


7

Các vi sinh vật có mặt trong quá trình ủ phân compost bao gồm vi khuẩn, nấm,
men, khuẩn tia,… Người ta xác định hầu hết các loài trong nhóm VSV nêu trên đều
có khả năng phân giải gần hết các hữu cơ thô trong rác thải. Tất nhiên mỗi một loài
sinh vật có khả năng tốt nhất để phân hủy một dạng chất hữu cơ nào đó.
Thí dụ nấm men , khuẩn tia …, hoạt động rất mạnh đối với cellulose và

So sánh với phương pháp sản xuất compost kỵ khí, phương pháp sản xuất
compost hiếu khí có rất nhiều ưu điểm:
• Sự phân huỷ xảy ra nhanh hơn.
• Nhiệt độ cao đủ để làm chết những mầm bệnh.
• Số lượng và nồng độ khí hôi thối giảm mạnh.
Mùi khó chịu là vấn đề không thể tránh trong xử lý và thải bỏ chất thải. Để
cải thiện đáng kể nồng độ và sự tập trung mùi trong sản xuất compost hiếu khí cần
cung cấp đủ nhu cầu Oxi cho quần thể vi khuẩn hoạt động bằng cách sử dụng quy
trình thông khí thích hợp. Khí sinh ra có thể được kiểm soát bằng cách thu khí từ
khối ủ compost do quá trình phân hủy và xử lý chúng bằng hệ thống xử lý hoá học
hay sinh học, nhờ vậy mùi hôi khó chịu sẽ giảm.
1.4.3.3 Tốc độ thông khí
Tốc độ thông khí sao cho khối compost duy trì hiếu khí phụ thuộc bản chất
và cấu trúc của các thành phần cuả rác thải và tùy thuộc vào phương pháp thông
khí.
Tốc độ tiêu thụ oxy tùy thuộc không chỉ nhiệt độ mà còn phụ thuộc vào kích
thước vật liệu, quần thể vi sinh vật và mức độ xáo trộn. Nhu cầu oxy trong thời tiết
ấm sẽ cao hơn trong lúc lạnh. Để đạt được kết quả tôt nhất, nên giữ nhiệt độ ban đầu
là 45-50O trong một số ngày đầu, sau đó tăng lên 55-70 OC để cho giai đoạn lên men
diễn ra mạnh. Lượng không khí cần thiết phải cung cấp cho vi sinh vật phát triển
trong quá trình ủ hiếu khí.

1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.5.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên Thế Giới
Sự ra đời của và phát triển của phân compost
Lịch sử quá trình ủ compost đã có từ rất lâu, ngay từ khi khai sinh của nông
nghiệp hàng nghìn năm trước Công nguyên, ghi nhận tại Ai Cập từ 3.000 năm trước
Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới.
Người Trung Quốc đã ủ chất thải từ cách đây 4.000 năm, người Nhật đã sử dụng


10

Tiếp nhận rác
Loại bỏ tạp chất
không hữu cơ
Nghiền hữu cơ
Bổ sung vi sinh vật
Bùn

Đánh luốn

Lên men từ 8 -10 tuần
Sàng xử lý chất hữu cơ

Chôn lấp chất

trơ
Đóng bao phân bón
Hình 1.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ và Canada

Ở Đức thì rác thải ở các gia đình đã được phân loại, ở những nơi công cộng
phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và tiến hành phân loại rác tiếp.
Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực
cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ.


11

Tiếp nhận rác

Tiếp nhận rác thải
Thiết bị chứa có bổ sung vi sinh vật, thu nước
thải trong thời gian 10-12 ngày

Ủ chính, độ ẩm 40%, thời
gian từ 15-20 ngày

Sàn phân loại theo kích thước

Phân loại theo trọng
lượng bằng không khí
có thu kim loại

Vật vô


Phân loại sản
phẩm để tái chế

Phối trộn các nguyên tố
khác N,P,K và các nguyên
tố khác

Chôn lấp chất trơ

Ủ phân bón trong thời gian
5-10 ngày

Đóng bao
tiêu thụ sản

Phát triển Nông thôn). Hiện nay có nhiều tổ chức và cá nhân đã thành công trong
việc nghiên cứu sản xuất phân compost trên những nền chất mang khác nhau và ứng
dụng trên nhiều cây công nghiệp, nông nghiệp như: PGS – TS Đỗ Châu Thu, TS
Nguyễn Ích Tâm cùng cộng sự của trung tâm Nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp
Bền vững thuộc trường Đại học Nông nghiệp I đã hợp tác với khoa Sinh học và
kinh tế Nông nghiệp thuộc Đại học Udine (Italia) tiến hành đề tài: “Sản xuất phân
cốpt từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp dùng làm phân bón cho 3
loại rau sạch ở ngoại ô thành phố như: rau ăn lá (cải bắp), rau ăn củ (củ cải), rau ăn
quả (cà chua)’’.
Các cán bộ trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng Nông thôn đã sản xuất thành
công loại phân compost đa chuẩn loại quy mô hộ gia đình trên nền nguyên liệu chủ
yếu là rác thải, phế phẩm nông nghiệp, phân gia súc , bèo tây, hay thân cây ngô.
Phan Thị Thanh Hoài, Đặng Ngọc Huệ, Nguyễn Nữ Quỳnh Giang, Ngô Nữ Quỳnh
Như, và Nguyễn Bá Dũng (ĐH Tây Nguyên) đã thành công trong việc sản xuất


14

phân compost từ vỏ cà phê và cũng đã được ứng dụng cho một số loại cây như :
chè, cà phê, lúa, ngô, cây ăn quả,.. Nông dân đều nhận xét loại phân này làm chgo
cây phát triển tốt, đỡ sâu bệnh, đất tơi xốp và thấy tác dụng của phân bền lâu hơn so
với phân hóa học, năng suất tăng rõ rệt.[7]
Hiện nay, trung bình mỗi ngày, TP HCM thải ra khoảng 6.400 tấn rác sinh
hoạt, trong đó, rác có nguồn gốc từ thực phẩm có thể tái chế thành những loại phân
bón hoặc được đốt để tạo ra khí gas làm nhiên liệu phát điện chiếm tỷ lệ 80% 90%. Tuy nhiên, đến nay, 100% lượng rác thải sinh hoạt của thành phố (khoảng
6200 tấn/ngày) chỉ được xử lý bắng biện pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính là bãi Đa
Phước( huyện Bình Chánh) và bãi Phước Hiệp ( huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh
phí thu gom, vận chuyển và xứ lý (khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một
diện tích đất khá lớn để chôn lấp.
Theo Sở Tài nguyên - Môi trường, việc phân loại rác tại nguồn thành công sẽ

Chất dẻo

Chất trơ

Nguyên
liệu hữu cơ

Phân hữu cơ
Ép, đóng kiện

Đóng bao

Đem chôn

Hình 1.4. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Hà Nội

Ở huyện Long Phú, Sóc Trăng thì mô hình xử lý rác thải làm phân compost
thuộc Dự án “Phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân” do Tổ chức Care
(Đan Mạch) tài trợ đang được thực hiện tại xã Lịch Hội Thượng. Dự án được thực
hiện từ tháng 3/2009 với kinh phí xây dựng nhà xưởng khoảng 550 triệu đồng, tới
nay đã đưa vào hoạt động hơn 7 tháng. 312 hộ dân tham gia dự án được cấp các
dụng cụ chứa rác và được hướng dẫn cách phân loại rác thải hữu cơ và vô cơ tại hộ
gia đình. Qua phân loại, rác thải hữu cơ thường chiếm khoảng 40%, nếu không
được xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống người
dân. Cái lợi lớn nhất từ dự án mang lại chính là ý thức bảo vệ môi trường trong
cộng đồng dân cư đã được nâng lên rõ rệt. Rác thải này được nhân viên thu gom
phân loại lần hai trước khi đưa vào bể ủ. Mỗi bể ủ chứa từ 800-850kg rác thải hữu
cơ có bổ sung chế phẩm vi sinh EM, sau 55 ngày sẽ bị phân huỷ thành nguồn phân
compost có ích cho nhiều loại cây trồng.[3]
Ở Quảng Nam cụ thể là ở TP.Hội An người dân bắt đầu phân loại rác thải tại

khí hậu Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên ngoài những đặc
trưng chung, Hội An là một khu vực ven biển Trung Bộ nên có những tính chất
riêng, mang tính địa phương do điều kiện địa lý, địa hình đem lại.
+ Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 25,6 0 C
+ Hội An có 2 mùa, mùa mưa và mùa khô rõ rệt: mùa khô kéo dài trong 8
tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
+ Lượng mưa trung bình hằng năm là : 2.076 mm.
+ Độ ẩm bình quân các tháng là 82,1%
- Đặc điểm thuỷ văn
Thành phố Hội An chịu ảnh hưởng chính của chế độ thuỷ văn của các con
sông lớn.
- Sông Thu Bồn có diện tích lưu vực 10.590 Km 2 với tổng lưu lượng 19,9 tỷ
m3/năm.
Đoạn sông Thu Bồn chảy ra biển Đông ở Cửa Đại, có các đặc trưng sau đây:
+ Chiều dài đoạn chảy qua thành phố Hội An: 8,5 km.


17

+ Chiều rộng: 120 - 240m, đoạn qua thành phố rộng 200 m.
+ Diện tích lưu vực: 3.510 Km2.
+ Lưu lượng nước bình quân: 232 m3/giây.
+ Lưu lượng lũ bình quân: 5.430 m3/giây.
+ Lưu lượng kiệt: 40 - 60 m3/giây.
+ Mực nước ứng với lưu lượng bình quân: 0,76 m.
+ Mực nước bình quân mùa lũ: 2,48 m.
+ Mực nước ứng với lưu lượng kiệt: 0,19 m
- Sông Đế Võng: từ xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, chạy dọc từ Tây sang
Đông ở phía Bắc thành phố Hội An.
+ Chiều dài đoạn chảy qua thành phố trên 7 km.

Dân số của Hội An là: 81.021 người với 17.640 hộ, trong đó 5 phường nội
thị là 39.281 người.Các hoạt động kinh tế của Hội An là du lịch, nông nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp,chế biến,...
Hội An là thành phố chứa đựng các di sản văn hóa lâu đời cho nên thu hút
được nhiều khách du lịch , đặc biệt là khách từ nước ngoài đến. Chính điều đó đã
thúc đẩy nền kinh tế cho địa phương. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khách du
lịch năm 1992 là 460.000 người tăng gấp 3 lần so với năm 1999, lượng khách du
lịch liên tục tăng. Do vậy , hiện nay số khách sạn liên tục mọc lên, các công trình
công cộng được nâng cấp rất nhiều.[9]

1.7 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NHÀ BẾP
HIỆN NAY Ở TP. HỘI AN [6]
1.7.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn
Hội An có khu phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
vào năm 1999. Hội An đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ của công nghiệp,
tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân
không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, song song với sự phát triển này nảy sinh
các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường. Việc phát sinh, thu gom và quản lý chất thải
rắn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của chính quyền Thành phố.
Theo ước tính của Công ty Công trình Công cộng Thành phố Hội An, lượng chất
thải rắn phát sinh hàng năm rất lớn, dân số trung bình của Thành phố Hội An tính
đến ngày 31/12/2007 là 85.076 người, với lượng rác phát sinh tính khoảng 75,38
tấn/ngày.


19

1.7.2 Tốc độ phát sinh chất thải rắn
1.7.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị
Dân số 8 phường nội thị là 58.730 người, chiếm 69,71% dân số.Giả thiết tại

phố. Phần lớn người dân sống tập trung vùng đồng bằng ven biển và vùng hạ lưu
sông Thu Bồn với nghề chủ yếu là trồng lúa nước, khai thác nuôi trồng thủy sản.
Giả thiết khu vực nông thôn thuộc các huyện đồng bằng, định mức phát thải
trung bình là 0.5kg/người/ngày thì lượng rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn
vào khoảng 12,77tấn /ngày.
Trong đó, riêng xã Tân Hiệp vì cách biển nên không thể thu gom, vận
chuyển và xử lý chung cùng Thành phố, mà được xử lý nội bộ.
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu vực nông thôn Thành phố Hội An
Bảng 1.4. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn

Thành phố

Hội An



5

Dân số

Trung bình

Lượng CTRSH phát sinh

(người)

(kg/người/ngày)

(tấn/ngày)


3,1

2/ Hàng dệt

2,3

3/ Rác thải (gồm cả thịt, xương, vỏ sò)

63,9

4/ Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ…

0,7

5/ Chất dẻo, nilon

4

6/ Da và cao su

10,1

Các chất không cháy được

15,9

1/ Tổng kim loại

7,1


tỷ lệ khoảng 70% lượng rác phát sinh trên địa bàn thành phố.


21

Hiện công ty có 86 cán bộ công nhân viên, trang thiết bị chính phục vụ cho
công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn hiện có 8 xe ô tô chuyên dụng (gồm: 4
loại 2tấn, 4 tấn, 5 tấn, 6 tấn)
+ Số lượng xe thu gom đẩy tay: 40 chiếc.
+ Các loại xe khác: 2 chiếc xe hút chất thải, 1 xe tưới đường, 2 xe tải cẩu, 1
xe tải tự đổ, 1 xe xúc lật.
+ Phương tiện xử lý rác và làm sạch môi trường gồm có (1 xe tưới rửa
đường, 1 xe xúc lật dùng để san ủi đầm nén rác tại khu xử lý chất thải)
Theo số liệu thống kê của Công ty, tỷ lệ thu gom của toàn thành phố đạt
khoảng 60%. Điều này là do phương tiện thu gom không đủ, hầu hết còn lạc hậu, và
một nguyên nhân khách quan nữa là do đường xá nhỏ hẹp, không thuận tiện cho
việc thu gom lượng chất thải rắn, còn lại phần lớn là các hộ gia đình nằm sâu trong
các ngõ hẽm, xe thu gom không vào được.
- Tình trạng vận hành và hoạt động hiện tại
Chất thải rắn chưa phân loại trước khi thu gom: Ở các tuyến đường rộng, có
xe cuốn ép rác thu gom chất thải rắn từ những hộ theo giờ nhất định. Trong các
hẻm, các công nhân đi thu gom chất thải rắn bằng xe ba bánh đẩy tay, sau đó tập
trung chất thải rắn đến các điểm quy định trên các trục lộ chính, đổ vào xe ép rác.
Dọc theo sông Hội An ( dọc theo đường Bạch Đằng), rác trôi trên sông đã được thu
gom bằng xuồng. Sau khi thu gom, rác thải được vận chuyển lên bãi rác, đổ xuống
phía trước bãi rác. Sau đó, xe xúc lật xúc rác lên xe Ben để vận chuyển vào sâu dần
phía trong bãi rác.
Mỗi ngày, rác thu gom được tập kết đến bãi theo hai đợt
Buổi sáng:


23

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng:
+ Thành phần rác thải nhà bếp là rác hữu cơ như cơm thừa, cá cặn, cọng rau,
vỏ trái cây…
+ phụ gia: tro
Phạm vi nghiên cứu: Thanh Nam Tây, phường Cẩm Nam,TP Hội An,Quảng
Nam

Hình 2.1. Rác thải nhà bếp và phụ gia tro (photo Hồng Hạnh ngày 17/1/2010)

2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mục tiêu trước mắt
- Làm cho người dân quan tâm hơn về rác thải do hoạt động sinh hoạt của
mình.
- Giúp cho người dân nắm bắt được quy trình làm phân hữu cơ tại nhà.
- Làm phân hữư cơ tại một số hộ thí điểm để tạo diều kiện mở rộng cho các
đề tài tiếp theo sau này.
- Thông qua việc xử lý rác thải nhà bếp giúp cho người dân phân loại rác tại
nguồn tốt hơn.

2.2.2 Mục tiêu lâu dài
- Lượng rác sinh hoạt được giảm thiểu nhờ làm phân tại nhà.
- Lượng rác thải đem đi chôn lấp được giảm thiểu góp phần khắc phục tình
trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà.


Nam.

2.4.2 Thời gian tiến hành thực nghiệm
Từ ngày 15/2/2009 đến 1/4/2010

2.4.3 Cách bố trí thực nghiệm
Mỗi gia đình sẽ được cấp 1 thùng nhựa 40 lít với 2 màu sắc khác nhau cụ thể
là nhà ông Phạm A là thùng màu xanh lá cây, còn nhà ông Hứa Đa là màu xanh da
trời được mược từ đợt thí nghiệm lần trước, và được đặt cố định vào một góc vườn


25

Hình 2.2. Thùng nhựa 40 lít được bố trí ở 2 hộ gia đình (photo Hồng Hạnh
ngày 15/1/2010)

2.4.4 Tiến hành thực nghiệm
Lượng rác nhà bếp hằng ngày sẽ lược phân loại ra thành 3 nhóm chính đó là
bột, rau, và đạm sau khi phân loại xong sẽ dùng cân 5 kg để xác định khối lượng
của từng thành phần trên sau đó sẽ ghi chép lại và dùng máy ảnh để chụp hình.
Sau khi tiến hành xong những thao tác đó sẽ dùng cân 100 kg để đo khối
lượng của thùng ban đầu, sau đó bỏ lượng rác vừa được cân xong đó vào thùng và
dùng tro rắc đều lên bề mặt sao cho tỷ lệ giữa lượng tro cho vào là tương ứng với độ
ẩm của rác để điều chỉnh độ ẩm (độ ẩm càng cao thì lượng tro sẽ càng nhiều). Sau
đó dùng que nhiệt độ cắm sâu vào 2/3 que là được và đậy nắp thùng lại. Ngày hôm
sau thì quan sát hiện tượng trong ngày, theo dõi ghi chép lại số liệu về diễn biến
nhiệt độ và tốc độ phân hủy của rác hữu cơ, cứ tiến hành làm như vậy đến lúc nào
lượng rác đầy thùng thì ta ngừng bỏ và tiến hành ủ yếm khí, thực hiện giai đoạn ủ
yếm khí cho đến lúc lượng rác trong thùng đã hoai mục hoàn toàn và theo cảm quan
của người dân chất lượng phân có thể dùng được rồi thì dựng lại, Trong giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status