VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ ÁNH MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ ÁNH MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG XUÂN
HÀ NỘI, năm 2019
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO........................................................................................................... 7
1.1. Một số vấn đề về giảm nghèo.................................................................................................. 7
1.2. Quản lý nhà nước về giảm nghèo........................................................................................ 12
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giảm nghèo................................. 17
1.4. Quá trình thực hiện công tác giảm nghèo ở ViệtNam................................................. 18
1.5. Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo ở Việt Nam............................................. 20
1.6. Thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo tại một số địa phương........................ 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈOTẠI
CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM............................................................. 28
2.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam và các
huyện miền núi tỉnh Quảng Nam................................................................................................. 28
2.2. Thực trạng nghèo tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam...................................... 31
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo tại các huyện miền núi tỉnh Quảng
Nam......................................................................................................................................................... 38
2.4. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn các huyện
miền núi tỉnh Quảng Nam............................................................................................................... 46
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NAM..................................................................................................................... 61
3.1. Quan điểm định hướng của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về quản lý nhà nước
về giảm nghèo tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.................................................... 61
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo tại các huyện
miền núi tỉnh Quảng Nam............................................................................................................... 65
3.3. Một số kiến nghị........................................................................................................................ 75
KẾT LUẬN……………………………………………………………….78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
SXKD
: Sản xuất kinh doanh
UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBND
: Ủy ban nhân dân
XĐGN
: Xóa đói giảm nghèo
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
1.1
Chuẩn nghèo ở Việ
2.1.
Tỷ trọng các ngành
2.2.
Số lượng đối tượng
2.3.
Kết quả giảm nghè
2016 (chuẩn nghèo
Kết quả giảm nghè
2017 (chuẩn nghèo
Kết quả giảm nghè
2017 so với năm 20
Nguyên nhân nghè
Các mục tiêu giảm
đến năm 2020
2.12.
Hỗ trợ cộng tác vi
2.13.
Kết quả phân loại h
2.14.
Kết quả khảo sát ng
địa bàn mang lại nhiều kết quả quan trọng, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo,
1
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, mang lại diện mạo mới cho
khu vực nông thôn, miền núi của tỉnh. Tuy vậy, tỷ lệ nghèo của tỉnh còn ở mức cao
(9,28% năm 2017), riêng trên địa bàn các huyện miền núi chiếm tỷ lệ cao (30,19%
năm 2017), kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, trong đó một bộ phận người
nghèo có tâm lý trông chờ chính sách hỗ trợ của nhà nước, chưa tự vươn lên thoát
nghèo...
Kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác tác giảm nghèo có nguyên
nhân từ việc quản lý nhà nước. Do vậy, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo
trong thời gian qua cần được nghiên cứu đánh giá nghiêm túc, khoa học, nhất là tại
các huyện miền núi của tỉnh để việc thực hiện công tác giảm nghèo thời gian đến
mang lại kết quả toàn diện và bền vững.
Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn
các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ
chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xóa đói, giảm nghèo nói chung, trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam
nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu
sâu sắc và toàn diện quản lý nhà nước (QLNN) về giảm nghèo tại các huyện miền núi
tỉnh Quảng Nam, nhưng đáng chú ý một số công trình và bài viết sau:
- Nghiên cứu “Chính sách xóa đói giảm nghèo: thực trạng và giải pháp” của
tác giả Lê Quốc Lý (NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) đã luận giải rõ ràng,
thuyết phục về vấn đề đói nghèo, nguyên nhân và phân tích rõ nét thực trạng đói
nghèo ở Việt nam. Tác giả cũng đã đề xuất một hệ thống giải pháp quan trọng có thể
vận dụng để tiếp tục giảm bớt tình trạng đói nghèo ở nước ta.
- Nghiên cứu “Xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay -
riêng, chỉ ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động QLNN về giảm nghèo.
Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả khi thực hiện nghiên cứu tìm
kiếm các giải pháp giảm nghèo. Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học, bài
báo khác nghiên cứu công tác QLNN về giảm nghèo ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, vẫn chưa có một đề tài khoa học hay công trình nào nghiên cứu sâu sắc
và toàn diện về QLNN về giảm nghèo tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cho
đến thời điểm hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh
3
Quảng Nam, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống vấn đề lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo.
+ Trình bày thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn các
huyện miền núi tỉnh Quảng Nam; phân tích kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
+ Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo
tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình đói nghèo và thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa
bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
huyện Nam Giang; xã Trà Mai huyện Nam Trà My). Đối tượng phỏng vấn là người
nghèo được tiếp cận chính sách giảm nghèo.
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích các trường hợp cụ thể về
giảm nghèo, quản lý nhà nước về giảm nghèo qua phản ảnh của báo chí; khảo sát
nguyện vọng của hộ nghèo bằng bảng hỏi với 714 hộ nghèo tại 35 khu dân cư.
+ Phân tích tài liệu thứ cấp và số liệu thực tiễn của địa phương.
+ Ngoài ra, luận văn còn thu thập thông tin trên mạng Internet, một số sách
báo và công trình nghiên cứu khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần hệ thống cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giảm nghèo; làm rõ
thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh
của tỉnh, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm
nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, góp phần đẩy nhanh việc
thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững trong các giai đoạn tiếp theo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Trên cơ sở đánh giá thực trạng của nghèo trên địa bàn các huyện miền núi
của tỉnh, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước về giảm nghèo, đề
xuất phương hướng, giải pháp phù hợp, khả thi nhằm đổi mới quản lý nhà nước về
giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
+ Hy vọng, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể trở thành tài liệu tham
khảo thiết thực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về
giảm nghèo, đặc biệt là cán bộ làm công tác giảm nghèo tại các huyện miền núi và
5
các đối tượng quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về giảm nghèo.
cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [22, tr.7-8].
+ Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban
kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng
9/1993 tại Thái Lan đưa ra định nghĩa: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình ðộ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán
của các địa phương” [22, tr.8].
- Giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức
sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần
trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ
7
phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn.
- Chính sách giảm nghèo: Chính sách giảm nghèo là tập hợp các quyết định
của nhà nước nhằm đưa ra mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết vấn
đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp
khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng,
các dân tộc và nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước.
- Chuẩn nghèo: Là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu
nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối
tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các
chính sách kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn phát triển [33].
Chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối tượng
nghèo hay không nghèo có thể được coi là đối tượng chính sách giảm nghèo. Những
người được coi là nghèo khi mức sống của họ thấp hơn chuẩn nghèo được quy định
tính dựa vào thu nhập bình quân theo lương thực quy đổi. Cụ thể:
Hộ đói: có thu nhập bình quân của một người trong một tháng quy ra lương
thực tương đương dưới 13 kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 8
kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: có thu nhập bình quân của một người trong một tháng quy ra lương
thực tương đương dưới 20 kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15
kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
- Giai đoạn 1996-2000: Hộ nghèo đói trong cả nước được chia thành hai loại
hộ đói và hộ nghèo trên ba vùng nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng
bằng trung du và thành thị.
Hộ đói: có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy ra gạo 13
kg/người/tháng, tương đương 45.000đồng/người/tháng, tính cho mọi vùng miền.
Hộ nghèo: có bình quân đầu người trên một tháng quy ra gạo hoặc tiền Việt
Nam đồng có giá trị tương đương theo 3 khu vực:
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng tương đương
50.000 đồng/người /tháng;
Khu vực nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng tương đương
70.000 đồng/người/tháng;
Khu vực thành thị: dưới 25 kg/người/tháng tương đương 90.000
đồng/người/tháng.
9
- Giai đoạn 2001-2005: Giai đoạn này không còn tiêu chí xác định hộ đói,
chuẩn nghèo không được tính dựa vào thu nhập bình quân theo lương thực quy đổi
mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam đồng, chuẩn hộ nghèo được xác định
theo 3 khu vực:
Khu vực nông thôn, hải đảo: Hộ có thu nhập bình quân đầu người từ
đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000đồng/người/tháng.
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, các dịch vụ xã hội cơ
bản gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình, cụ thể: hộ nghèo
khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: có thu nhập bình quân đầu
người/tháng từ đủ 700.000đồng trở xuống; Thu nhập bình quânđầu người/tháng trên
700.000 đồng đến 1.000.000đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: Thu nhập
bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000đồng đến 1.300.000đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng
trên 700.000đồng đến 1.000.000đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ
có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000đồng và
thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân
đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000đồng. Hộ có mức sống trung
bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.00
đồng đến 1.950.000đồng.
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn
Hộ đói nông thôn
Hộ đói thành thị
Hộ nghèo nông
thôn
Thành thị
Nguồn: Tổng hợp chuẩn nghèo do Trung ương ban hành qua các giai đoạn
1.2. Quản lý nhà nước về giảm nghèo
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo
Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng của quản lý xã hội nhưng là quản lý xã
hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Là
hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn
phương đối với xã hội. Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ thể tham
gia: Đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội nghề
nghiệp.... trong đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng. QLNN được hiểu là hoạt động
của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước.
QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối
với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì trật tự và
đảm bảo sự phát triển của xã hội theo một định hướng thống nhất [13, tr.55-57].
Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của các cơ
quan nhà nước và cán bộ, công chức (CBCC) có thẩm quyền, được sử dụng quyền
lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tượng của QLNN là hệ thống
các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã
13
hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội. Có thể chia đối tượng của QLNN theo
các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng...
QLNN do các cơ quan nhà nước và CBCC thực hiện tác động lên xã hội tập
trung vào các hoạt động chủ yếu sau:
- Ban hành các quy định để làm căn cứ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong
những lĩnh vực cụ thể nhất định;
giảm nghèo là giúp giảm số lượng người nghèo và tránh tình trạng tái nghèo sau khi
thoát nghèo.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo
Hoạt động QLNN về giảm nghèo do các cơ quan QLNN tiến hành gồm nhiều
nội dung khác nhau, trong đó chủ yến tập trung vào:
1.2.2.1. Ban hành các quy định, chương trình, kế hoạch nhằm xác định khuôn
khổ pháp lý cho các hoạt động giảm nghèo
Thông qua việc ban hành các quy định, Nhà nước xác lập hành lang pháp lý để
điều chỉnh các quan hệ, hành vi trong từng hoạt động giảm nghèo và hình thành căn
cứ, cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả, đúng chủ trương, đường lối của Đảng và
Nhà nước. Hệ thống quy định về hoạt động giảm nghèo tạo cơ chế quản lý phù hợp
để cơquan thường trực chương trình và cơ quan quản lý các hợp phần của chương
trình ở các cấp có đủ thẩm quyền, đủ năng lực và điều kiện để quản lý chương trình,
khắc phục tình trạng trách nhiệm không đi đôi với thẩm quyền như giai đoạn qua.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chính sách, chương trình, dự
án, kế hoạch, mục tiêu về giảm nghèo là khâu không thể thiếu trong hoạt động
QLNN đối với hoạt động giảm nghèo. Công tác giảm nghèo phải được quan tâm
ngay từ khi xây dựng chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung
hạn và hàng năm, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch phát triển kinhtếxã hội của Nhà nước đối với công tác giảm nghèo. Trên cơ sở khung chương trình,
kế hoạch quốc gia, các cấp chính quyền cụ thể hóa thực hiện tại địa phương.
Chủ trương, định hướng về giảm nghèo nhanh và bền vững đã được Đảng và
Nhà nước ban hành trong thời gian qua như Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững
15
đối với 61 huyện nghèo, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về
định hướng giảm nghèo bền vững đến năm 2020, v.v.... đã xác lập khung pháp lý
trong lĩnh vực giảm. Trên cơ sở đó các cơ chế, chính sách tài chính cụ thể phục vụ
công tác xóa đói giảm nghèo được ban hành theo từng lĩnh vực; cụ thể:
đội ngũ CBCC thực hiện hoạt động giảm nghèo ở cấp huyện và cấp xã.
1.2.2.3. Tổ chức thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo
Là quá trình tổ chức thực hiện chính sách và tạo ra kết quả trên thực tế nhằm
hiện thực hóa mục tiêu chính sách đề ra. Quá trình tổ chức thực hiện chính sách góp
phần hoàn chỉnh bổ sung chính sách. Qua tổ chức thực hiện, cơ quan chức năng mới
có thể biết chính sách được xã hội chấp nhận không, và có đi vào cuộc sống hay
không.
Việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo được thực hiện từ cấp chính
quyền trung ương đến địa phương, mỗi cấp chính quyền đều có những nhiệm vụ
khác nhau để thực hiện những mục tiêu mà chính sách đề ra, trong đó cấp chính
quyền địa phương việc thực thi thường được thể hiện rõ néthơn.
1.2.2.4. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện giảm nghèo
QLNN đối với hoạt động giảm nghèo là một trongnhữnglĩnh vực nhạy cảm,
phức tạp, liên quan trực tiếp đến tài chính, ngân sách, con người. Kết quả đạt được
trong hoạt động giảm nghèo sẽ phản ánh sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
nói chung và từng địa phương nói riêng. Do đó, chức năng giám sát, kiểm tra của
Nhà nước đóng vai trò to lớn và cần được thực hiện thường xuyên, nghiêm minh,
thiết thực và hiệuquả.
Nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát đánh giá nhằm đảm bảo chương
trình giảm nghèo nhanh và bền vững được thực hiện hiệu quả cao nhất. Qua thực
hiện bộc lộ những bất cập sẽ được xửlý thích hợp,có tổng kết nhằm kịp thời điều
chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho giai đoạn tiếp theo, những bàihọc,kinh nghiệmquýđịnh
hướng cho chương trình đi đúng hướng. Tất cả các chương trình, chính sách giảm
nghèo phải chịu sự giám sát, kiểm tra của nhândân. Nhà nước sâu sát từ hoạch định
tổng thể chiến lược đến điều hành chỉ đạo thực hiện các lĩnh vực, các khâu công
việc để thể hiện, phát huy chức năng nhiệm vụ nhằm thực hiện thành công chương
trình giảm nghèo nhanh, bền vững.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát tập trung vào một số nội dung cụ thể
17