NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM - Pdf 19

môc lôc
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
më ®Çu 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH
TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
6
1.1. Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm 6
1.1.1. Khái niệm đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam 6
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm 12
1.1.3. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của đồng phạm 19
1.1.4. Các hình thức đồng phạm 22
1.2. Khái niệm người thực hành trong đồng phạm và ý nghĩa của
việc xác định đúng vai trò của người thực hành trong đồng phạm
26
1.2.1. Quá trình phát triển các quy định về người thực hành trong
đồng phạm và khái niệm người thực hành trong đồng phạm
theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
26
1.2.2. Ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò người thực hành
trong đồng phạm
35
1.3. Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác 35
1.3.1. Các loại người đồng phạm 35
1.3.2. Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác 39
1
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM
1999 VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM

81
3.1.3. Nội dung các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Hình
sự năm 1999 về đồng phạm và người thực hành
87
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp
luật về người thực hành trong công tác xét xử
89
3.2.1. Về lập pháp 89
3.2.2. Về áp dụng pháp luật 91
3.2.3. Về công tác cán bộ 92
KẾT LUẬN 94
2
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 96
Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng Trang
2.1 Tổng hợp số liệu xét xử của ngành Tòa án nhân dân trên
toàn quốc từ năm 2005 đến năm 2010
47
2.2 Tổng hợp kết quả đặc điểm nhân của bị cáo do ngành Tòa án
nhân dân xét xử trên toàn quốc từ năm 2005 đến năm 2010
48
2.3 Tổng hợp kết quả xét xử phúc thẩm vụ án có người thực
hành có kháng cáo, kháng nghị: Lấy ngẫu nhiên 180 bản
án do các cấp ngành Toà án xét xử từ năm 2005 - 2010
(mỗi năm 30 bản án) chủ yếu tại Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội
49
3

Hỡnh s nm 1999 núi riờng và đa ra một số giải pháp về mặt thực tiễn nhằm
góp phần phòng, chống các tội phạm có đồng phạm; bảo đảm an ninh trật tự,
an toàn xã hội, góp phần phục vụ thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nớc có ý nghĩa chính trị - xã hội và lý luận - thực tiễn quan trọng.
Đây là lý do chính để học viên quyết định lựa chọn đề tài: "Ngời thực hành
trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam" làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Dới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về
đồng phạm, ngời thực hành trong đồng phạm đã thu hút đợc sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn. Đến nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu đợc công bố thể hiện ở một số luận văn, luận
án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình đại học nh:
- GS.TSKH o Trớ c ch biờn, Mụ hỡnh lý lun v B lut Hỡnh s
Vit Nam (Phn chung), Nxb Khoa hc xó hi, H Ni, 1993;
- GS.TSKH Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình
sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội, H Ni, 2005;
- ThS.Trnh Quc Ton, "ng phm", Trong sỏch: Giỏo trỡnh lut
hỡnh s Vit Nam (Phn chung), Tp th tác gi do GS.TSKH Lờ Cm ch
biờn, Nxb i hc quc gia H N i, H Ni, 2001 (tái bn nm 2003 v 2007).
- Trần Quang Tiệp, Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Trờng Đại học Luật Hà Nội, 2000;
- Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 (Phần
chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004;
5
- Nguyễn Thị Trang Liên. Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;
Bờn cnh ú vn ny cng c cp nhiu cụng trỡnh nghiờn
cu, bi vit ca nhiu tỏc gi nh:
- Nguyễn Ngọc Hòa, Trần Quốc Dũng phạm tội gì? Bàn về các giai

tồn tại trong xác định vai trò, trách nhiệm hình sự của ngời thực hành trong vụ
án có đồng phạm. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của Bộ luật Hình sự Việt Nam về xử lý đối tợng này.
3.2. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn đúng với tên gọi của đề tài là "Ngời
thực hành trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam".
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
4.1 C s lý lun
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những chủ trơng, đờng lối của Đảng, Nhà
nớc ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.2 Phng phỏp nghiờn cu
Quá trình nghiên cứu trong đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu
cụ thể nh: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phơng pháp so sánh, đối
chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật; nghiên cứu, điều tra án điển
hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong
luận văn này. Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên đã tiếp thu có
chọn lọc kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các
cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các
vấn đề nghiên cứu trong luận văn.
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7
ở bình diện lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn đa ra một số
luận cứ góp phần hoàn thiện lý luận về chế định đồng phạm, ngời thực hành
trong đồng phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Cụ thể, làm rõ các
vấn đề chung về ngời thực hành trong vụ án có đồng phạm theo quy định của
luật hình sự Việt Nam; phân tích khái quát sự hình thành và phát triển của các
quy định pháp luật hình sự nớc ta về ngời thực hành trong đồng phạm từ năm
1945 đến nay; phân biệt hình thức đồng phạm này với một số hình thức đồng

Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, kháí niệm đồng phạm đã
hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ. Trong thời kỳ phong kiến, cũng đã
có các quy định sơ khai về đồng phạm. Luật hình sự phong kiến được hình
thành và phát triển trên cơ sở của nhiều chế định khác nhau, vấn đề đồng
phạm đã bước đầu được đề cập tới trong "Quốc triều hình luật" (Bộ luật Hồng
Đức) năm 1483 - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại Nhà
Lê. Mặc dù chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm nhưng
Bộ luật đã có những quy định về trách nhiệm hình sự cho những người tham
gia phạm tội là:
Những kẻ đồng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì
lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu
ở nhà cũng lấy phần, thì xử tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng
vậy) nếu không lấy được phần chia thì xử lưu đi châu gần. Trước
kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy phần
cũng xử tội như đi ăn cướp [29].
Việc ghi nhận trách nhiệm hình sự đối với "kẻ đồng mưu" hay "người
xúi giục người khác phạm pháp" trong hai Điều luật trên cho thấy chế định
đồng phạm đã được đề cập đến trong luật hình sự phong kiến Việt Nam.
Phạm vi đồng phạm không những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ
mưu, người a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn
bao gồm cả những người thuộc phạm trù liên quan đến tội phạm: "Những kẻ
10
mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêu đầu,
kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội" [29].
Bộ "Quốc triều hình luật" cũng thể hiện đường lối xử lý, nguyên tắc
trừng trị tội phạm của Nhà nước phong kiến dưới triều Lê, Điều 35 quy định:
"Nhiều người cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a
tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả những người trong nhà cùng phạm một
tội, chỉ bắt người tôn trưởng" [29].
Như vậy, Bộ Quốc triều Hình luật đã có những quy định cơ bản về

người trong đó bao gồm bọn chủ mưu, bọn cầm đầu và bọn tham gia tổ chức
phản cách mạng.
Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng
phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý.
Thời kỳ này, các học giả tư sản (trường phái xã hội học chuyên phục
vụ cho sự thống trị của giai cấp tư sản) khi nêu vấn đề đồng phạm đã đưa ra
quan điểm: Chỉ cần có hai người trở lên cùng phạm tội thì gọi là đồng phạm.
Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phiến diện và không khoa học, không thể
hiện sự bao quát chính xác về mặt khách quan cũng như mặt chủ quan của
tội phạm.
Khi đó, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về đồng
phạm. Thành tựu lập pháp chỉ mới dừng lại ở quy định các trường hợp phạm
tội có đồng phạm như "phạm tội có tổ chức", "phạm tội có móc ngoặc" hay
quy định những loại người cụ thể trong vụ phạm tội có nhiều người cùng liên
kết thực hiện như bọn chủ mưu, bọn cầm đầu hay người xúi giục. Trong thực
tế, có nhiều thời kỳ việc nhiều người cố ý cùng phạm một tội được coi là
"cộng phạm".
Đến năm 1963, khái niệm này đã được khẳng định trong báo cáo tổng
kết ngành Toà án: "Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý
12
chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức hoặc xúi giục hoặc giúp sức hoặc
tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội" [38].
Pháp luật của một số nước trên thế giới, trong đó có Bộ luật Hình sự
của Liên bang Nga năm 1978 cũng có khái niệm tượng tự như vậy.
Hoặc giáo trình hình luật của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã
nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: "Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia
thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm" [45].
Các khái niệm này chưa đưa ra sự phân hoá trách nhiệm hình sự đối
với những kẻ cùng thực hiện tội phạm nhưng là những tư duy làm tiền đề cho
việc phân biệt giữa trường hợp phạm tội riêng lẻ và trường hợp phạm tội có

các nước trên thế giới. Tuy nhiên chỉ có một số nước đưa ra khái niệm cụ thể
về các loại người trong đồng phạm. Trong nhiều trường hợp pháp luật các
nước đưa ra các khái niệm có liên quan làm căn cứ xác định người thực hành
hoặc phân biệt các loại người đồng phạm khác với người thực hành như Bộ
luật Hình sự của Bỉ có khái niệm người tòng phạm:
Sẽ bị trừng phạt với vải trò người tòng phạm một trọng tội
hoặc khinh tội:
- Những người chỉ dẫn việc thực hiện trọng tội hoặc khinh tội.
- Những người cung cấp vũ khí, phương tiện hoặc các loại
thiết bị khác sử dụng phạm trọng tội hoặc khinh tội [18].
Hoặc Bộ luật Hình sự của Nhật Bản dành cả chương XI quy định về
đồng phạm nhưng cũng không có quy phạm định nghĩa về đồng phạm mà chỉ
có khái niệm về đồng chính phạm, người xúi giục, người giúp sức.
Như vậy tìm hiểu, nghiên cứu quá trình lập pháp đã cho chúng ta khái
niệm đầy đủ và thống nhất về số lượng người trong đồng phạm là hai người
trở lên, cùng cố ý thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội phạm
14
được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và thoả mãn dấu hiệu "cùng cố ý" khi
tham gia thực hiện tội phạm thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng
phạm. Từ đó, có thể đi đến khái niệm chung nhất về đồng phạm như sau:
Đồng phạm là sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện
tội phạm do cố ý.
Khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát để từ
đó xác định các quy phạm khác của chế định đồng phạm về những loại người
đồng phạm; các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm; tự ý nửa
chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm; các hình thức đồng phạm và
trách nhiệm hình sự trong đồng phạm.
Khái niệm đồng phạm còn là cơ sở pháp lý để phân biệt hành vi đồng
phạm và những hành vi liên quan đến tội phạm đảm bảo thực hiện nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự nhằm xử lý đúng người,

vẫn được đặt ra mặc dù họ không phải là người đồng phạm.
Để hiểu rõ hơn, đầy đủ hơn về đồng phạm, ta cần đi sâu nghiên cứu
những dấu hiệu pháp lý của đồng phạm.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm
a) Dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm
Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi phải
có ít nhất hai người trở lên có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện một tội
phạm độc lập.
Nói hai người trở lên là nói về những người có hành vi nguy hiểm cho
xã hội đến một mức độ nhất định nào đó cùng thực hiện một tội phạm. Theo
TSKH.PGS Lê Cảm thì "Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên
vào việc thực hiện tội phạm (nói như vậy mới đảm bảo sự chính xác vì nếu
16
nói là "cùng thực hiện" thì có nghĩa là mới chỉ đề cập tới hành vi của một loại
người đồng phạm - người thực hành mà thôi)" [4, tr. 457].
Khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Những hành vi
tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác" [25].
Trong thực tiễn, nguyên tắc này được áp dụng khi xử lý đối với tất cả các tội
phạm kể cả những tội phạm có đồng phạm. Chúng ta thường thấy trong
những vụ âm mưu lật đổ chính quyền, bạo loạn, hoạt động phỉ… có đông
người tham gia, không phải tất cả những người tham gia đều bị đưa ra truy tố
xét xử mà chỉ những người có mức độ tham gia đáng kể mới bị truy tố xét xử,
còn những người tham gia với mức độ nhỏ nhặt không đáng kể thường được
xử lý bằng các biện pháp khác không phải biện pháp hình sự. Tội phạm có hai
người trở lên cùng thực hiện nhưng chỉ có một người thỏa mãn dấu hiệu chủ
thể thì vụ án đó không có đồng phạm. Nếu vụ án có rất nhiều người tham gia
thực hiện nhưng chỉ có hai người thỏa mãn dấu hiệu chủ thể thì vụ án vẫn
được xác định là có đồng phạm.
Hiện nay luật hình sự Việt Nam không có điều luật nào quy định trực

Dấu hiệu thứ hai thuộc về mặt khách quan của đồng phạm: Những
người đồng phạm đều có chung hành động và hướng tới một kết quả chung:
Để đánh giá chính xác vụ án có đồng phạm không thì cần xem xét
những người tham gia đó có cùng thực hiện một tội phạm hay không?
Dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm có nghĩa là trong đồng phạm
mỗi người (có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm) phải có hành vi tham gia
vào việc thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Họ có thể
tham gia vào tội phạm với một hoặc một số hành vi sau: Hành vi thực hiện tội
phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội
18
phạm, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm. Tương ứng với bốn loại hành vi
này là bốn loại người đồng phạm, bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức và người thực hành.
Thực tế cho thấy trong một vụ án đồng phạm có thể có đủ bốn loại
hành vi nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn hành vi đó. Những người
đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi hoặc với nhiều loại hành vi
khác nhau. Họ có thể tham gia từ đầu hay khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa
kết thúc.
Bằng những hành vi cụ thể, những người tham gia vào vụ án đồng
phạm đều gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi đó được thực
hiện trong mối liên kết thống nhất với nhau. Hành vi của mỗi người là điều
kiện cần thiết cho hoạt động phạm tội chung. Hành vi của người này hỗ trợ,
bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại. hành vi của mỗi người là bộ
phận, một khâu của hành vi phạm tội chung nhằm thực hiện một tội phạm
nhất định để gây ra hậu quả phạm tội chung thống nhất. Hoạt động của mỗi
người đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chung hoặc với việc thực
hiện hành vi phạm tội chung. Như vậy, người đồng phạm có thể tham gia từ
giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hoặc cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra
và chưa kết thúc trên thực tế, nhưng không thể có việc tham gia sau khi tội
phạm đã kết thúc.

của tội phạm. Mức độ tham gia của người đồng phạm đối với hoạt động phạm
tội chung.
Bên cạnh những dấu hiệu thuộc mặt khách quan thì những dấu hiệu
thuộc mặt chủ quan của đồng phạm cũng hết sức quan trọng.
b) Những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm
Mặt chủ quan của tội phạm nói chung, đồng phạm nói riêng bao gồm
các dấu hiệu đặc trưng và cơ bản sau: Lỗi, động cơ và mục đích.
20
Dấu hiệu lỗi: Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu
hiện dưới hình thức là cố ý hoặc vô ý.
Trong đồng phạm ngay từ khái niệm được quy định tại Điều 20 Bộ
luật Hình sự năm 1999 đã quy định, đồng phạm chỉ được thực hiện với lỗi
cố ý, mỗi người đồng phạm khi thực hiện hành vi phạm tội đều cố ý với
hành vi của mình và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng
phạm khác. Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai mặt lí trí và ý
chí như sau:
• Về lí trí:
Trong nhận thức của những người đồng phạm đều phải biết hành vi
của mình là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời họ cũng phải biết rằng người
khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội như mình. Trong trường hợp vụ
đồng phạm có nhiều người tham gia, bản thân mỗi chủ thể khi thực hiện hành
vi không thể biết được hành vi cụ thể của những người tham gia phạm tội
cùng với mình. Nhưng có một điều mà những người phạm tội luôn tin tưởng
là bên cạnh chúng còn có những người khác cùng phạm tội. Trong vụ án đồng
phạm phức tạp, mỗi người đồng phạm khác đều biết hành vi của mình có tác
động, hỗ trợ hành vi của người thực hành để cùng đạt đến mục đích của hành
vi phạm tội chung. Người thực hành cũng biết sự tá động hỗ trợ của người
đồng phạm khác đối với mình. Dù ít hay nhiều bọn chúng đều có sự liên kết
cùng hành động, điều này tạo nên tính nguy hiểm cao của đồng phạm so với

Ngoài dấu hiệu lỗi là cùng thực hiện và cùng cố ý, trong một số
trường hợp đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích, khi đó mục đích
là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
Ví dụ: Trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Mục đích
chống chính quyền nhân dân hoặc làm suy yếu chính quyền là dấu hiệu bắt
22
buộc trong mặt chủ quan của tất cả các tội phạm. Khi thực hiện hành vi phạm
tội, người phạm tội có mục đích chống lại hoặc làm suy yếu chính quyền nhân
dân. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt tội xâm phạm an ninh quốc gia với
những tội khác có dấu hiệu của mặt khách quan tương tự.
Nếu không thoả mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm,
trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu trách nhiệm hình sự độc
lập với nhau.
Dấu hiệu này sẽ được phân tích rõ hơn khi đi vào tìm hiểu những vấn
đề liên quan đến trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm ở phần sau.
1.1.3. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của đồng phạm
Theo quy định hiện nay, trách nhiệm hình sự của đồng phạm được xác
định dựa trên những nguyên tác cơ bản sau:
a) Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm
Tội phạm luôn là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ
quan không thể tách rời. Khi được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, tội
phạm được thực hiện là do sự nỗ lực, hợp tác chung của tất cả những người
cùng tham gia. Hành vi của mỗi người là bộ phận cần thiết trong hoạt động
chung đó. Hậu quả của tội phạm là kết quả hoạt động chung của tất cả những
người đồng phạm. Hơn nữa bản thân tội phạm là thể thống nhất, không thể
chia cắt tội phạm để buộc mỗi người phải chịu trách nhiệm về một phần của
tội phạm. Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam đã xác định: Tất cả
những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, bị truy tố, xét xử về
cùng một tội danh, theo cùng một điều luật, trong phạm vi những chế tài điều
luật ấy quy định. Tất cả họ đều phải chịu trách nhiệm về tình tiết tăng nặng

Mặt khác, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân nên việc xác
định trách nhiệm hình sự cho từng người đồng phạm, thực hành là cần thiết.
24
Do vậy, luật hình sự Việt Nam đã xác định nguyên tắc thứ hai trong việc xác
định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm là: Mỗi người đồng
phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm.
Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Những người đồng phạm không phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người đồng phạm, người thực
hành khác. Hành vi vượt quá của đồng phạm là hành vi vượt ra ngoài ý định
chung của những người đồng phạm khác và hành vi đó có thể đã cấu thành tội
khác hoặc cấu thành tình tiết tăng nặng định khung. Hành vi vượt quá thông
thường là hành vi vượt quá của người thực hành.
c) Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của những người thực
hành trong đồng phạm
Trong một vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng một
tội nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau. Cho nên,
khi xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm cũng như
người thực hành trong đồng phạm phải xem xét mức độ và tính chất tham gia
của mỗi người. Tính chất tham gia của những người đồng phạm thể hiện vai
trò của họ trong đồng phạm. Mức độ thể hiện sự đóng góp thực tế cụ thể của
người thực hành trong đồng phạm và việc thực hiện tội phạm. Mức độ tham
gia càng lớn thì hậu quả nguy hại cho xã hội càng cao. Do đó trách nhiệm
hình sự phải tương xứng với mức độ tham gia của mỗi người thực hành trong
đồng phạm. Pháp luật hình sự nước ta đã quy định: "Nghiêm trị kẻ chủ mưu,
cầm đầu, chỉ huy " [25, Điều 2], "khoan hồng với người thật thà khai báo, tố
giác đồng bọn " [25, Điều 3].Tất cả những người đồng phạm nếu đủ dấu
hiệu chủ thể đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này không có nghĩa mức
án áp dụng đối với họ phải như nhau. Khi giải quyết trách nhiệm hình sự của
những người đồng phạm, Tòa án phải tuân theo các quy định chung về căn cứ
quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status