3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Thu Hòa
MỤC LỤC
Trang
12
1.1.3.
Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của đồng phạm
19
1.1.4.
Các hình thức đồng phạm
22
1.2.
Khái niệm người thực hành trong đồng phạm và ý nghĩa của
việc xác định đúng vai trò của người thực hành trong đồng phạm
26
1.2.1.
Quá trình phát triển các quy định về người thực hành trong
đồng phạm và khái niệm người thực hành trong đồng phạm
theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
26
1.2.2.
Ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò người thực hành trong
đồng phạm
35
1.3.
Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác
35
1.3.1.
Các loại người đồng phạm
35
1.3.2.
Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác
39
Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999 về người thực hành trong đồng phạm
79
3.1.1.
Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình
sự Việt Nam năm 1999 về người thực hành trong đồng phạm
79
3.1.2.
Cơ sở của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự
Việt Nam năm 1999 về người thực hành trong đồng phạm
81
3.1.3.
Nội dung các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình
sự năm 1999 về đồng phạm và người thực hành
87
3.2.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp
luật về người thực hành trong công tác xét xử
89
3.2.1.
Về lập pháp
89
3.2.2.
Về áp dụng pháp luật
91
3.2.3.
Về công tác cán bộ
92
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 7
Trong nhiều năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội
của đất nước, tình hình tội phạm trên toàn quốc diễn biến ngày càng phức tạp,
gia tăng về số lượng. Những vụ án do nhiều người (chủ yếu là người thực
hành) cùng thực hiện, mang tính chất quốc tế, xuyên quốc gia ngày càng
nhiều với quy mô và tính chất phức tạp ngày càng cao. So với tội phạm do
một người thực hiện, tội phạm có đồng phạm thực hiện thường mang tính
nguy hiểm cho xã hội cao hơn các vụ án một người thực hiện.
Việc xác định chính xác các giai đoạn phạm tội; từng loại người (bao
gồm cả người thực hành) trong đồng phạm có ý nghĩa quạn trọng đối với việc
phân hoá vai trò, xác định trách nhiệm hình sự, các thể hoá hình phạt đối với
mỗi bị can, bị cáo.
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì số vụ án hình sự
có từ 02 bị cáo trở lên tham gia, đều thể hiện năm sau tăng hơn năm trước.
Việt Nam (Phần chung), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993;
- GS.TSKH Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình
sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, 2005;
- ThS.Trịnh Quốc Toản, "Đồng phạm", Trong sách: Giáo trình luật
hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ
biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003 và 2007).
- Trần Quang Tiệp, Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000;
- Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 (Phần
chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004;
- Nguyễn Thị Trang Liên. Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;
Bên cạnh đó vấn đề này cũng được đề cập ở nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết của nhiều tác giả như: 9
- Nguyễn Ngọc Hòa, Trần Quốc Dũng phạm tội gì? Bàn về các giai
đoạn phạm tội và vấn đề cộng phạm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/1980; Lê
Cảm, Về chế định đồng phạm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/1988; Đoàn Văn
Hường. Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 4/2003; Đặng Văn Doãn, Vấn đề đồng phạm, Nxb Pháp lý, Hà Nội,
1986; Trần Quang Tiệp. Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự ở một
số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/1997; Lê Thị
Sơn. Về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm, Tạp chí Luật học, số
3/1998; Dương Văn Tiến. Các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự
của những người đồng phạm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/1986…
Tuy nhiên, các công trình nói trên đa số có phạm vi nghiên cứu rộng,
hoặc nghiên cứu vấn đề đồng phạm dưới một số khía cạnh nhất định, hoặc chỉ
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của
Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so
sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật; nghiên cứu, điều tra
án điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên
cứu trong luận văn này. Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên đã
tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng
kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên
quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ở bình diện lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra một số
luận cứ góp phần hoàn thiện lý luận về chế định đồng phạm, người thực hành
trong đồng phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Cụ thể, làm rõ các
vấn đề chung về người thực hành trong vụ án có đồng phạm theo quy định 11
của luật hình sự Việt Nam; phân tích khái quát sự hình thành và phát triển của
các quy định pháp luật hình sự nước ta về người thực hành trong đồng phạm
từ năm 1945 đến nay; phân biệt hình thức đồng phạm này với một số hình
thức đồng phạm khác mà hiện hay thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm
sáng tỏ chế định đồng phạm quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999; phân
tích thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử trên toàn quốc (mà chủ yếu là tại
địa bàn thành phố Hà Nội) từ năm 2005 đến năm 2010 để so sánh, qua đó chỉ
ra những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành; chỉ ra các vấn đề
chưa thống nhất trong quá trình áp dụng các quy định đó cũng như chỉ ra
nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
Đức) năm 1483 - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại Nhà
Lê. Mặc dù chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm nhưng
Bộ luật đã có những quy định về trách nhiệm hình sự cho những người tham
gia phạm tội là:
Những kẻ đồng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì
lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu
ở nhà cũng lấy phần, thì xử tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng
vậy) nếu không lấy được phần chia thì xử lưu đi châu gần. Trước
kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy phần
cũng xử tội như đi ăn cướp [29].
Việc ghi nhận trách nhiệm hình sự đối với "kẻ đồng mưu" hay "người
xúi giục người khác phạm pháp" trong hai Điều luật trên cho thấy chế định
đồng phạm đã được đề cập đến trong luật hình sự phong kiến Việt Nam.
Phạm vi đồng phạm không những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ
mưu, người a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn
bao gồm cả những người thuộc phạm trù liên quan đến tội phạm: "Những kẻ 13
mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêu đầu,
kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội" [29].
Bộ "Quốc triều hình luật" cũng thể hiện đường lối xử lý, nguyên tắc
trừng trị tội phạm của Nhà nước phong kiến dưới triều Lê, Điều 35 quy định:
"Nhiều người cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a
tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả những người trong nhà cùng phạm một
tội, chỉ bắt người tôn trưởng" [29].
Như vậy, Bộ Quốc triều Hình luật đã có những quy định cơ bản về
đồng phạm và phân hóa trách nhiệm đối với những giai đoạn thực hiện tội
phạm khác nhau của đồng phạm. Tuy nhiên, các quy định thời kỳ này còn
chung chung, chưa đưa ra được các khái niệm cụ thể về đồng phạm, các loại
phản cách mạng.
Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng
phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý.
Thời kỳ này, các học giả tư sản (trường phái xã hội học chuyên phục
vụ cho sự thống trị của giai cấp tư sản) khi nêu vấn đề đồng phạm đã đưa ra
quan điểm: Chỉ cần có hai người trở lên cùng phạm tội thì gọi là đồng phạm.
Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phiến diện và không khoa học, không thể
hiện sự bao quát chính xác về mặt khách quan cũng như mặt chủ quan của
tội phạm.
Khi đó, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về đồng
phạm. Thành tựu lập pháp chỉ mới dừng lại ở quy định các trường hợp phạm
tội có đồng phạm như "phạm tội có tổ chức", "phạm tội có móc ngoặc" hay
quy định những loại người cụ thể trong vụ phạm tội có nhiều người cùng liên
kết thực hiện như bọn chủ mưu, bọn cầm đầu hay người xúi giục. Trong thực
tế, có nhiều thời kỳ việc nhiều người cố ý cùng phạm một tội được coi là
"cộng phạm".
Đến năm 1963, khái niệm này đã được khẳng định trong báo cáo tổng
kết ngành Toà án: "Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý 15
chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức hoặc xúi giục hoặc giúp sức hoặc
tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội" [38].
Pháp luật của một số nước trên thế giới, trong đó có Bộ luật Hình sự
của Liên bang Nga năm 1978 cũng có khái niệm tượng tự như vậy.
Hoặc giáo trình hình luật của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã
nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: "Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia
thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm" [45].
Các khái niệm này chưa đưa ra sự phân hoá trách nhiệm hình sự đối
với những kẻ cùng thực hiện tội phạm nhưng là những tư duy làm tiền đề cho
Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời, một lần nữa khẳng định quan điểm của
luật hình sự Việt Nam về chế định đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1985.
Chế định đồng phạm đã được quy định trong hầu hết luật hình sự của
các nước trên thế giới. Tuy nhiên chỉ có một số nước đưa ra khái niệm cụ thể
về các loại người trong đồng phạm. Trong nhiều trường hợp pháp luật các
nước đưa ra các khái niệm có liên quan làm căn cứ xác định người thực hành
hoặc phân biệt các loại người đồng phạm khác với người thực hành như Bộ
luật Hình sự của Bỉ có khái niệm người tòng phạm:
Sẽ bị trừng phạt với vải trò người tòng phạm một trọng tội
hoặc khinh tội:
- Những người chỉ dẫn việc thực hiện trọng tội hoặc khinh tội.
- Những người cung cấp vũ khí, phương tiện hoặc các loại
thiết bị khác sử dụng phạm trọng tội hoặc khinh tội [18].
Hoặc Bộ luật Hình sự của Nhật Bản dành cả chương XI quy định về
đồng phạm nhưng cũng không có quy phạm định nghĩa về đồng phạm mà chỉ
có khái niệm về đồng chính phạm, người xúi giục, người giúp sức.
Như vậy tìm hiểu, nghiên cứu quá trình lập pháp đã cho chúng ta khái
niệm đầy đủ và thống nhất về số lượng người trong đồng phạm là hai người
trở lên, cùng cố ý thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội phạm 17
được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và thoả mãn dấu hiệu "cùng cố ý" khi
tham gia thực hiện tội phạm thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng
phạm. Từ đó, có thể đi đến khái niệm chung nhất về đồng phạm như sau:
Đồng phạm là sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện
tội phạm do cố ý.
Khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát để từ
đó xác định các quy phạm khác của chế định đồng phạm về những loại người
đồng phạm; các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm; tự ý nửa
trường hợp:
- Thực hiện tội phạm.
- Xúi giục thực hiện tội phạm.
- Tổ chức thực hiện tội phạm.
- Giúp sức cho việc thực hiện tội phạm [50, tr. 182].
Với quy định này, trong những trường hợp người tổ chức, người thực
hành, người xúi giục, người giúp sức phạm tội độc lập trách nhiệm hình sự
vẫn được đặt ra mặc dù họ không phải là người đồng phạm.
Để hiểu rõ hơn, đầy đủ hơn về đồng phạm, ta cần đi sâu nghiên cứu
những dấu hiệu pháp lý của đồng phạm.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm
a) Dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm
Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi phải
có ít nhất hai người trở lên có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện một tội
phạm độc lập.
Nói hai người trở lên là nói về những người có hành vi nguy hiểm cho
xã hội đến một mức độ nhất định nào đó cùng thực hiện một tội phạm. Theo
TSKH.PGS Lê Cảm thì "Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên
vào việc thực hiện tội phạm (nói như vậy mới đảm bảo sự chính xác vì nếu 19
nói là "cùng thực hiện" thì có nghĩa là mới chỉ đề cập tới hành vi của một loại
người đồng phạm - người thực hành mà thôi)" [4, tr. 457].
Khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Những hành vi
tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác" [25].
Trong thực tiễn, nguyên tắc này được áp dụng khi xử lý đối với tất cả các tội
phạm kể cả những tội phạm có đồng phạm. Chúng ta thường thấy trong
những vụ âm mưu lật đổ chính quyền, bạo loạn, hoạt động phỉ… có đông
Năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc
của chủ thể tội phạm.
Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tính
chất của tội phạm. Thực tế cho thấy, một tội phạm được thực hiện chỉ do một
người thực hiện nhưng cũng có thể nó là kết quả của sự liên kết, phối hợp
giữa nhiều chủ thể khác nhau. Sự tham gia của nhiều người vào việc gây án
đã làm cho tội phạm có sự thay đổi về chất và có tính nguy hiểm cho xã hội
cao hơn hẳn trường hợp phạm tội riêng lẻ. Khi tội phạm có nhiều người cùng
tham gia thì những người phạm tội có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể, nên
liều lĩnh và táo bạo hơn, quyết tâm phạm tội hơn. Do đó, tội phạm có khả
năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội cao hơn
Dấu hiệu thứ hai thuộc về mặt khách quan của đồng phạm: Những
người đồng phạm đều có chung hành động và hướng tới một kết quả chung:
Để đánh giá chính xác vụ án có đồng phạm không thì cần xem xét
những người tham gia đó có cùng thực hiện một tội phạm hay không?
Dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm có nghĩa là trong đồng phạm
mỗi người (có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm) phải có hành vi tham gia
vào việc thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Họ có thể
tham gia vào tội phạm với một hoặc một số hành vi sau: Hành vi thực hiện tội
phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội 21
phạm, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm. Tương ứng với bốn loại hành vi
này là bốn loại người đồng phạm, bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức và người thực hành.
Thực tế cho thấy trong một vụ án đồng phạm có thể có đủ bốn loại
hành vi nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn hành vi đó. Những người
đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi hoặc với nhiều loại hành vi
khác nhau. Họ có thể tham gia từ đầu hay khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa
trọng trong việc quyết định hình phạt.
Quan hệ nhân quả trong đồng phạm là dạng quan hệ nhân quả kép trực
tiếp (quan hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai
trò là nguyên nhân). Khi tội phạm được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia
của nhiều người thì mỗi hành vi trái pháp luật của từng người đồng phạm đều
có khả năng thực tế trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
Trong trường hợp hành vi của những người đồng phạm chưa có khả
năng thực tế làm phát sinh hậu quả thì quan hệ nhân quả chỉ hình thành khi có
sự kết hợp các hành vi đó với nhau thành một thể thống nhất.
Như vậy, khi tìm hiểu dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm
ta cần phải xác định được những người tham gia thực hiện tội phạm đó có đủ
điều kiện của một chủ thể tội phạm hay không. Hành vi của người đồng phạm
đó ảnh hưởng tới hành vi của những người đồng phạm khác như thế nào và
ngược lại chịu ảnh hưởng của những người đồng phạm khác ở mức độ nào.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người đồng phạm với hậu quả chung
của tội phạm. Mức độ tham gia của người đồng phạm đối với hoạt động phạm
tội chung.
Bên cạnh những dấu hiệu thuộc mặt khách quan thì những dấu hiệu
thuộc mặt chủ quan của đồng phạm cũng hết sức quan trọng.
b) Những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm
Mặt chủ quan của tội phạm nói chung, đồng phạm nói riêng bao gồm
các dấu hiệu đặc trưng và cơ bản sau: Lỗi, động cơ và mục đích. 23
Dấu hiệu lỗi: Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu
hiện dưới hình thức là cố ý hoặc vô ý.
Trong đồng phạm ngay từ khái niệm được quy định tại Điều 20 Bộ
luật Hình sự năm 1999 đã quy định, đồng phạm chỉ được thực hiện với lỗi
mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Ở đây luật
hình sự chỉ đưa ra giới hạn "cùng cố ý", tức lỗi của họ đều phải là lỗi cố ý chứ
điều luật không yêu cầu họ cùng có lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp.
Do đó, điều mà chúng ta quan tâm khi tìm hiểu dấu hiệu ý chí trong đồng
phạm là những người đồng phạm có cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để
mặc cho hậu quả phát sinh hay không?
Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm trên hai mặt lý trí và ý chí cho
chúng ta đi đến thống nhất quan điểm: Đồng phạm là trường hợp mà những
người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác
cũng có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước được hậu quả
nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ
tham gia thực hiện, đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và
cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý, từ nội dung họ cùng cố ý thực hiện
tội phạm trong đồng phạm nêu trên, chúng ta có thể thấy trong mặt chủ quan
của đồng phạm cần phải thoả mãn dấu hiệu động cơ, mục đích mà điều luật
quy định là dấu hiệu bắt buộc.
Dấu hiệu động cơ, mục đích
Ngoài dấu hiệu lỗi là cùng thực hiện và cùng cố ý, trong một số
trường hợp đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích, khi đó mục đích
là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
Ví dụ: Trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Mục đích
chống chính quyền nhân dân hoặc làm suy yếu chính quyền là dấu hiệu bắt 25
buộc trong mặt chủ quan của tất cả các tội phạm. Khi thực hiện hành vi phạm
tội, người phạm tội có mục đích chống lại hoặc làm suy yếu chính quyền nhân
dân. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt tội xâm phạm an ninh quốc gia với
phạm mà họ cùng thực hiện, nhưng theo pháp luật hình sự Việt Nam trách
nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân, mỗi người đồng phạm là môt chủ thể
có lý trí và ý chí hành động trên cơ sở nhận thức và điều khiển hành vi của
mình cho nên mỗi người đồng phạm chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ
sở hành vi phạm tội của chính mình. Tuy nhiên, hành vi thái quá của người
thực hành, về lý luận cũng như thực tiện xét xử ở nước ta thừa nhận: Nếu
những người đồng phạm để cho người thực hành hoàn toàn tự do hành động
nhằm đạt được mục đích của tội phạm mà những người đồng phạm khác có ý
định thực hịên, thì mọi hành vi của người thực hành không được coi là hành
vi thái quá và những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về
mọi hành vi của người thực hành gây ra.
Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm còn thể hiện
ở khía cạnh: Thời hiệu đối với loại tội do những người đồng phạm đã thực
hiện được áp dụng chung cho tất cả.
Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội đó đã tự mình hối cải,
làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh sự trừng trị của
pháp luật thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không cần thiết
b) Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ
đồng phạm
Tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm là kết quả hoạt
động của tất cả những người đồng phạm gây ra. Bản thân mỗi người đồng
phạm trong đó có người thực hành đều đủ khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi khi họ có hành động phạm tội.
Mặt khác, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân nên việc xác
định trách nhiệm hình sự cho từng người đồng phạm, thực hành là cần thiết. 27
Do vậy, luật hình sự Việt Nam đã xác định nguyên tắc thứ hai trong việc xác
định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm là: Mỗi người đồng