A là con ông B cư trú tại Phường C Quận HB Thành phố H đã trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, A đủ 16 tuổi và trong quá trình giải quyết vụ án này thì A chưa đủ 18 tuổi. Khi phát hiện mất tiền, bà K đã đến công - Pdf 57

MỤC LỤC
ĐỀ BÀI......................................................................................................................1
BÀI LÀM..................................................................................................................2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ..................................................................................3
1. Câu 1..............................................................................................................3
2. Câu 2..............................................................................................................3
3. Câu 3..............................................................................................................4
4. Câu 4..............................................................................................................7
5. Câu 5..............................................................................................................8
6. Câu 6..............................................................................................................9
7. Câu 7............................................................................................................10
8. Câu 8............................................................................................................12
9. câu 9.............................................................................................................13
III. KẾT LUẬN..................................................................................................14
DANH MỤC VIẾT TẮT........................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................16

0


ĐỀ BÀI
A là con ông B cư trú tại Phường C - Quận HB - Thành phố H đã trộm
cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, A
đủ 16 tuổi và trong quá trình giải quyết vụ án này thì A chưa đủ 18 tuổi. Khi
phát hiện mất tiền, bà K đã đến công an Phường C để trình báo. Ông B phát
hiện A trộm tiền của bà K đã khuyên A tự thú và A đã ra tự thú tại công an
Phường C (A phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn, có nơi cư trú rõ
ràng, chưa có tiền sự).
Câu hỏi
1. Công an phường C phải làm gì khi A ra tự thú?

sự, hình sự ngày càng đa dạng, phong phú. Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân
được cải thiện. Bên cạnh sự phát triển đó, thì nền kinh tế thị trường đã làm nẩy sinh
những mặt trái, đó là sự tha hoá, biến chất về đạo đức và nhân phẩm của một số bộ
phận con người, làm phát sinh tệ nạn xã hội, dẫn đến tình hình chính trị, an ninh và
trật tự xã hội đi theo khuynh hướng xấu. Tội phạm ngày một gia tăng, tính chất
mức độ hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm, tinh vi hơn, trong đó thì loại tội
phạm xâm hại đến quyền sở hữu chiếm tỉ lệ lớn trong các loại tội phạm là tội trộm
cắp tài sản xảy ra rất phức tạp dưới nhiều hình thức, nó xâm phạm trực tiếp đến
những quan hệ xã hội được pháp luật bảo hộ, đó là quyền sở hữu của con người, sở
hữu của Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng em xin
giải quyết tình huống nêu trên để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội trộm cắp
tài sản và quá trình tố tụng hình sự tội danh này.

2


II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Câu 1
Theo Khoản 1 Điều 152 BLTTHS 2015 quy định như sau:
“1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải
lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú,
đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm
thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.”
Như vậy, khi A ra tự thú thì công an Phường C phải tiếp nhận và lập biên bản
ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của A đồng thời phải có trách
nhiệm thông báo ngay cho CQĐT hoặc VKS.
Biên bản phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tự thú, hành vi mà họ đã phạm tội,
những tài liệu, vật chứng, dụng cụ gây án, tài sản và tất cả các tình tiết khác có liên
quan… Trong tình huống trên, A đã có hành vi trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K,
sau khi được ông B khuyên, A đã ra tự thú với thái độ thành khẩn, có nơi cư trú rõ

trộm cắp tài sản, theo khỏan 1 Điều 173 BLHS thì A có thể bị phạt cải tạo không
giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Căn cứ Khoản 8, Điều 157 BLTTHS 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ
án hình sự như sau:
“…8. Tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134, 135, 136, 138, 141, 143,
155, 156, 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu
khởi tố.”
Như vậy, A vẫn phải bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản
theo Khoản 1 Điều 173 BLHS mặc dù bà C có đề nghị CQĐT không xử lý về hình
sự với A.
3. Câu 3
*Xác định CQĐT có thẩm quyền điều tra vụ án.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 và Điểm a, Khoản 5, Điều 163 BLTTHS; Khoản 1
Điều 269, BLTTHS 2015.

4


Tình huống đã đưa ra là A cư trú tại Phường C, Quận HB Thành phố H đã
trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm. Xét thấy, ở tình huống này, người
phạm tội không thực hiện tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham
nhũng, chức vụ để thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT, VKSND tối cao; và tình
huống này cũng không thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nên đương nhiên
không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Quân đội nhân dân. Do đó, áp
dụng khoản 1, Điều 65 thẩm quyền điều tra sẽ thuộc về CQĐT của Công an nhân
dân.
Ngoài ra, nơi thực hiện tội phạm trong tình huống là phường C, quận HB nên
vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND quận HB (theo khoản 1, Điều 269). Nói
cách khác, áp dụng Điểm a, Khoản 5, Điều 163, thì thẩm quyền điều tra vụ án trên
sẽ thuộc về CQĐT của CAND quận HB.

người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập
phải được ký nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị hại cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi bị hại làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người
làm chứng thực hiện nghĩa vụ.
Thứ hai, lấy lời khai bị hại (Điều 186, BLTTHS)
- Việc lấy lời khai bị hại (bà K) được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của bà K
- Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho bị
hại biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định. Việc này phải ghi vào biên bản.
- Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ
giữa bà K với bị can (là A), người làm chứng và những tình tiết khác về nhân thân
của bị hại. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách
trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi.
Kết quả của hoạt động lấy lời khai là biên bản lấy lời khai. Việc lấy lời khai
của bị hại có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Đối với việc lấy lời khai của A:
6


Cơ sở pháp lý: Điều 421, BLTTHS 2015
Việc CQĐT tiến hành lấy lời khai của A (người thực hiện hành vi phạm tội)
khi thực hiện hoạt động điều tra chính là việc CQĐT tiến hành hỏi cung bị can A.
Vì A chưa đủ 18 tuổi nên việc lấy lời khai này được thực hiện theo quy định tại
Điều 421, BLTTHS 2015 về Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối
chất. Cụ thể để lấy được lời khai của A, CQĐT cần thực hiện các hoạt động sau:
- Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt,
người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18
tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa
điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ

chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự
thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan
đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội
phạm và người thân thích của những người này. Nhưng khi A bị bắt, A đã thành
khẩn khai báo, có nơi cư trú rõ và không có ý định bỏ trốn, càng không có dấu hiệu
tiếp tục thực hiện tội phạm, cũng không có ý định trả thù hay tẩu tán tài sản.
Như vậy việc CQĐT ra lệnh tạm giam với A là Sai.
5. Câu 5
Khi ông B đã lựa chọn người bào chữa cho A nhưng A yêu cầu được lựa chọn
người bào chữa thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa mà ông B đã lựa chọn
trực tiếp đến gặp A để xác nhận việc từ chối.
Căn cứ Khoản 2 Điều 7 BLTTHS 2015: “Trường hợp người bị bắt, người bị tạm
giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa
do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực
tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ
chối.”
Sở dĩ có việc như vậy vì với vai trò là Người bào chữa, những người có kiến thức
pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng, họ có thể mặt thân chủ mình tham gia
8


tố tụng trong một vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống
lại sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho
thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các
tình tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ
án hình sự. Hơn nữa còn bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các
đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa
những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật. Đặc biệt đối với người chưa thanh niên, vai trò của người bào chữa là có ý
nghĩa rất quan trọng, sự tham gia của người bào chữa càng sớm thì quyền lợi của

trọng nhất vì kết quả của giai đoạn này là bản án kết luận một người có phạm tội
hay không, hình phạt mà họ phải chịu là gì và khi bản án có hiệu lực pháp luật
người đó mới bị coi là có tội. Bản án là kết luận cuối cùng của Tòa án trong phiên
tòa xét xử vụ án hình sự thông qua Hội đồng xét xử. Chính vì vậy, để xét xử đúng
người đúng tội, không làm oan người vô tội đòi hỏi mỗi thành viên trong Hội đồng
xét xử phải vô tư, khách quan. Việc thay đổi thẩm phán dựa vào những căn cứ sau:
Thứ nhất, về người có quyền đề nghị thay đổi thẩm phán, căn cứ vào điều 302
BLTTHS, những người có quyền đề nghị thay đổi thẩm phán gồm Kiểm sát viên và
những người tham gia tố tụng
Thứ hai, thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những
trường hợp được quy định tại Điều 53 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ
thể trong các trường hợp sau:
- Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
- Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;
- Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với
tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra
viên, Thư ký Tòa án.

11


Với tình huống trên, trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, ông B đề nghị
thay đổi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì Thẩm phán là người thân thích của Kiểm
sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, vì vậy để giải quyết Hội đồng xét xử phải
căn cứ vào Khoản 2 Điều 53 BLTTHS. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại
phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu
quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó
được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số. Trường hợp phải
thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn
phiên tòa.

bị buộc tội.” Căn cứ vào Điều 422 BLTTHS 2015 quy định về bào chữa đối với
người dưới 18 tuổi. Nhằm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo
chưa thành niên, Điều 422 BLTTHS quy định: ngoài bản thân người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo chưa thành niên thì người đại diện hợp pháp của các em cũng có thể
thay mặt các em lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa; hơn nữa, đối với
vụ án người chưa thành niên thì bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa,
nếu các em hoặc người đại diện hợp pháp không lựa chọn được người bào chữa thì
CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật
sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ
chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.
Tuy nhiên trong tình huống nêu trên, ông M là người bào chữa cho A theo chỉ định
của CQĐT, VKS, Tòa án căn cứ theo điểm b Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 quy
định về chỉ định người bào chữa trong trường hợp người dưới 18 tuổi đã bị A đã từ
chối nên để giải quyết, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào Khoản 5 Điều 9 Thông tư
liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH: “Trường
hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì
phải lập biên bản lưu trong hồ sơ vụ án.”

13


9. câu 9
Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ giữ nguyên hình phạt tù căn cứ vào điểm e Khoản
1 Điều 357 BLTTHS 2015
Bị cáo là đối tượng của việc buộc tội trong hình sự, họ có thể phải chịu hình
phạt và bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra bằng một bản án,
quyết định của Tòa án hoặc có thể được tuyên vô tội và được trả tự do ngay. Để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ có quyền kháng cáo. Quyền kháng cáo
được pháp luật tố tụng quy định cho chính bản thân bị cáo.
Như vậy, bị cáo có quyền kháng cáo đối với mọi bản án, quyết định sơ thẩm. Bị

CQĐT
VKS

Bộ luật tố tụng hình sự
Bộ luật hình sự
Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nhà xuất bản Lao động.
2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia sự thật.
3. Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTPBLĐTBXH
4. Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP
5.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status