Hành vi khách quan của tội phạm nêu trên được thể hiện ở 3 dạng hành vi khác nhau và được coi là hành vi phạm tội cướp tài sản - Pdf 34

Bài 2
A và B có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Để việc chiếm đoạt
thuận lợi chúng cùng nhau tìm mua súng. Sau một thời gian tìm mua súng
không được, chúng ra một cửa hàng đồ chơi trẻ em mua một khẩu súng nhựa.
Một hôm, A và B đem khẩu súng này ra bờ sông (nơi thanh niên hay ngồi
hóng mát). Bọn chúng gặp C, D đang ngồi bên cạnh một chiếc xe máy. A rút
súng ra doạ: “ngồi im không tao bắn chết”. Tưởng đây là súng thật và lo lắng
cho tính mạng nên khi B lấy chiếc xe máy mang đi. C và D không có phản
ứng gì. A, B đem xe máy bán cho người quen là E được 8.000.000 đồng và ăn
tiêu hết.
Hỏi: 1. Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao? (3 điểm)
2. Trường hợp C và D biết là súng giả, chống cự lại, A và B không
lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự của A, B được giải quyết như thế
nào? Tại sao? (2 điểm)
3. E có phạm tội không? Tại sao? (2 điểm)

1


1. Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao ?(3d)
Hành vi của A và B cấu thành tội cướp tài sản ( Điều 133- BLHS )
Khoản 1 Điều 133 BLHS 1999 có đưa ra khái niệm cụ thể về tội này đó
là: Tội cướp tài sản là tội mà người nào đó có hành vi “ dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm
vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản…”
Tại sao có thể khẳng định hành vi của A, B phạm vào tội trên? bài làm
dưới đây em xin chỉ ra và làm rõ các dấu hiệu pháp lí cấu thành của loại tội
này. Các dấu hiệu đó bao gồm:
Khách thể của tội phạm.
Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ. Đó là ( quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu ) 1… Hành vi

xảy ra được hoặc xảy ra nhưng không có kết quả hoặc làm cho người bị tấn
công bị tê liệt về ý chí, không giám kháng cự. Những hành vi dùng vũ lực có
tính chất như vậy có thể là đánh, chém, trói, nhốt...
Dạng thứ hai hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc. Đây là
trường hợp người phạm tội bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ ( hoặc cả hai ) dọa
sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt…
Với tình tiết đề bài đã cho hành vi của A, và B thỏa mãn một trong 3
dạng hành vi của tội cướp tài sản đó là A, B đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực
ngay tức khắc thông qua bằng cử chỉ và cả lời nói. Tại sao lại khẳng định đó
là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc? Tại vì:
Thứ nhất tính chất của sự đe dọa, theo qui định của luật hình sự, sự đe
dọa phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc. Dấu hiệu “ ngay tức khắc” ở
đây có nghĩa là chỉ sự nhanh chóng về mặt thời gian, ( sẽ xảy ra ngay lập tức )
và vừa dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa. Việc A vừa thực hiện
hành vi rút súng đồng thời và nói “ngồi im không tao bắn chết” đã cho thấy
tính chất ngay lập tức, nhanh chóng, cấp bách như thế nào của hành vi này.
Hành vi đe dọa nêu trên có tính chất mãnh liệt, nó làm cho C, D thấy được
rằng việc dùng vũ lực sẽ xảy ra ngay lập tức đối với mình nếu như không đáp
ứng các điều kiện mà chúng đưa ra. Trong trường hợp này C D không còn sự
lựa chọn nào khác C, D không hoặc khó có thể tránh khỏi cái chết nếu như
không giao chiếc xe máy cho A và B. Sự đe dọa này đã làm cho ý chí của A
và B tê liệt, tính chất gấp gáp, nguy hiểm ngay lập tức đã làm cho C, D không
thể kịp suy nghĩ đưa ra sự lựa chọn nào khác được ngoài việc phải giao tài sản
3


của mình cho A, B mới đảm bảo được tính mạng. Và việc đe dọa như vậy A,
B đã đạt được mục đích của mình, chiếm đoạt được chiếc xe máy của C, D.
Dạng thứ 3 hành vi làm cho người bị tấn công rơi vào tình trạng
không thể chống cự được. Hành vi ở dạng thứ 3 này tuy không phải là dùng



Với hành vi phạm tội của mình, cùng với việc phân tích các dấu hiệu
cấu thành tội cướp tài sản đã thấy hành vi phạm tội của A, B thỏa mãn các
dấu hiệu cấu thành tội này. Vậy có thể khẳng định rằng hành vi của A, B cấu
thành tội cướp tài sản theo Điều 136 BLHS.
2. Trường hợp C, D biết đó là súng giả, chống cự lại, A, B không
lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự của A, B được giải quyết như thế
nào? Tại sao? ( 2đ )
Trong trường hợp này mặc dù C, D biết đó là súng giả đã chống cự lại
và khiến cho A, B không thể lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự đặt ra
đối với A B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 133 BLHS
về tội cướp tài sản nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, tại vì:
Thứ nhất : Căn cứ vào qui định tại Điều 133 của bộ luật: “ Người nào
dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho
người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm
đoạt tài sản…” Như vậy có thể thấy đây là loại tội có cấu thành hình thức.
Chỉ cần người phạm tội đã có thực hiện hành vi phạm tội của mình thuộc một
trong 3 loại hành vi phạm tội được qui định trong điều luật trên thì tội phạm
đã được coi là hoàn thành, trách nhiệm hình sự đã được đặt ra mà không cần
biết rằng trên thực tế việc chiếm đoạt tài sản đó đã đạt được hay chưa. Hậu
quả xảy ra về mặt thực tế hay chưa chỉ là căn cứ để Tòa Án xem xét có thể
làm tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt giành cho A, B mà thôi.
Thứ hai : Về phía A, B trong ý thức chủ quan của mình A, B đã mong
muốn chiếm đoạt được tài sản của C vì vậy A, B đã thực hiện hết các hành vi
phạm tội cho là cần thiết để mong muốn hậu quả xảy ra về mặt thực tế nhưng
A, B không thực hiện được tội phạm đến cùng là do những nguyên nhân
khách quan ngoài ý muốn của họ. Bản thân A, B vẫn mong muốn lời đe dọa
của mình sẽ làm tê liệt ý chí kháng cự của C, D và chiếm đoạt được xe máy.
Với mục đích như vậy A, B đã thực hiện hành vi phạm tội cướp nêu trên và

ngay E có phạm tội hay không mà nó còn phụ thuộc vào yếu tố sau đây:
Trường hợp thứ nhất : E sẽ không có tội nếu như việc E mua chiếc xe
máy này là hoàn toàn không biết chiếc xe máy đó do A, B cướp được mà có.
3

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên
nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.” Điều 18 BLHS Việt Nam 1999.

6


Có thể giải thích như sau: E là người quen của A, B có thể vì một lí do nào đó
xuất phát từ nhu cầu thực tế hay…. Mà E có nhu cầu muốn mua một chiếc xe
máy để đi lại. Và khi biết mình có ý định muốn mua xe nên A, B nói với E
rằng có người bạn đang muốn bán chiếc xe máy của cậu ấy để mua chiếc xe
đắt tiền hơn..… vì vậy nếu cậu mua tớ bảo nó bán cho, có gì tớ sẽ mang xe
máy của nó đến cho cậu xem, vì nó gửi tớ bán hộ nên xe máy đang để ở nhà
tớ… vì vậy nếu như trong giả định tình huống trên, A, B lừa dối chiếc xe đó
là của hợp pháp, lại chỗ quen biết nên E đã tin và mua chiếc xe máy ngay,
trong trường hợp này theo ý kiến của em thì E sẽ không có tội.
Tuy nhiên trường hợp này trên thực tế rất ít xảy ra vì đã là xe máy thì
theo qui định của pháp luật xe máy phải có đăng kí quyền sở hữu, khi E mua
chiếc xe đó phải căn cứ vào giấy tờ, người đứng tên chủ sở hữu xe đó là ai?
Hoặc A, B phải xuất trình giấy tờ hợp pháp chứng minh A hoặc B là chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp đối với chiếc xe máy đó thì việc E mua chiếc xe
máy đó mới là hợp pháp nhưng nếu A, B không thể xuất trình được mình là
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với xe máy đó thì E hoàn toàn có
căn cứ để nghi ngờ và trong nhận thức của mình có thể nghĩ rằng A, B không
phải là chủ sở hữu của chiếc xe máy đó, và dĩ nhiên không loại trừ chiếc xe

hiện hành vi cướp, hướng dẫn cho A, B cách thức thực hiện tội phạm, phân
công cộng việc cho từng người. A, B đã nge theo sự chỉ đạo của E và cùng
nhau đi mua súng…trong trường hợp này E sẽ là đồng phạm của A, B về
tội cướp tài sản theo qui định tại điểm a, khoản 2 Điều 133 BLHS với vai
trò là người tổ chức.
Nếu E chỉ có hành vi hứa hẹn trước với A, B là sẽ tiêu thụ tài sản sau
khi A, B đã cướp được, tạo điều kiện về mặt tinh thần cho A, B thực hiện
việc phạm tội thì E là đồng phạm với A, B và phải chịu trách nhiệm hình
sự theo qui định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS với vai trò người giúp sức.

8


9


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình
Trường đại học luật hà nội, giáo trình luật hình sự Việt nam. Tập I và
tập II ), Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.
Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, giáo trình luật hình sự - phần các
tội phạm xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt, Nxb. Đại học quốc gia
Hà Nội, 2007
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt nam, Nxb. CTQG, Hà Nội,
2000
Nguyễn Ngọc Hòa, Mô hình luật hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà
Nội , 2009.
Văn bản qui phạm
Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 ( Sửa đổi năm 2009 )
Nghị quyết số 01/- 89/HDTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status