1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THU TRANG DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt
HÀ NỘI - 2012 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THU TRANG DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt
HÀ NỘI - 2012
1
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoàn
1.2.1.
Khái niệm hậu quả phạm tội
19
1.2.2.
Các đặc điểm của dấu hiệu hậu quả phạm tội
21
1.2.3.
ý nghĩa của dấu hiệu hậu quả phạm tội
28
1.3.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với các dấu
hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm
31
1.3.1.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với dấu hiệu
hành vi phạm tội
31
1.3.2.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với các dấu hiệu
32 2
không bắt buộc khác trong mặt khách quan của tội phạm
Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn áp dụng
33
2.1.
SỰ THỂ HIỆN DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI THEO
2.2.2.1.
Một số tồn tại
67
2.2.2.2.
Những nguyên nhân cơ bản
69
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự việt nam năm
1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu hậu quả phạm tội
72
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu
hậu quả phạm tội
72
3.1.1.
Về phƣơng diện thực tiễn
72 3
3.1.2.
Về phƣơng diện lập pháp
73
3.1.3.
Về phƣơng diện lý luận
74
3.2.
Nội dung hoàn thiện một số quy định của Bộ luật hình sự
nhất pháp luật
87
3.3.3.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
88
3.3.4.
Tăng cƣờng vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hiện
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp
91
kết luận
94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số liệu thống kê số tội phạm có dấu hiệu hậu quả phạm
tội là dấu hiệu bắt buộc theo Bộ luật hình sự Việt Nam
thiết lập, duy trì kỷ cƣơng cho xã hội ấy.
Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP "Về tăng cường công tác phòng, chống
tội phạm trong tình hình mới" ngày 31/7/1998 của Chính phủ đã nhận định:
Tình hình tội phạm ở nƣớc ta hiện nay vẫn có xu hƣớng
gia tăng và diễn biến phức tạp. Cơ cấu thành phần tội phạm có
những thay đổi, số thanh niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao.
Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức nhƣ tham nhũng, buôn
lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực,
cƣớp của, giết ngƣời, chống ngƣời thi hành công vụ, đâm thuê,
chém mƣớn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính
chất côn đồ hung hãn; gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng
gây lo lắng cho toàn xã hội [12].
Nhƣ vậy, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm đòi hỏi không chỉ
bảo vệ các quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ đã bị tội phạm 6
xâm hại, mà cần bảo vệ chúng (quan hệ xã hội đó) trong những trƣờng hợp
chƣa bị xâm hại. Đây còn là yêu cầu có ý nghĩa tiên quyết thể hiện chính sách
hình sự của Nhà nƣớc ta. Chính sách hình sự, đúng nhƣ GS. TSKH. Đào Trí
Úc đã viết, "là một bộ phận của chính sách pháp luật, bởi vì đó là những định
hƣớng, những chủ trƣơng trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực
đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm" [53, tr. 34]. Cho nên,
trƣờng hợp nếu tội phạm đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì cũng cần
có sự nhìn nhận, đánh giá mức độ cho khách quan, chính xác và công bằng,
bảo đảm sự phân hóa trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội. Tuy nhiên,
hiện nay Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành qua những lần sửa
đổi, bổ sung (gần đây nhất là năm 2009) mặc dù đã có những bƣớc phát triển
vƣợt bậc để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, song
vẫn còn tồn tại, hạn chế cần phải hoàn thiện, trong đó có quy định về dấu hiệu
các công trình sau: 1) GS. TSKH. Lê Văn Cảm, Mục IV, phần II, Chương thứ
tư - Tội phạm, Trong sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;
2) PGS.TS. Kiều Đình Thụ, Chương IX, Mặt khách quan của tội phạm, Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
(Tập thể tác giả do GS. TSKH. Lê Văn Cảm chủ biên); 3) GS. TS. Nguyễn
Ngọc Hòa, Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 1991; 4) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, 2008; 5) PGS.TS. Kiều Đình Thụ, Tìm
hiểu về luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996; Nxb
Đồng Nai, 1998; 6) TS. Trịnh Tiến Việt, Bình luận khoa học - thực tiễn về một
số vấn đề của luật hình sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, 2004; 7) Viện luật học,
Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986; 9) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập 1,
Phần các tội phạm - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Nxb Hà Nội, 1987;
v.v 8
* Nhóm thứ hai, bao gồm các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ sau: 1) Lê
Đăng Doanh, Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc
sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 1999; 2) Nguyễn Thị Ngọc
Linh, Hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc
mặt khách quan của tội phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2010.
* Nhóm thứ ba, còn có nhiều bài báo khoa học được công bố liên
quan đến dấu hiệu hậu quả phạm tội như: 1) GS. TSKH. Lê Cảm, Những vấn
đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Trên cơ sở Bộ luật hình sự năm
1999), Tạp chí Tòa án nhân dân số 7(4)/2005; 2) GS. TSKH. Lê Cảm, Lý luận
về cấu thành tội phạm trong luật hình sự, Tạp chí Luật học, số 2/2004; 3) TS.
thực tế đồng thời cũng đi sâu tìm hiểu các vƣớng mắc còn tồn tại trong lý luận
cũng nhƣ trong thực tiễn áp dụng để đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn
thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về dấu hiệu hậu quả phạm tội
trong mặt khách quan của tội phạm trong các tội phạm cụ thể và nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về vấn đề này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn có các nhiệm vụ
chính sau đây:
1) Làm rõ khái niệm và các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội
phạm; phân tích khái niệm, các đặc điểm của dấu hiệu hậu quả phạm tội trong
mặt khách quan của tội phạm, mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội
với các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm;
2) Phân tích sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách
quan của tội phạm theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành;
3) Phân tích và đánh giá các ví dụ, bản án điển hình về việc áp dụng
dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm trong thực tiễn
xét xử ở nƣớc ta thời gian vừa qua;
4) Nghiên cứu việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 hiện hành về dấu hiệu hậu quả phạm tội 10
5) Luận văn đƣa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành về dấu hiệu hậu
quả phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu đúng nhƣ tên gọi của nó - Dấu hiệu hậu quả
phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thực tiễn, luận văn đã phân tích và đánh giá các ví dụ, bản án điển
hình về việc áp dụng dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội
phạm trong thực tiễn xét xử ở nƣớc ta trong thời gian vừa qua; qua đó, luận
văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, học tập. Đặc biệt, những đề xuất
của luận văn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu ba chƣơng với nội dung sau đây:
Chương 1: Các vấn đề chung về dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt
khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên
quan tới dấu hiệu hậu quả phạm tội
12
Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA
TỘI PHẠM
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan
của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm có thể gây ra những thay đổi nguy hiểm
trong hiện thực khách quan, nếu xác định đúng mặt khách quan của tội phạm
có ý nghĩa trƣớc hết đối việc định tội, nó giúp cho hoạt động áp dụng pháp
luật của các cơ quan nhƣ Toà án, các cơ quan bảo vệ pháp luật khác phân biệt
đúng từng tội phạm cụ thể. Ví dụ: Do thù hằn với B nên A đã chuẩn bị dao và
dùng dao đâm B nhiều nhát cho đến khi B ngừng thở. Nhƣ vậy, hành vi của A
đã trực tiếp xâm phạm tới tính mạng của B, dẫn tới việc B chết. Hành vi của
A và hậu quả là B chết có mối quan hệ nhân quả với nhau.Việc xem xét các
dấu hiệu này có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội.
Bên cạnh đó, trong cấu thành tội phạm tăng nặng của một số tội phạm
cụ thể dấu hiệu hậu quả phạm tội biểu hiện thuộc mặt khách quan của tội
phạm có ý nghĩa là dấu hiệu định khung hình phạt. Ví dụ: Gây tổn hại sức
khỏe cho nạn nhân mà tỷ lệ thƣơng tật từ 31% đến 60% là dấu hiệu định
khung tăng nặng đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ
em đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Thậm chí, trong các tình tiết tăng nặng, hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự có những tình tiết thuộc mặt
khách quan của tội phạm có ý nghĩa trong việc xác định mức độ nguy hiểm 14
của hành vi phạm tội và vấn đề trách nhiệm hình sự đối với ngƣời thực hiện
tội phạm. Ví dụ: Hành vi tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục
hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, là trƣờng hợp
ngƣời phạm tội gây ra thiệt hại cho khách thể của tội phạm thì hoàn toàn tự
nguyện không có sự ép buộc nào đã thực hiện hành vi sửa chữa, bồi thƣờng
và khắc phục thiệt hại do mình gây ra. Hay theo quy định tại điểm g khoản 1
Điều 46 thì trƣờng hợp phạm tội chƣa gây thiệt hại hay thiệt hại không lớn
cũng là một tình tiết quan trọng để tòa án xem xét khi quyết định hình phạt
đối với ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội.
những hình thức nhất định có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý
chí. Hành vi gây nên những thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Nói một
cách khác, "Hành vi nguy hiểm cho xã hội chính là cầu nối giữa khách thể và
chủ thể" [20, tr. 63], sẽ không có tội phạm và ngƣời phạm tội nếu nhƣ không
có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi nguy
hiểm cho xã hội có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội.
Đây là đặc điểm có tính chất quan trọng và quyết định nhất trong việc phân
biệt một hành vi là vi phạm pháp luật khác với hành vi phạm tội. Về mặt
khách quan, hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra
thiệt hại tới những quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ. Những
quan hệ xã hội đó đƣợc quy định trong khoản 1, Điều 8 của Bộ luật hình sự
bao gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn
xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức chính trị, tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, quyền và những lợi ích hợp pháp khác của
công dân, trật tự xã hội chủ nghĩa. Có nghĩa là, nếu không xâm phạm những
quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ thì hành vi đó dù có nguy hiểm cho
xã hội thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Điều đó có nghĩa
là quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ đóng vai trò quan trọng 16
trong việc quyết định hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội phạm.
Theo đó, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc
vào tính chất và tầm quan trọng của những quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự
xác lập và bảo vệ cũng nhƣ mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra. Tính chất
quan trọng của quan hệ xã hội phụ thuộc vào ý nghĩa của nó đối với giai cấp
thống trị và ý nghĩa này có thể thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
vi và khả năng điều khiển đƣợc hành vi đó thì mới phải chịu trách nhiệm hình
sự. Đây chính là đặc điểm không thể thiếu của hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Thứ ba, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm phải là hành vi thể hiện dƣới dạng
hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội là hình thức của hành
vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối tƣợng tác động của
tội phạm gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể làm một
việc bị pháp luật cấm. Ví dụ: Hành động đập, phá, đâm, chém, đầu cơ, cất giữ
trái phép vũ khí… Hành động phạm tội có thể là chỉ là tác động đơn giản xảy
ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể là tổng hợp các động tác khác
nhau hoặc có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài. Hành động
phạm tội có thể tác động trực tiếp vào đối tƣợng tác động của tội phạm nhƣ
dùng tay bóp chết đứa trẻ hoặc có thể thông qua công cụ, phƣơng tiện phạm
tội trong trƣờng hợp dùng súng để gây thƣơng tích cho ngƣời khác. Hành
động phạm tội có thể đƣợc thực hiện qua lời nói nhƣ: Xúi giục ngƣời khác
thực hiện hành vi giết ngƣời hoặc việc làm nhƣ: Hành động cƣớp tài sản của
ngƣời khác.
Đối lập với hành động phạm tội, không hành động phạm tội là hình
thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối
tƣợng tác động của tội phạm gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm thông
qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù
có đủ điều kiện để làm. Ví dụ: Trƣờng hợp A thấy B bị C đâm nhiều nhát 18
trong tình trạng nguy kịch nếu không gọi cấp cứu kịp thời có thể sẽ chết mà A
bỏ mặc trong khi A hoàn toàn có thể cứu giúp B.
Hành động phạm tội và không hành động phạm tội đều là những biểu
hiện của con ngƣời ra ngoài thế giới khách quan, đƣợc ý thức kiểm soát, ý chí
điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối
vi đó thỏa mãn đầy đủ những đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm
cụ thể đƣợc quy định trong luật hình sự. Do đó, hành vi khách quan của bất
kỳ tội phạm cụ thể nào đều có tính đƣợc quy định trong luật hình sự hay tính
trái pháp luật hình sự. Thừa nhận nguyên tắc quan trọng này trong Bộ luật
hình sự năm 1999 của nƣớc ta đều quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự" [33, Điều 8]. Nhƣ vậy, theo
pháp luật nƣớc ta, chỉ có Bộ luật hình sự mới là văn bản pháp luật quy định
hành vi nào đó là tội phạm. Còn các vi phạm pháp luật khác không phải là tội
phạm đƣợc quy định trong các văn bản ngoài pháp luật hình sự. Ví dụ: Vi
phạm dân sự sẽ đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự, vi phạm hành chính sẽ
đƣợc quy định trong Bộ luật hành chính. Đây là một đặc điểm quan trọng khi
nói tới hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó cũng là một nguyên tắc đƣợc nhiều
nƣớc trên thế giới thừa nhận với nội dung: "nulliem crimen sine lege" nghĩa là
không có tội phạm nếu không có luật.
* Phương tiện phạm tội
Phƣơng tiện phạm tội là những vật, dụng cụ đƣợc ngƣời phạm tội sử
dụng để thực hiện tội phạm, phƣơng tiện phạm tội bao gồm cả công cụ phạm
tội. Đây không phải là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm.
Trong một số trƣờng hợp nhà làm luật quy định đây là dấu hiệu định tội. Ví
dụ: Tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự quy định tội làm môi giới hối lộ
phƣơng tiện phạm tội là những giá trị vật chất nhƣ vàng, kim cƣơng, đá quý là
những dấu hiệu định tội. Trong trƣờng hợp khi tính chất của phƣơng tiện 20
phạm tội có định hƣớng rõ rệt tới mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội nhà làm luật quy định phƣơng tiện phạm tội là dấu hiệu của cấu
thành tội phạm tăng nặng. Ví dụ: "Dùng vũ khí, phƣơng tiện, hoặc thủ đoạn
nguy hiểm khác" đƣợc dùng là dấu hiệu định khung của tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự hay
thành tội phạm, nó không thể đƣợc hiểu một cách đơn giản là thời gian nhất
định của một ngày, tháng hay năm mà phải đƣợc hiểu là một thời kỳ nhất định
phản ánh bằng các sự kiện chính trị, xã hội. Trong một số trƣờng hợp thời
gian phạm tội đƣợc quy định là dấu hiệu định tội: Ví dụ hành vi không chấp
hành nghiêm chỉnh những quy định đảm bảo an toàn "Trong chiến đấu hoặc
trong huấn luyện" là dấu hiệu định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 332 Bộ
luật hình sự là cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về bảo đảm
an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện. Trong một số trƣờng hợp thời
gian phạm tội đƣợc quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng ví dụ: Phạm
tội trong chiến đấu đƣợc quy định tại Điều 330 tội vi phạm quy định về trực
chiến, trực chỉ huy, trực ban và khoản 2 Điều 331 tội vi phạm các quy định về
bảo vệ; định khung hình phạt đặc biệt tăng nặng của cấu thành tội phạm đặc
biệt tăng nặng - Khoản 3 Điều 318 Bộ luật hình sự tội cản trở đồng đội thực
hiện nghĩa vụ, làm việc.
* Địa điểm phạm tội
Địa điểm phạm tội là một dấu hiệu không bắt buộc trong tất cả các cấu
thành tội phạm của Bộ luật hình sự có thể đƣợc hiểu là một điểm hoặc lãnh
thổ nhất định mà có sự kiện phạm tội tƣơng ứng xảy ra (Tội phạm bắt đầu
đƣợc thực hiện, tội phạm kết thúc về mặt pháp lý và hậu quả phạm tội xảy ra).
Trong luật hình sự, địa điểm phạm tội có thể là dấu hiệu định tội trong một số
tội phạm nhất định. Ví dụ: Trong khoản 1 Điều 83 Bộ luật hình sự quy định
về tội hoạt động phỉ nhƣ sau: "Ngƣời nào nhằm chống chính quyền nhân dân