Hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NGỌC LINH HÀNH VI NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI
VỚI TƯ CÁCH LÀ DẤU HIỆU BẮT BUỘC
THUỘC MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. Lê Văn Cảm

14
1.3
Hành vi nguy hiểm cho xã hội trong hệ thống các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

28
1.3.1.
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có liên quan đến hành vi nguy
hiểm cho xã hội
29
1.3.2.
Các tình tiết tăng nặng TNHS có liên quan đến hành vi
nguy hiểm cho xã hội

38

Chương 2: VAI TRÒ CỦA HÀNH VI NGUY HIỂM CHO XÃ
HỘI TRONG THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TỘI PHẠM, ĐỊNH TỘI
DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

47
2.1.
Vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn
xác định tội phạm

47
2.1.1.
Trường hợp thứ nhất: truy tố, xét xử hành vi không nguy
hiểm cho xã hội (xử oan người vô tội)


88
3.1.
Hoàn thiện ranh giới tội phạm với vi phạm
88
3.1.1.
Hoàn thiện khái niệm tội phạm và khái niệm cơ sở TNHS
trong luật hình sự Việt Nam

88
3.1.2.
Hoàn thiện quy định của BLHS về các trường hợp loại trừ
tính chất tội phạm của hành vi

91
3.2.
Hoàn thiện ranh giới giữa tội phạm này với tội phạm khác
95
3.3.
Hoàn thiện một số quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ TNHS liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội

102 KẾT LUẬN
106 TÀI LIỆU THAM KHẢO
108

bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, chống mọi hành vi phạm tội; đồng
thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm. Để luật hình sự ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình,
việc hoàn thiện BLHS là một đòi hỏi tất yếu khách quan.
BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành tuy đã có những bước phát triển
vượt bậc so với văn bản PLHS trước nó, nhưng do sự thay đổi nhanh chóng
của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gao của cải
cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền nên không tránh khỏi
những bất cập, hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện. Một trong những
bất cập, hạn chế, thiếu sót đó chính là các quy định về hành vi nguy hiểm
cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội
phạm, mà cụ thể là còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về: khái niệm
hành vi nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS có
liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội của BLHS Điều này khiến
thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt còn chưa
thống nhất và có nhiều điểm bất cập dẫn đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm hoặc
xử oan người vô tội 2
Xuất phát từ những lý do như đã nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Hành
vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách
quan của tội phạm” với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của
BLHS Việt Nam, nhằm đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý Việt Nam đã có một số xuất bản phẩm về luật
hình sự mà trong đó ở các mức độ khác nhau có một số công trình đề cập, liên
quan đến dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc mặt khách quan của
tội phạm. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu, chuyên sâu về dấu

hiểm cho xã hội
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài này là các thành tựu của các chuyên ngành
khoa học pháp lý như: luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự trong
các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên tạp chí của
các nhà khoa học - luật gia Việt Nam.
Ngoài ra để góp phần phân tích khoa học nhằm làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định
tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt nêu trên tác giả đã nghiên cứu
nhiều văn bản pháp luật, cũng như những giải thích thống nhất có tính chất chỉ
đạo thực tiễn xét xử trong các văn bản thuộc lĩnh vực PLHS do TANDTC và
các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương ban hành mà ở các mức độ khác
nhau các văn bản này đều có liên quan đến đề tài cần nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện
chứng, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu sâu 4
về những vấn đề tương ứng dưới các luận điểm tư tưởng về xây dựng nhà
nước pháp quyền, cải cách tư pháp, củng cố pháp chế, tính tối thượng của
pháp luật và bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền tự do của công dân bằng hệ
thống tư pháp hình sự ở Việt Nam với tính chất là các giá trị xã hội cao quý
nhất của loài người và của nền văn minh nhân loại đã được thừa nhận chung .
Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng đồng bộ
các phương pháp khoa học như: Phương pháp phân tích, phương pháp logic,
phương pháp thống kê hình sự, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối
chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh v…v Trong đó đặc
biệt coi trọng các phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh,

vô tội”.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục và 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi nguy hiểm cho xã hội với
tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm.
Chương 2: Vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn
xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt.
Chương 3: Hoàn thiện một số quy định của BLHS có liên quan đến
dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGUY HIỂM CHO
XÃ HỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ DẤU HIỆU BẮT BUỘC THUỘC
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi vi phạm pháp luật
Trong bất kỳ xã hội nào có giai cấp đều xảy ra những mâu thuẫn xã hội
sâu sắc, do bất cập giữa nhu cầu của cá nhân trước thực tế khách quan, nên
không thể không dẫn đến những hiện tượng xã hội tiêu cực làm phát sinh ra
những hành vi vi phạm pháp luật. Thực tế cho thấy có không ít các công trình
nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa cơ cấu thực trạng và diễn biến của vi
phạm pháp luật với điều kiện kinh tế - xã hội của cuộc sống. E.Shur, nhà tội
phạm học nổi tiếng người Mỹ đã lưu ý rằng trong xã hội của chúng ta (xã hội

đánh giá tình huống  ra quyết định  xử sự.
Đồng thời các công trình nghiên cứu cũng đã chứng minh được rằng cơ
chế của hành vi bất hợp pháp khác với hành vi hợp pháp ở chỗ trong một hoặc
vài công đoạn của chuỗi nhân quả trên đã có sự biến dạng. Có bốn trường hợp
tiêu biểu của sự biến dạng này, có liên hệ với cá nhân người vi phạm pháp
luật và với đặc điểm của môi trường xã hội xung quanh, đó là: Trường hợp
thứ nhất: Nhu cầu và lợi ích của chủ thể bị méo mó là động cơ chủ yếu thúc
đẩy việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xâm phạm tài
sản và xâm hại về nhân thân. Trường hợp thứ hai: Nhu cầu và lợi ích bình
thường diễn ra trong sự xung đột với khả năng của chủ thể đối với sự đáp ứng
hợp pháp những nhu cầu và lợi ích ấy. Sự mâu thuẫn này trở thành nguyên cớ
cho những hành vi thù địch, trong số đó thường gặp là những hành vi côn đồ,
gây rối trật tự công cộng và phát sinh ra hàng loạt những hành vi vi phạm
pháp luật về tài sản. Trong những trường hợp này, yếu tố lỗi của người bị hại 8
cũng tham gia quá trình hình thành hành động sai trái của người phạm pháp.
Trường hợp thứ ba: Sự thoái hóa, biến dạng những định hướng giá trị của chủ
thể, tức là việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể có thể thực hiện được
bằng con đường hợp pháp, nhưng chủ thể vẫn chọn con đường chống đối
pháp luật để đạt được mục đích ấy. Cơ chế này là đặc tính cố hữu của hành vi
của những người phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm. Trường hợp thứ tư: Sự
thoái hóa, biến dạng trong giai đoạn ra quyết định. Nguyên nhân ở đây rất
khác nhau: hoặc là tình thế căng thẳng, hoặc sai lầm trong việc đánh giá hoàn
cảnh, hoặc không tự kiềm chế được mình. Cơ chế này thường là đặc tính của
những hành vi vi phạm - xử sự quá mức pháp luật cho phép hoặc những hành
vi vi phạm do cố ý.
Như vậy, bản chất xã hội và cơ chế khác nhau của hành vi chống đối
pháp luật đã nói lên rằng không phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào cũng là

thống và tính ổn định tương đối. 3) Nguyên nhân của các hành vi vi phạm
pháp luật nằm bên trong các quan hệ xã hội, nhưng lại phủ nhận mặt trái của
những mâu thuẫn xã hội. Do vậy, khi xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp
luật cần đặt chúng trong các mối liên hệ như: sự liên hệ giữa các hành vi vi
phạm pháp luật với các hành vi nguy hiểm cho xã hội; sự liên hệ giữa các loại
vi phạm pháp luật với nhau; sự liên hệ giữa các hành vi vi phạm pháp luật với
các vi phạm những quy tắc xã hội khác như: đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ
Những điều trình bày trên có thể cho phép đi đến kết luận rằng: Hành
vi vi phạm pháp luật là hành vi lệch chuẩn xã hội được thể hiện dưới dạng
hành động hoặc không hành động do người có năng lực trách nhiệm pháp lý
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý trái với các yêu cầu của qui phạm pháp
luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
Trên cơ sở khái niệm nêu trên, có thể rút ra những dấu hiệu cơ bản sau
đây của hành vi vi phạm pháp luật: 10
Dấu hiệu thứ nhất, vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi
Vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi (hành động hoặc không hành
động) được xác định của con người. Bởi vì chỉ có thông qua hành vi của con
người mới có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho xã hội. Những
gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa
thể tác động tới xã hội và để xác định được ý nghĩ hoặc tư tưởng của con
người thì cũng phải thông qua cách xử sự bên ngoài, đó chính là hành vi của
họ. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều biểu hiện bằng hành vi cụ thể và cơ sở
để quy kết trách nhiệm pháp lý đối với một con người cũng chính là hành vi.
Ngay từ thế kỷ XVIII khi luận chứng cho việc chống lại sự truy tố hình sự đối
với ý nghĩ, tư tưởng và quan điểm của con người, Môngtexkiơ - Luật gia nổi
tiếng người Pháp, một trong những nhà lý luận lớn nhất về Nhà nước pháp
quyền giai đoạn đó đã viết: "Các đạo luật nhất thiết chỉ trừng phạt những hành

pháp luật là hành vi đã cho phép truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với mỗi
hành vi cụ thể, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan bảo
vệ pháp luật nói riêng thực hiện các nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm pháp
lý, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc pháp chế trong
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật.
Dấu hiệu thứ hai là tính trái pháp luật của hành vi
Vi phạm pháp luật luôn luôn được xác định là hành vi trái pháp luật,
xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Hành vi
trái pháp luật là cách xử sự không phù hợp với những quy định của pháp luật,
tức là không thực hiện những gì mà pháp luật yêu cầu hoặc đã sử dụng quyền
hạn vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật. Những gì mà pháp luật không
cấm, không bảo vệ thì dù có làm trái, ví dụ: trái với các quy định của tổ chức
xã hội, trái với các quy phạm của đạo đức cũng không coi là trái pháp luật,
không phải là vi phạm pháp luật. Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện sự 12
chống đối những quy định chung của pháp luật, tức là khi pháp luật quy định
như thế này, con người lại hành động ngược lại và trong trường hợp khác,
pháp luật buộc con người phải hành động nhưng người đó lại không tuân
theo. Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật là hành vi vi phạm những điều quy
định trong pháp luật. Còn những hành vi dù có gây những điều phiền toái,
không đẹp mắt, thiếu lịch sự, nhưng không qui định trong pháp luật thì không
phải là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp vi
phạm đạo đức cũng đồng thời là vi phạm pháp luật. Khi bản thân pháp luật là
một giá trị xã hội tiến bộ, thì nó đã hàm chứa yếu tố đạo đức, yếu tố nhân văn
sâu sắc như pháp luật của nước ta hiện nay.
Dấu hiệu thứ ba là tính có lỗi của hành vi
Thực tế cho thấy, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái
pháp luật, nhưng không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi

thực hiện hành vi trái pháp luật thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội là tất
yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra để đạt được mục đích của
mình; còn ở trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi trái pháp
luật tuy thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng không mong muốn mà chỉ có
ý thức xảy ra cũng được, không xảy ra cũng được, tức là để mặc cho hậu quả
đó xảy ra. Lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả. Trong tất
cả các trường hợp vi phạm pháp luật thì việc xác định hình thức lỗi có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc lựa chọn và áp dụng các biện pháp trách nhiệm
pháp lý được chính xác và công minh. So sánh hai trường hợp lỗi vô ý thấy
rằng, lỗi vô ý quá tự tin phản ánh thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi
trái pháp luật rõ ràng hơn, thể hiện sự cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả, còn
lỗi vô ý vì cẩu thả là do không thận trọng trong cách lựa chọn phương án hành
vi nên đã gây ra hậu quả. Do đó, hành vi trái pháp luật do lỗi vô ý vì quá tự
tin thường nguy hiểm hơn hành vi trái pháp luật do lỗi vô ý vì cẩu thả. 14
Dấu hiệu thứ tư là hành vi vi phạm pháp luật phải do người có năng
lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm thì: Người có năng lực
trách nhiệm pháp lý là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật ở trong trạng thái bình thường và hoàn toàn có khả năng nhận thức được
đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện
cũng như khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó [67, tr.541]. Điều đó
có nghĩa là người có có năng lực trách nhiệm pháp lý là người mà tại thời
điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có đầy đủ hai tiêu chí: Tiêu chí thứ
nhất là tiêu chí y học: trạng thái bình thường tức là không bị mắc bệnh tâm
thần hoặc bệnh lý khác làm mất hoàn toàn khả năng nhận thức được và khả
năng điều khiển được hành vi của mình. Tiêu chí thứ hai là tiêu chí tâm lý
(pháp lý): có khả năng nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội và

Trong cuốn Tâm lí học của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm
1974, hoạt động ý chí được định nghĩa là: "Những hành động đã được suy
nghĩ, cân nhắc nhằm những mục đích nhất định và có kế hoạch, biện pháp để
thực hiện cho được những mục đích đó" (tr.395). Từ định nghĩa hành vi trên,
nhận thấy: 1) Hành vi là những "biểu hiện" của con người ra bên ngoài thế
giới khách quan. Cho nên, những gì trong tư tưởng, trong suy nghĩ của con
người thì không phải là hành vi. 2) Hành vi là những "biểu hiện" có ý thức và
có ý chí. Những biểu hiện không có ý thức hoặc tuy có ý thức nhưng không
có ý chí thì không phải là hành vi. Ví dụ: biểu hiện gây thiệt hại trong tình
trạng không có năng lực TNHS.
Như vậy, hành vi chỉ bao gồm những “biểu hiện” của con người ra thế
giới khách quan mà mặt thực tế của nó được ý thức kiểm soát và ý chí điều
khiển. Sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí ở đây chỉ giới hạn
đối với mặt thực tế của “biểu hiện”, vì khả năng nhận thức mặt ý nghĩa xã hội 16
cũng như khả năng điều khiển “biểu hiện” phù hợp với những đòi hỏi của xã
hội thuộc vấn đề khác - vấn đề tự do ý chí, vấn đề lỗi. Nếu coi hành vi phạm
tội là hành vi có lỗi, là thể thống nhất giữa mặt khách quan (hành vi gây thiệt
hại) và mặt chủ quan (có lỗi) thì bản thân hành vi khách quan cũng là thể
thống nhất giữa “biểu hiện” ra thế giới bên ngoài và quan hệ chủ quan bên
trong của chủ thể với những “biểu hiện” đó. Biểu hiện của con người ra bên
ngoài thế giới quan chỉ được coi là hành vi khi có mặt bên trong là sự kiểm
soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí. Chỉ khi có hành vi thì lúc đó vấn
đề lỗi (mặt chủ quan của tội phạm) mới được đặt ra. Hành vi đó có thể có lỗi
và có thể không có lỗi. Trái lại, “biểu hiện” của con người ra bên ngoài thế
giới khách quan sẽ không được coi là hành vi, nếu “biểu hiện” đó không được
ý thức kiểm soát hoặc tuy được ý thức kiểm soát nhưng không phải là kết quả
hoạt động của ý chí. Những “biểu hiện” loại này có thể là những “biểu hiện”

Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội hay
còn gọi là hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất. Những biểu hiện khác
của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Không thể nói đến hậu quả của tội phạm cũng như những biểu hiện khách
quan khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian khi không có hành
vi nguy hiểm cho xã hội.
Những biểu hiện của mặt chủ quan là lỗi, mục đích, động cơ cũng luôn
luôn gắn liền với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể. Hành vi nguy hiểm
cho xã hội là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của những đối tượng
tác động của tội phạm và do vậy là nguyên nhân của sự gây thiệt hại cho các
quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là
cầu nối giữa khách thể và chủ thể. Không thể có chủ thể của tội phạm khi
không có hành vi hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trên quan điểm như vậy
GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà đã kết luận: “Tất cả các tội phạm cụ thể đều là 18
hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể (khác nhau) thực hiện với loại và
hình thức lỗi (khác nhau) trong hoàn cảnh không gian và thời gian (khác
nhau), bằng phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện (khác nhau), do
động cơ (khác nhau) thúc đẩy, làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động
(khác nhau) ở mức độ và hình thức (khác nhau) và qua đó gây ra hậu quả
(khác nhau) cho quan hệ xã hội có tính chất và mức độ quan trọng (khác
nhau)” [37, tr.63].
Với đặc điểm như vậy, hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu
hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm được phản ánh trong tất cả
các cấu thành tội phạm. Không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có
tội phạm. Chính vì những lý do trên mà hành vi nguy hiểm cho xã hội được
coi là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan tội phạm. Trên cơ sở những
phân tích và nhận định trên, chúng tôi đưa ra khái niệm: Hành vi nguy hiểm

Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là dấu hiệu cơ bản nói lên bản
chất chính trị, xã hội của tội phạm, dấu hiệu này được coi là dấu hiệu nội
dung quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy
định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy
hiểm cho xã hội. Đây là điểm khác căn bản với quan niệm về tội phạm về
hình thức (tính trái pháp luật). Nguy hiểm cho xã hội, về mặt khách quan có
nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ. Nếu không xâm phạm vào các quan hệ xã hội được
luật hình bảo vệ thì mặc dù hành vi đó có nguy hiểm cho xã hội, nhưng cũng
không bị coi là tội phạm. Điều này cho thấy chính tầm quan trọng của các
quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ đóng vai trò quyết định để đánh giá một
hành vi nào đó là tội phạm.
Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội phụ thuộc vào ý nghĩa của nó
đối với giai cấp thống trị xã hội, thay đổi khi ý nghĩa này thay đổi. Một quan 20
hệ xã hội có thể có tính chất rất quan trọng ở giai đoạn này nhưng ở giai đoạn
khác sẽ không còn quan trọng như vậy nữa hoặc ngược lại. Điều đó đòi hỏi
nhà làm luật khi xem xét tính chất quan trọng của quan hệ xã hội để đánh giá
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phải dựa trên hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
xuất phát từ lợi ích giai cấp, trên lập trường giai cấp. Tuy nhiên, tính chất
quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại không thể là yếu tố duy nhất phản
ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà chỉ khi được kết
hợp với những yếu tố khác nó mới phản ánh hành vi là nguy hiểm "đáng kể"
hay "không đáng kể" cho xã hội. Một hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi
mà về mặt chủ quan người thực hiện phải có lỗi và về mặt khách quan phải
gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ. Pháp luật không chỉ coi một hành vi về mặt khách quan là nguy hiểm cho
xã hội khi gây ra thiệt hại mà ngay cả khi tuy chưa gây ra nhưng đe dọa sẽ

chất đặc biệt quan trọng như các hành vi xâm hại đến an ninh quốc gia, hành
vi cướp, hiếp dâm Trong trường hợp này thiệt hại không có ý nghĩa để phân
biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Ngược lại, có trường hợp riêng
tính chất của hành vi khách quan chưa thể hiện được tính nguy hiểm cho xã
hội là "đáng kể" nên chỉ bị coi là tội phạm khi đã gây thiệt hại cho các quan
hệ xã hội, thậm chí nhiều trường hợp đòi hỏi thiệt hại gây ra phải ở mức độ
nhất định nào đó. Thí dụ các tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý. Vì vậy có
thể nói dấu hiệu cơ bản đầu tiên của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. PLHS nước ta luôn
luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan
trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không. Đây là đặc
điểm cơ bản để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi khác. Tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi thể hiện ở chỗ, hành vi đó gây ra hoặc đe
dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Sẽ

Trích đoạn Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hộ Các tình tiết tăng nặng TNHS có liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hộ Vai trò của hành vi nguy hiểm cho xã hội trong thực tiễn xác định tội phạm Trường hợp thứ nhất: truy tố, xét xử hành vi không nguy hiểm cho xã hội (xử oan người vô tội) Hoàn thiện một số quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status