I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ TH LOAN
NGƯờI GIúP SứC
TRONG ĐồNG PHạM THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s
Mó s: 60 38 40
TểM TT LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. LÊ VĂN CẢM
Phản biện 1: ........................................................................
Phản biện 2: ........................................................................
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nam năm 1999 ............................................................................... 29
2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý hình sự .......................................................... 29
2.1.2. Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong đồng phạm ..... 47
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về người giúp sức trong
đồng phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội ............................... 55
2.2.1. Một số đặc điểm về tình hình chính trị - quốc phòng, kinh tế xã hội, văn hóa... của địa bàn thành phố Hà Nội ............................ 55
1
2.2.2. Tình hình xét xử người giúp sức trong đồng phạm trên địa bàn
thành phố Hà Nội và những tồn tại, hạn chế .................................. 56
2.2.3. Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn
xét xử người giúp sức trong đồng phạm ......................................... 59
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY
ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM ..................... 62
3.1. Sự cần thiết, ý nghĩa và cơ sở của việc hoàn thiện các quy
định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về người giúp
sức trong đồng phạm .................................................................... 62
3.1.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm ........ 62
3.1.2. Ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm ............. 63
3.1.3. Cơ sở của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm ............. 63
3.2. Nội dung hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự việt
Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm................. 64
3.2.1. Nhận xét chung ............................................................................... 64
3.2.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung .............................................................. 66
Trong đề tài này, tác giả đi sâu nghiên cứu"người giúp sức trong đồng
phạm".Tác giả phân tích, khái quát lịch sự hình thành và phát triển của luật
hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và thực tiễn xét xử các vụ án có
đồng phạm ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn (2009 - 2013) để trên cơ sở
đó, tìm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và giải pháp về mặt
thực tiễn nhằm góp phần phòng, chống các tội phạm có đồng phạm, bảo
đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là lý do để học viên quyết
định lựa chọn đề tài: "Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự
Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)"
làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu
về đồng phạm đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý
luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn. Đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu được công bố dưới các góc độ và mức độ khác nhau như:
* Dưới góc độ luận án tiễn sĩ, luận văn thạc sĩ luật học, có các công
trình sau: “Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Trần
3
Quang Tiệp, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội năm
2000; “Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam”của tác giả
Nguyễn Thị Liên, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2009 của Khoa Luật
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
những loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Mai
Lan Ngọc, luận văn thạc sỹ luật học năm 2012, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội.
* Dưới góc độ đề tài khoa học, bài viết trên báo, tạp chí, có nhiều
công trình, bài viết như: “Về chế định đồng phạm” của GS.TSKH Lê Văn
Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2 năm 1998; “Trần Quốc Dũng phạm
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Những đề xuất,
kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho
công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự (BLHS)
Việt Nam liên quan đến việc xác định người giúp sức trong đồng phạm,
6
qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các
tội phạm có sự tham gia của người giúp sức hiện nay và sắp tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người giúp sức trong đồng
phạm theo Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Người giúp sức theo quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 và thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm
có liên quan đến người giúp sức trên địa bàn Thành phố
Hà Nội (giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2013).
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 về các vụ án đồng phạm có liên quan đến
người giúp sức.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC
TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm
1.1.1. Khái niệm đồng phạm
Luật hình sự các nước trên thế giới đều có quy định về đồng phạm. Bộ
luật sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979 tại Điều 22 quy định:
Theo Th.S Mai Lan Ngọc thì “thuật ngữ người giúp sức đã sớm
được đề cập và nhắc tới trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta cho đến
trước pháp điển hóa lần thứ nhất BLHS năm 1985 với các tên gọi khác
như: tòng phạm, người giúp sức”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 và khoản 2 Điều
20 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung thì “Người giúp sức là người tạo những
điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”.
1.2.2. Ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò của người giúp sức
trong đồng phạm
Người giúp sức là một trong những loại người đồng phạm vì thế việc
xác định đúng vai trò của người giúp sức trong đồng phạm là cơ sở quan
trọng trong việc định tội danh và trách nhiệm hình sự. Và để hiểu hết dược
vai trò của người giúp sức tác giả hướng tới việc tìm hiểu về đồng phạm
nói chung.
1.2.3. Phân biệt người giúp sức với những đồng phạm khác
Để đưa ra được những tiêu chí phân biệt người giúp sức với những
người đồng phạm khác, trong phần này tác giả trình bày về các loại người
trong đồng phạm:
9
1.2.3.1. Các loại người đồng phạm
Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều
là người đồng phạm. Hành vi của những người đồng phạm khác như:
người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức có sự liên kết thống nhất với
hành vi của người thực hành cả về mặt khách quan, chủ quan và tạo thành
một hoạt động phạm tội chung có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm
tội. Cơ sở để phân biệt người thực hành với người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức là tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm.
* Người giúp sức
định về các loại người đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm.
Trong luật hình sự của CHLB Đức, nhà làm luật không ghi nhận các
định nghĩa pháp lý của các khái niệm đồng phạm, các loại người đồng
phạm và các hình thức đồng phạm, mà chỉ quy định việc trừng phạt về
hình sự hành vi thực hành, xúi giục, giúp sức và phạm tội chưa đạt trong
đồng phạm. Về người thực hành điều 47 quy định: “Nhiều người thực hiện
một hành vi phạm tội, mỗi người trong số họ sẽ bị trừng phạt với vai trò
người thực hành”.
Chương 2
NGƯỜI GIÚP SỨC THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC
VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI GIÚP SỨC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Người giúp sức theo các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999
2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý hình sự
2.1.1.1. Về mặt khách quan của đồng phạm:
Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi phải
có ít nhất hai người trở lên có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện một
tội phạm độc lập.
Nói hai người trở lên là nói về những người có hành vi nguy hiểm
cho xã hội đến một mức độ nhất định nào đó cùng thực hiện một tội phạm.
Theo TSKH.PGS Lê Cảm thì “Phải có sự cùng tham gia của từ hai người
trở lên vào việc thực hiện tội phạm (nói như vậy mới đảm bảo sự chính xác
vì nếu nói là “cùng thực hiện” thì có nghĩa là mới chỉ đề cập tới hành vi
của một loại người đồng phạm – người thực hành mà thôi)”.
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, Hoàng Tiến H phạm tội không tố
giác tội phạm theo Điều 314 Bộ luật Hình sự.
11
CTTP thì đã có đầy đủ cơ sở để có thể buộc người thực hiện hành vi phạm
tội phải chịu TNHS mà không đòi hỏi gì thêm.
12
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về người giúp sức trong
đồng phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.1. Một số đặc điểm về tình hình chính trị - quốc phòng, kinh tế
- xã hội, văn hóa... của địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội có vị trí địa lý nằm ở đồng bằng sông Hồng, phí Bắc tiếp
giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam tiếp giáp với các tỉnh
Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh
và Hưng Yên; phía tây tiếp giáp với tỉnh Phú Thọ. Tháng 8 năm 2008, sau
khi sát nhập Hà Nội có diện tích 3.345,0km2, dân số 6.700.000 người gồm
10 quận, 01 thị xã và 18 huyện ngoại thành.
2.2.2. Tình hình xét xử người giúp sức trong đồng phạm trên địa
bàn thành phố Hà Nội và những tồn tại, hạn chế
Trong phần này, từ nguồn số liệu báo cáo của TAND Thành phố Hà
Nội và các bản án đã giải quyết trong khoảng thời gian từ 2009-Sáu tháng
đầu năm năm 2014, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra 02 bảng kết quả tổng
hợp gồm: Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tổng
kết công tác xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm qua các năm 2009 - 2013;
Một số nhóm tội, loại tội trong số 202 bản án có đồng phạm mà tác giả đã
nghiên cứu trên cơ sở 600 bản án lấy ngẫu nhiên (05 năm) từ năm 2009 2013 TAND Thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Một số nhóm tội, loại tội trong số 202 bản án có đồng phạm
mà tác giả đã nghiên cứu
STT
1
2
3
9 vụ
13 vụ
8 vụ
29 vụ
18 vụ
28 vụ
14 vụ
Nguồn: Tòa án nhân dân Tối cao
13
Kết quả thống kê thực tiễn nêu trên cho phép tác giả rút ra một số
đánh giá như sau:
- Các vụ án có đồng phạm chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng số
các vụ án đã xét xử của Tòa án. Trong đó số vụ án có đồng phạm và những
loại người đồng phạm tham gia thường năm sau cao hơn năm nước.
- Các vụ án xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm tài sản, xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế có đông người tham gia xuất hiện ngày càng nhiều.
- Các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và những vụ án có bị cáo là
người nước ngoài có chiều hướng giảm.
- Quan điểm về việc truy tố, xét xử đối với hành vi phạm tội của từng
loại người đồng phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng còn có sự khác
biệt, bất đồng dẫn đến việc cải sửa, hủy án.
- Một số Tòa án có sự sai lầm trong việc xác định vai trò, sự tham gia
của những loại người đồng phạm trong một vụ án có đồng phạm dẫn đến
việc xác định TNHS của họ chưa thật sự chuẩn xác, hoặc nhầm lẫn trong
việc xác định họ là loại người đồng phạm nào để có thể quyết định một
hình phạt chính xác. Thậm chí, có trường hợp bỏ lọt tội phạm.
- Một số Tòa án chưa thực hiện đúng nguyên tắc cá thể hóa TNHS
niệm định tính đ-ợc dùng làm căn cứ xác định một hành vi là tội phạm
hoặc để xác định mức độ nghiêm trọng thuộc hậu quả của tội phạm, nh-:
phạm tội trong tr-ờng hợp ít nghiêm trọng; hàng phạm pháp có số l-ợng
lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc
biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn... khá phổ
biến trong các điều luật của Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung
năm 2009 nh-: Điều 86. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh
tế, xã hội; Điều 87. Tội phá hoại chính sách đoàn kết; Điều 120. Tội mua
bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam
ng-ời trái pháp luật; Điều 127. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử; Điều 131.
Tội xâm phạm quyền tác giả; Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản; Điều 143. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm h- hỏng tài sản; Điều 151. Tội
ng-ợc đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, ng-ời có
công nuôi d-ỡng mình; Điều 154. Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền
tệ qua biên giới; Điều 155. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán
hàng cấm và các tội xâm phạm môi tr-ờng,
15
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM
3.1. Sự cần thiết, ý nghĩa và cơ sở của việc hoàn thiện các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm
3.1.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm
- Việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của các quy phạm
pháp luật là yêu cầu khách quan.
- Tình hình tội phạm có đồng phạm nói chung và đồng phạm với vai
lẽ Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của Nhà nước, đạo luật gốc đặt ra
những quy định có tính chất nền tảng của chế độ Nhà nước, chế độ xã hội,
tổ chức bộ máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và là cơ
sở pháp lý rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước ta; sự đồng bộ
với các đạo luật khác có liên quan trong hệ thống Pháp luật Việt Nam, đặc
biệt là pháp luật tố tụng hình sự; các lý luận khoa học và sự tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới. Vì thế, các quy
định của pháp luật hình sự hiện hành về những loại người đồng phạm nói
chung, và về người giúp sức nói riêng còn tồn tại những hạn chế cần phải
được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật hình sự.
3.2. Nội dung hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự việt
Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm
3.2.1. Nhận xét chung
Người giúp sức trong đồng phạm theo quy định của Luật hình sự
Việt Nam mặc dù đã được ghi nhận và có những chuyển biến tích cực qua
từng giai đoạn để phù hợp hơn trong việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên
vẫn còn rất nhiều những hạn chế cần được nâng cao:
Thứ nhất, khái niệm pháp lý của người giúp sức vẫn chưa được quy
định cụ thể và chặt chẽ trong BLHS, vẫn còn chung chung và trìu tượng,
chính vì vậy khái niệm người giúp sức cần phải được quy định cụ thể và
đầy đủ hơn, cụ thể là quy định rõ những dấu hiện cơ bản, đặc trưng và điển
hình nhất là phạm trù “tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất” cho việc thực
hiện tội phạm. Việc quy định cụ thể và đầy đủ sẽ là cơ sở đảm bảo cho
việc hướng dẫn, áp dụng pháp luật được chính xác. Để từ đó có những căn
cứ xác định được tính chất mức độ của hành vi, xác định được giai đoạn
thực hiện tội phạm, là cơ sở cho việc định tội danh và TNHS đối với hành
17
sự của họ trong mỗi giai đoạn. Chính vì vậy cần phải sớm được điều chỉnh
để từ đó có căn cứ hướng dẫn và áp dụng pháp luật.
18
Về mặt thực tiễn hiện nay còn có rất nhiều bất cập trong cả việc
hướng dẫn, áp dụng pháp luật, cụ thể như:
- Thực tiễn áp dụng pháp luật của hệ thống Tòa án các cấp cho thấy,
còn có những vướng mắc, cách hiểu khác nhau liên quan đến chế định
đồng phạm, xác định vai trò của từng loại người đồng phạm làm căn cứ để
xác định TNHS và quyết định hình phạt đối với họ. Do đó, phần nào đã
ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án.
- Còn thiếu sự giải thích chính thức, kịp thời của các cơ quan có thẩm
quyền đã phần nào đã ảnh hưởng tới chất lượng giải quyết, xét xử các loại
án của Tòa án các cấp.
- Ngành kiểm sát cũng gặp không ít khó khăn trong việc thực hiện
quyền công tố bởi lẽ những thiếu sót trong việc lập pháp hiện nay.
3.2.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung
Trong phần này tác giả đã tham khảo những kiến giải lập pháp như sau:
- Về khái niệm pháp lý của người giúp sức cần phải quy định cụ thể
và đầy đủ hơn như sau: Người giúp sức là người tạo điều kiện cho việc thực
hiện tội phạm bằng cách cung cấp các thông tin, phương tiện hay công cụ
thực hiện tội phạm, hoặc hứa hẹn trước về việc che giấu tội phạm hay các
dấu vết của tội phạm hoặc những tài sản hay đồ vật do phạm tội mà có,
cũng như hứa hẹn trước về việc mua, bán hoặc tiêu thụ những tài sản hay
đồ vật đó.
Khái niệm pháp lý này đã cụ thể hóa cụm từ “tạo điều kiện cho việc thực
hiện tội phạm” bằng một loạt hành vi của người đồng phạm này như trên.
- Về khái niệm “đồng phạm” quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm
1999, “các nhà làm luật nước ta cần ghi nhận bổ sung cụm từ “do cố ý”.
đồng phạm khác. Những người đồng phạm khác không phải chịu TNHS về
hành vi thái quá của người thực hành
Mô hình lý luận của Điều 53 BLHS năm 1999 như sau:
Điều 53. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án
phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm
tội của từng người đồng phạm.
Người xúi giục và người giúp sức có vị trí tương đương nhau cùng
giữ vai trò phụ. Do đó, người xúi giục và người giúp sức phải chịu TNHS
thấp hơn người thực hành.
Mô hình lý luận về chuẩn bị phạm tội như sau:
Điều 17. Chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc
tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.
20
Chuẩn bị giúp sức thực hiện tội phạm là việc người giúp sức có hành
vi tạo điều kiện cần thiết cho việc giúp sức về tinh thần hoặc vật chất cho
người khác thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng. Hành vi chuẩn bị
giúp sức có thể được biểu hiện ở việc tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm
tội, nghiên cứu cách khắc phục trở ngại, tìm hiểu các điều kiện thực tế để
đưa ra lời khuyên, góp ý, chỉ dẫn đối với người thực hiện tội phạm.
Đối với mô hình lý luận về phạm tội chưa đạt như sau:
Điều 18. Phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện
được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người giúp sức phạm tội chưa đạt là người giúp sức bắt đầu có các
hành vi cung cấp các thông tin, phương tiện hay công cụ thực hiện tội
phạm, hoặc hứa hẹn trước về việc che giấu tội phạm hay các dấu vết của
áp dụng pháp luật.
- Thực tiễn áp dụng pháp luật của hệ thống Tòa án các cấp cho thấy,
còn có những vướng mắc, cách hiểu khác nhau liên quan đến chế định
đồng phạm, xác định vai trò của từng loại người đồng phạm làm căn cứ để
xác định TNHS và quyết định hình phạt đối với họ. Do đó, phần nào đã
ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án.
- Còn thiếu sự giải thích chính thức, kịp thời của các cơ quan có thẩm
quyền đã phần nào đã ảnh hưởng tới chất lượng giải quyết, xét xử các loại
án của Tòa án các cấp.
- Khi áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án hình sự không chỉ áp
dụng hai ngành luật là hình sự và tố tụng hình sự, mà cần có sự bao quát
và áp dụng cả các quy định của những ngành luật khác có liên quan.
- Trong từng vụ án cụ thể cần xác định những hành vi, hậu quả cụ thể
của mỗi tội phạm, mỗi bị cáo của vụ án hình sự để đưa ra giải quyết. Tránh
tình trạng đưa ra quyết định nhầm, giải quyết không hết hoặc giải quyết
vượt quá hành vi, hậu quả phạm tội của mỗi bị cáo.
- Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bên cạnh việc xác định có
hành vi phạm tội hay không, vấn đề trách nhiệm hình sự là trọng tâm, các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần coi trọng cả việc
xác định rõ vai trò, mức hình phạt của bị cáo trong vụ án vụ án hình sự.
- Làm tốt hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn giải quyết các vụ án và
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, kịp thời tháo gỡ những vướng
22
mắc trong việc giải quyết các vụ án có người thực hành trong đồng phạm.
Đặc biệt là đối với ngành Tòa án, việc đúc rúc những vướng mắc, kinh
nghiệm từ công tác xét xử là rất cần thiết.
3.3.3. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức pháp
luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán Tòa án các cấp