Quản lý nhà nước về công nghiệp trên địa bàn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LỤA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LỤA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHÙNG TẤN VIẾT

HÀ NỘI, năm 2019


3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển công nghiệp giai đoạn 2015 - 2020,
định hướng đến năm 2025. .............................................................................. 51
3.3. Một số giải pháp quản lý Nhà nước về công nghiệp thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam đến năm 2025 ...................................................................... 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1.

Giá trị sản xuất công nghiệp thành phố Tam Kỳ
qua các năm

25

2.2.

Tăng trưởng giá trị gia tăng ngành công nghiệp
qua các năm

27


Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp qua các năm

36

2.8.

Tình hình huy động và hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư trong công nghiệp

38

2.9.

Tình hình lao động trong ngành công nghiệp qua
các năm

39

2.10.

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thành
phố qua các năm

42


DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu

Tên hình vẽ

Trang

26

27

29

31

33

36

ố cơ sở sản xuất công nghiệp qua các năm

37

Tình hình lao động công nghiệp qua các năm

40

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp
thành phố qua các năm

43


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý đầu tư xây dựng, Ban quản lý chợ Tam Kỳ…).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý Nhà nước
về công nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ cần quan tâm đó là:
Thứ nhất, quản lý Nhà nước về công nghiệp vẫn còn bất cập, chưa khoa
học, thiếu tính bền vững, cơ chế chính sách của Thành phố nhiều năm qua đã
thể hiện tính đột phá tuy nhiên vẫn còn nhiều kẻ hở, các chính sách kêu gọi
thu hút đầu tư thuận lợi, cho nên một số nhà doanh nghiệp còn trông chờ, ỷ lại
chậm triển khai dự án hoặc chờ có cơ hội chuyển nhượng dự án dẫn đến tình
trạng dự án chậm triển khai thậm chí không khả thi.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỷ thuật năng lực một
số chưa đáp ứng nhu cầu hiện tại, người lao động tay nghề cao chưa nhiều,
còn một bộ phận bước đầu chưa quen với môi trường làm việc khoa học công
nghiệp.
Thứ ba, Là Thành phố đô thị loại II, điểm xuất phát kinh tế - xã hội còn
thấp, cơ sở hạ tầng mới được xây dựng, hoạt động nông nghiệp chiếm đa
phần, nhân dân đa sống bằng nghề nông thuần túy, thu nhập thấp đang gặp
khó khăn.
Thứ 4, Công tác quản lý quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển
công nghiệp trên địa bàn chậm; cơ chế chưa thoáng, xúc tiến đầu tư còn nhiều
hạn chế, nguồn lực đầu tư cho quy hoạch khiêm tốn.
Do vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay phải tạo ra bước đột phá trong phát
triển đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực công nghiệp, thu hút đội ngũ khoa
học - kỹ thuật có trình độ làm việc tại thành phố Tam Kỳ đồng thời có chính
sách, cơ chế thích đáng cho công tác quy hoạch vùng, ngành hợp lý, tập trung
đào tạo lao động có tay nghề, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại

2


hội Đảng bộ thành phố Tam Kỳ nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra, ngang tầm với Đô

thách thức trong thu hút FDI và để thu hút FDI hiệu quả, cần quan tâm phát
triển công nghiệp chế tạo, đó là chìa khóa cho việc thu hút đầu tư trực tiếp ở
nước ngoài.
Do Manh Hong (2008), " Promotion of Supporting Industries- the key
for attracting FDI in developing Countries" (xúc tiến công nghiệp hỗ trợ, chìa
khóa cho thu hút FDI ở các nước đang phát triển) tác giả chỉ ra vai trò ngày
càng quan trọng của ngành Công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế ở
những nước đang phát triển, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, các
nước đang phát triển cần tạo mọi điều kiện để thu hút FDI, song để thu hút
được vốn FDI và sử dụng có hiệu quả nguồn FDI, các nước đang phát triển
cần có cơ chế, chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ
phát triển bền vững.
Quản lý nhà nước về công nghiệp ở Việt Nam nói chung, thành phố Tam
Kỳ nói riêng đã được sự quan tâm không những các Nhà quản lý, những
người hoạch định và điều hành chính sách cấp Trung ương, địa phương mà
còn là vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà đầu tư, các Trung
tâm khoa học trên phạm vi cả nước, ở cấp quốc gia, quản lý nhà nước về công
nghiệp là để nghiên cứu định hướng phát triển đất nước; Vì vậy có rất nhiều
công trình nghiên cứu, tiêu biểu nhất là một số công trình nghiên cứu như:
Tác giả Nguyễn Thị Hường (2009), “Phát triển bền vững công nghiệp Việt
Nam”. Đã nêu lên một số tành tựu và một số đề xuất chính sách phát triển.
Tác giả Đoàn Thị Bích Đào (2011), “Phát triển công nghiệp trên địa bàn
thành phố Tam Kỳ”. Đã nêu lên một số kết quả đạt được trong năm năm qua
của Thành phố và đề xuất 7 nhóm giải pháp để phát triển kinh tế Thành phố
trong tương lai.
Tác giả Nguyễn Sinh (2005), “Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới”:
Thành tựu và vấn đề đặt ra, lý luận chính trị số 12/2005, nội dung bài viết đã

4




hiện nay làm rỏ thêm một số vấn đề thực tiễn trong quản lý Nhà nước về công
nghiệp, đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý Nhà nước về công nghiệp trong
giai đoạn mới.
Phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý Nhà nước về công
nghiệp trên địa bàn thành phố Tam kỳ, đưa ra các quan điểm, định hướng,
giải pháp và mục tiêu cụ thể cho công tác quản lý Nhà nước, cung cấp thông
tin cho lãnh đạo thành phố Tam Kỳ công tác quản lý Nhà nước về công
nghiệp trên địa bàn Thành phố để góp phần thay đổi mạnh mẽ các cơ chế,
chính sách hiện tại đầu tư thích đáng cho công nghiệp trên địa bàn thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý Nhà nước về công nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu công tác quản lý của các phòng, ban liên quan trực
thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Kỳ (Phòng kinh tế, Ban quản lý trung
tâm các khu cụm công nghiệp, các ngành liên quan phối hợp khác).
Không gian: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Thời gian: Từ năm 2013-2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng để tiếp cận
nghiên cứu, từ góc độ lý luận kinh tế, thể chế nhà nước.
- Sử dụng các phương pháp chuyên biệt: thống kê phân tích tài liệu
+ Nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích xử lý, tổng hợp, tư liệu để xác
định nội dung cốt lõa của đề tài.
+ Thống kê, mô tả để trình bày kết quả nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực tiễn: từ các báo cáo thống kê, tổng hợp tại chi Cục
thống kê thành phố Tam Kỳ, các Phòng, Ban liên quan và các báo cáo đánh


7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của công nghiệp trong nền kinh tế
Thực chất vai trò chủ đạo của công nghiệp là sự ảnh hưởng quyết định
của công nghiệp đến việc phát triển lực lượng sản xuất.
1.1.1. Khái niệm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
* Công nghiệp là một ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật
chất - một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội, là hệ thống bao
gồm nhiều ngành sản xuất chuyên môn hóa hợp thành từ những đơn vị sản
xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình tổ chức sản xuất khác nhau. Theo tính
chất sản phẩm thì công nghiệp được chia thành ba nhóm ngành: công nghiệp
khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, khí, nước.
* Tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ
công, cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công. Như vậy tiểu thủ công nghiệp
là ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu bằng thủ công với quy mô
nhỏ, ở đó hệ thống công cụ lao động thô sơ đã được cải tiến và thay thế bằng
một phần máy móc mang tính chất công nghiệp có quy mô nhỏ ( bao gồm các
hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, trang bị máy móc
hoặc thủ công…)
- Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ khai thác các tài nguyên thiên
nhiên phục vụ cho sản xuất và đời sống, bao gồm:
+ Khai thác các nguồn năng lượng: dầu mỏ, khí đốt, than ...
+ Khai thác vật liệu xây dựng: cát, đá, sỏi....
+ Khai thác quặng kim loại: thiếc, boxit, sắt....
Sản phẩm của công nghiệp khai thác cung cấp đầu vào cho các ngành


9


trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. Trình độ phát triển
công nghiệp càng cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nâng
cao năng suất lao động xã hội.
Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thế
giới đến trình độ sản xuất cao, đó là việc tạo ra các tư liệu sản xuất có khả
năng tạo ra phần lớn sức lao động của con người. Đó chính là sự ra đời và
phát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa trong một số
khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất. Máy móc tự động hóa thể hiện sự phát
triển cao của công nghiệp trong việc tạo ra tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại
phục vụ cho các ngành sản xuất và cho bản thân công nghiệp.
* Công nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp được coi là
nhiệm vụ cơ bản nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho đời sống
nhân dân và nông sản cho xuất khẩu. Để thực hiện nhiệm vụ này, nông nghiệp
không thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ đắc lực của công nghiệp.
Công nghiệp chính là ngành cung cấp cho sản xuất những yếu tố đầu vào
quan trọng như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc cơ khí nhỏ đến cơ
giới lớn. Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ
tầng cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Ngày nay, việc ứng dụng công nghiệp sinh học vào nông nghiệp đã tạo
ra bước phát triển đột biến trong nông nghiệp; Với những giống cây trồng, vật
nuôi có những tính ưu việt về thời gian sinh trưởng, phát triển và khả năng
chống sâu bệnh, về sự đa dạng hóa của sản phẩm và đặc biệt về năng suất,
chất lượng đã góp phần tạo ra sản phẩm phong phú, đa dạng và có giá trị cao.
Công nghiệp chế biến đã có những đóng góp quan trọng vào việc tăng
giá trị sản phẩm, tăng khả năng tích trữ, luân chuyển của sản phẩm nông

môn và tăng thu nhập cho người lao động.
* Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản

11


xuất. Từ đặc điểm của sản xuất, công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có
tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “công nghiệp". Do đó đội ngũ
lao động trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư.
Bên cạnh đó, lao động trong công nghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn
hóa cao tạo điều kiện nâng cao trình độ lao động của người lao động và chất
lượng của sản phẩm. Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, còn có điều kiện
tăng nhanh trình độ công nghệ của sản xuất áp dụng những thành tựu khoa
học ngày càng cao vào sản xuất. Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển và theo đó quan hệ sản xuất ngày càng
hoàn thiện hơn. Sự hoàn thiện về các mô hình tổ chức sản xuất sẽ làm cho sản
xuất công nghiệp trở thành hình mẫu về kỹ thuật sản xuất hiện đại, phương
pháp quản lý tiên tiến, người lao động có ý thức tổ chức và kỷ luật.
1.1.3. Đặc điểm công nghiệp trong nền kinh tế
Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt
động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của hai mặt: mặt kỹ thuật
của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật
chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội nền kinh tế chia thành nhiều
ngành kinh tế liên quan như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Song xét trên phương diện
tính chất tương tự của công nghệ sản xuất, có thể coi đó là tổng thể của hai
ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp còn các ngành khác có thể là các
dạng đặc thù của hai ngành:
Vì thế, cần xem xét các đặc trưng của sản xuất công nghiệp khác với sản
xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: mặt kĩ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về công nghiệp
Quản lý Nhà nước về công nghiệp là một bộ phận quan trọng trong quản
lý Nhà nước về kinh tế, thể hiện sự tác động của hệ thống các cơ quan Quản
lý Nhà nước về kinh tế đến hệ thống công nghiệp bằng các biện pháp, phương

13


pháp và công cụ nhằm làm hệ thống công nghiệp vận hành phù hợp với các
quy luật khách quan và định hướng mục tiêu của hệ thống kinh tế quốc dân.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về công nghiệp
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách về
phát triển Khu, Cụm công nghiệp, khu kinh tế.
- Ban hành hướng dẫn phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách, pháp
luật và tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật có liên quan đến việc thành lập, đầu tư,
xây dựng phát triển và quản lý hoạt động của Khu công nghiệp, khu kinh tế,
tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư, xây dựng, phát triển và quản lý
hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế, tổ chức thực hiện hoạt động xúc
tiến đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Cấp điều chỉnh thu hồi văn bản quyết định chủ trương đầu tư, giấy
chứng nhận đăng ký.
- Tổ chức bộ máy đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan quản lý
nhà nước về khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Hướng dẫn hỗ trợ, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, giám sát, thanh
tra và xử lý vi phạm của Doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định
pháp luật của Nhà nước.
1.2.3. Chủ thể quản lý nhà nước đối với công nghiệp thành phố Tam Kỳ
- Phòng Kinh tế:
+ Là cơ quan đầu mối tham mưu giúp Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ
đạo, thực hiện công tác quản lý nhà nước về công nghiệp trên địa bàn.

những quy định về quản lý chuyên ngành liên quan đến khu, cụm công nghiệp
- Phòng Nội vụ
+ Chủ trì, phối hợp với các ban, ngành hướng dẫn việc thành lập và tổ
chức hoạt động của Trung tâm phát triển khu, cụm công nghiệp
- Công an thành phố Tam Kỳ
+ Thực hiện công tác đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, quản lý về

15


cư trú của người lao động, công tác phòng cháy chữa cháy…
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Khu, Cụm
công nghiệp
1.3.1. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước về phát triển Khu, Cụm công nghiệp
Chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về quản
lý Khu, cụm công nghiệp chính là căn cứ để các địa phương đề ra những
chính sách Quản lý Nhà nước đối với Khu cụm công nghiệp phù hợp với khả
năng, thế mạnh và nhu cầu thực tế của từng địa phương, lãnh thổ. Qua đó
thực hiện chức năng điều tiết, kích thích và định hướng đối với sự phát triển
kinh tế- xã hội. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nhà nước có các chính sách cơ bản như sau:
- Chính sách đối với các thành phần kinh tế: Chủ trương của nhà nước là
“Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các
thành phần kinh tế kinh doanh theo Pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Nước ta đang tồn tại các thành
phần kinh tế, đó là: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế
tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

và tốt hơn, giúp các DN cạnh tranh có hiệu quả và có chỗ đứng trên thị
trường.
1.3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và năng lực cán bộ quản lý
đối với công tác quản lý khu, Cụm công nghiệp
Bộ máy quản lý nhà nước đối với quản lý các Khu, Cụm công nghiệp:
Cơ chế quản lý nhà nước đối với Khu, Cụm công nghiệp là các quy định của
Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các lĩnh vực
quản lý làm chế tài để quản lý khu, cụm công nghiệp. Quản lý nhà nước là

17


một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện bằng cơ quan Nhà
nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) Chính phủ, Bộ (Trung ương) và UBND
các cấp (địa phương) là bộ máy trực tiếp (chủ thể) quản lý. Nhà nước phải
thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ: xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện pháp
luật, kiểm tra, kiểm soát, tiến hành xử lý vi phạm pháp luật trong mọi quá
trình hình thành, vận động và phát triển của Khu, Cụm công nghiệp. Tác động
của Nhà nước là nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực hiện quá trình
hình thành, phát triển; còn đối với các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư,
xây dựng và hoạt động trong các Khu, Cụm công nghiệp là buộc họ thực hiện
tốt chức năng, vai trò của mình. Để tăng cường quản lý nhà nước đối với phát
triển các Khu, Cụm công nghiệp, trong thời kỳ đổi mới Nhà nước ta đã không
ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến bộ máy tổ chức quản lý các
Khu, Cụm công nghiệp.
1.3.4. Công tác kiểm tra, giám sát đối với quản lý nhà nước đối với
khu, Cụm công nghiệp
Trong quản lý nhà nước về Khu, Cụm công nghiệp, với cơ chế tác động
và biện pháp điều chỉnh chủ yếu là bằng pháp luật, nhà nước phải thường
xuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm loại các hành vi không hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status