Mặt chủ quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THÙY LÂN MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM
VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
Hà Nội - 2010 MỤC LỤC

Lời cam đoan
Tr.
Mục lục

Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các đồ thị
1
2
3
MỞ ĐẦU
BLHS
: Bộ luật hình sự

BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự
CTTP
: Cấu thành tội phạm

NNPQ
: Nhà nước pháp quyền

PLHS
: Pháp luật hình sự

THAHS
: Thi hành án hình sự

TAND
: Tòa án nhân dân

TTHS
: Tố tụng hình sự

TNHS

sung một số điều của Bộ luật hình sự (năm 2009)

51
2.2
Phân loại số lượng tội có quy định dấu hiệu động cơ trong
CTTP

52
2.3
Số lượng tội có quy định dấu hiệu mục đích trong CTTP
theo quy định của Bộ luật hình sự (năm 1999) và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (năm 2009)

59
2.4
Phân loại số lượng tội có quy định dấu hiệu mục đích trong
CTTP

60
3.1
Số lượng tội danh có quy định dấu hiệu lỗi trong CTTP
80
Tỷ lệ số CTTP có hoặc không có quy định dấu hiệu lỗi
80
4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất trong hệ
thống pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng. Ngay từ
khi Nhà nước ta mới được thành lập cho đến nay, luật hình sự vẫn luôn nhận
được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân bởi pháp luật hình sự là
một trong những công cụ quan trọng và hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân,
bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người
ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Để luật
hình sự ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, việc hoàn thiện Bộ
luật hình sự là một đòi hỏi tất yếu khách quan.
Bộ luật hình sự Việt Nam tuy đã có những bước phát triển cùng với sự
thay đổi của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gao
của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền nên không tránh khỏi
những bất cập, hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện. Một trong những
bất cập, hạn chế, thiếu sót đó chính là các quy định về mặt chủ quan của tội
phạm, mà cụ thể là còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về: khái niệm
lỗi, động cơ, mục đích phạm tội; khái niệm lỗi cố ý, vô ý; dấu hiệu lỗi trong
Bộ luật hình sự Điều này dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất về lỗi,
động cơ và mục đích phạm tội; áp dụng sai hoặc không thống nhất tội danh;

động cơ và mục đích phạm tội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận của Luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư 6
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các
ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học…
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, lịch sử,
phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn … qua đó rút ra
những kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định về mặt chủ
quan của tội phạm.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục và 3 chương:
Chương 1: Lý luận về mặt chủ quan của tội phạm.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt chủ quan của tội
phạm.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan của
tội phạm. 8
Cấu thành tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng của luật hình
sự và là vấn đề lý luận có ý nghĩa trong lập pháp và áp dụng pháp luật hình
sự. Về bản chất, tội phạm là hiện tượng xã hội có tính giai cấp, tính lịch sử,
được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành
vi. Về mặt cấu trúc, tội phạm được hợp thành bởi những yếu tố nhất định tồn
tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy. Những yếu
tố đó là mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, khách thể
của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào, không
phụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đều là một thể thống
nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữa biểu hiện bên ngoài và biểu
hiện tâm lý bên trong, tất cả đều là hoạt động của con người cụ thể xâm hại
hoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố
này là hình thức cấu trúc thể hiện nội dung chính trị, xã hội của tội phạm. Nếu
về mặt nội dung chính trị - xã hội các hành vi phạm tội có tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt hình thức cấu trúc bốn yếu tố cấu
thành tội phạm có những nội dung thể hiện khác nhau. Chính sự khác nhau
này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành
vi phạm tội của một loại tội phạm cụ thể trong mỗi trường hợp thực tế tuy có
những điểm khác nhau ở các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều có những
nội dung biểu hiện gần giống nhau có tính đặc trưng và quyết định tính nguy
hiểm của loại tội phạm đó. Khái quát hóa những nội dung biểu hiện giống
nhau của bốn yếu tố của mỗi loại tội phạm qua các dấu hiệu đặc trưng để mô
tả tội phạm và sự mô tả này trong luật là phương thức quy định tội phạm
trong luật hình sự. Khái niệm cấu thành tội phạm trong luật hình sự được
dùng để chỉ sự mô tả này.
Cấu thành tội phạm là bộ phận của quy phạm pháp luật hình sự, trong
đó xác định nghĩa vụ không được làm hoặc nghĩa vụ phải làm một công việc
10
tính trái pháp luật hình sự trong trường hợp thỏa mãn dấu hiệu của chế định
phòng vệ chính đáng, tình thể cấp thiết……[45,10]. Quy phạm pháp luật hình
sự là quy phạm cấm đoán, cấm công dân làm hoặc không làm một việc nhất
định. Ví dụ: Cấm giết người, cấm gây thương tích cho người khác, …; cấm
không tố giác tội phạm tức yêu cầu phải tố giác tội phạm. Về nguyên tắc công
dân không được phép có xử sự bị Pháp luật hình sự cấm, tuy nhiên trong
trường hợp nhất định họ vẫn có thể được luật hình sự cho phép thực hiện xử
sự bị cấm đó. Những trường hợp này được quy định trong chế định “các tình
tiết loại trừ tính trái pháp luật của hành vi” hay “các tình tiết loại trừ tính chất
phạm tội của hành vi”: Phòng vệ chính đáng, sự hiện bất ngờ, tình thế cấp
thiết, gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhưng chưa đủ tuổi chịu TNHS,
gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong tình trạng không có năng lực trách
nhiệm hình sự,…Khi thỏa mãn tình tiết này thì việc thực hiện hành vi bị cấm
được coi là hợp pháp. Tình tiết này có thể được gọi ngắn gọn là “có căn cứ
hợp pháp” hay “tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”. Việc hành vi
thỏa mãn cấu thành tội phạm không thuộc trường hợp “có căn cứ hợp pháp”
hay “có tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” cũng có nghĩa hành
vi có tính trái pháp luật hình sự, tức là trong cấu thành tội phạm có dấu hiệu
này thì hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm vẫn không trái pháp luật hình
sự.[45,11]
Từ phân tích trên đây, ta có thể đưa ra khái niệm về cấu thành tội phạm
như sau: Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý có tính chất
đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình
sự[76,66].
1.1.2. Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì con người là
tổng hòa các quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội của con người được biểu
12
phạm tội, có người không phạm tội, có người phạm tội một lần, có người
phạm tội nhiều lần. Hoạt động của con người bị chi phối bởi các quy luật
khách quan nhưng nhờ hoạt động ý thức con người đã nhận thức và vận dụng
các quy luật đó vào việc thực hiện các mục đích của mình. Đó chính là sự tự
do ý chí, tuy nhiên sự tự do ý chí của con người không phải là sự suy nghĩ
tuyệt đối độc lập mà nó bị chi phối bởi các quy luật, tự do ý chí là năng lực
quyết định của một người khi nhận thức được nó. Hê-ghen nói “Tự do là nhận
thức được cái tất yếu, tất yếu sẽ mù quáng khi con người chưa nhận thức
được nó”. Hoạt động của con người không phải là kết quả tác động trực tiếp
của các điều kiện lịch sử mà chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động tâm lý
bên trong con người. Con người có sự tự do của mình tức là có quyền lựa
chọn một xử sự phù hợp với các quy luật, đó là sự tự do thực sự. Ngược lại,
con người sẽ bị tước bỏ sự tự do tương đối trong khuôn khổ các điều kiện lịch
sử, xã hội cụ thể và phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội. Mỗi cá nhân
trong xã hội dựa trên cơ sở sự tự do của mình phải đáp ứng những đòi hỏi có
tính quy luật của xã hội đó là pháp luật và đạo đức xã hội, đó là trách nhiệm
của cá nhân trong xã hội, phù hợp với sự tự do của cá nhân nhằm đảm bảo tôn
trọng sự tự do của cá nhân khác. Như vậy, con người có khả năng nhận thức
và vận dụng tốt các quy luật của xã hội để giành lấy tự do cá nhân. Đôi khi
con người nhận thức những quy luật đó nhưng không phải họ vận dụng nó để
thực hiện một hành vi phù hợp với tự do của người khác mà họ lại hành động
sai với quy luật. Do đó, ý chí cá nhân muốn tước bỏ tự do của người khác và
hậu quả cũng tự tước bỏ tự do của mình (pháp luật buộc họ phải chịu trách
nhiệm về hành vi đó của họ).
Pháp luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan
(truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vi
nguy hiểm cho xã hội không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý

Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu để phân biệt các cấu thành tội
phạm có mặt khách quan giống nhau. Ví dụ: một người thực hiện hành vi
tước đoạt tính mạng của người khác một cách cố ý thì cấu thành tội phạm của
tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự), nếu là vô ý thì có thể là tội vô ý làm
chết người (Điều 98 Bộ luật hình sự) hoặc cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ
luật hình sự) tùy thuộc vào biểu hiện cụ thể.
Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm ở mức độ nào đó giúp xác
định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến trách
nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội.
1.2. CÁC DẤU HIỆU THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI
PHẠM
1.2.1. Dấu hiệu lỗi
a. Khái niệm lỗi
Lỗi là một khái niệm được biết đến và được sử dụng rất nhiều trong
khoa học luật Hình sự. Lý luận về lỗi được xác định trên những cơ sở lý luận
khác nhau nên đã có các quản điểm khac nhau:
Theo khái niệm lỗi về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đức
ngay từ năm 70 của thế kỷ XVII, thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưu
phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình
Thế kỷ XVII ở Tây Âu mà tiêu biểu là nhà luật học nổi tiếng người
Italia Tr.Beccaria đã nêu lên quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở một
mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là:
- TNHS và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo
đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại; 15
- Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ
không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi.[22,419]
Theo quan điểm triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học người

là tính nguy hiểm của nhân thân người đó, còn hành vi thì lại được coi là sự
biểu hiện của chính tình trạng nguy hiểm ấy (các tác giả theo trường phái xã
hội học).[22,421]
Lý luận về đánh giá lỗi - khi lỗi của chủ thể được xác định bằng sự
phán xét có tính chất đánh giá của riêng Toà án mà không cần tính đến thái độ
tâm lý của người đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình
sự cấm (các nhà hình sự học nổi tiếng của Liên Xô cũ như: Đurmanôv N.Đ.,
Gertxenzon A.A.,, v.v…).
Lý luận lỗi về mặt tâm lý - khi lỗi của một người được hiểu là thái độ
tâm lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện và hậu
quả do hành vi đó gây nên (đại đa số các nhà hình sự học của Liên Xô cũ như:
Vlađimirôv V.A., Nhikiforov A.X, Kritrenko V.F., v.v…, cũng như của Liên
bang Nga hiện nay).[22,419,420,421]
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn còn các quan điểm khác
nhau coi lỗi là:
- Thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưói hình thức cố ý
hoặc vô ý. 17
- Dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể có đủ
điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội khi
quyết định thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội.
Theo quan điểm của GS.TSKH. Lê Cảm thì “Lỗi hình sự là mặt chủ
quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của TNHS, đồng
thời là thái độ tâm lý của người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS đối
với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện
và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưói hình thức cố ý hoặc vô ý”.[22,422]
Bản chất xã hội - pháp lý của lỗi hình sự. Việc phân tích khái niệm

khách quan đã gây ra thiệt hại cho xã hội mà còn vì họ có lỗi trong việc thực
hiện hành vi khách quan đó. Một người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ
bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của
chủ thể trong khi chủ thể có điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn
hoặc quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Việc thừa
nhận nguyên tắc lỗi trong luật hình sự Việt Nam chính là sự thừa nhận và tôn
trọng tự do ý chí của con người. Đó là cơ sở đảm bảo cho trách nhiệm hình sự
được khách quan và thực hiện được mục đích của việc truy cứu trách nhiệm
hình sự. Chúng ta chỉ có thể đạt được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm
tội, giúp họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật,
ngăn ngừa họ phạm tội mới nếu việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng
hình phạt đối với người phạm tội trên cơ sở lỗi của họ trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Theo quy định của pháp luật hình sự, một hành vi bị xem là có tính có
lỗi khi có đủ hai điều kiện sau: Hành vi trái pháp luật hình sự và hành vi đó là 19
kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi trong
khi có khả năng và điều kiện để lựa chon và quyết định xử sự khác không trái
pháp luật hình sự. Ví dụ: A bị B ép phải uống hết chai rượu mạnh và khi uống
hết chai rượu đó A không còn kiểm soát được hành vi của mình nên đã thực
hiện hành vi giao cấu với em C (12 tuổi), như vậy trong trường hợp này A
không có lỗi vì đã bị B ép buộc và không có sự lựa chọn khác. Nếu trong
trường hợp này A tự uống rượu say và thực hiện hành vi trên thì A là người
có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị xem là có lỗi khi
họ có năng lực trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi đó. Tức là khi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người này không mắc bệnh tâm thần
hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và đạt độ

Mặc dù không ghi nhận rõ và riêng biệt các thuật ngữ “cố ý trực tiếp”
và “cố ý gián tiếp” trong BLHS tuy nhiên nội dung của hai dạng lỗi này cũng
đã được ghi nhận tại Điều 9 BLHS năm 1999. Trong hình thức lỗi cố ý dấu
hiệu bắt buộc chung về mặt lý trí của cả hai dạng cố ý trực tiếp và cố ý gián
tiếp đó là đều thấy trước khả năng xảy ra hậu quả của hành vi. Về mặt ý chí ở
lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, ở lỗi cố ý
gián tiếp người phạm tội có thái độ bàng quan (dửng dưng) đối với hậu quả
phạm tội xảy ra.
- Căn cứ vào thời điểm xuất hiện và hình thành sự cố ý, hình thức lỗi
này được khoa học luật hình sự phân chia thành hai dạng: Cố ý có dự mưu và
cố ý đột xuất 21
Cố ý có dự mưu là trường hợp chủ thể có sự tính toán cụ thể, suy ngẫm
kỹ càng và cân nhắc thận trọng trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
Cố ý đột xuất thì ngược lại với dạng cố ý dự mưu, tức là khi ý định
phạm tội vừa mới xuất hiện mà chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội (chứ
chưa hề có sự tính toán cụ thể, suy ngẫm kỹ càng và cân nhắc thận trọng trước
khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội).
- Căn cứ vào mức độ cụ thể của sự nhận thức (hình dung) được hậu quả
nguy hại do hành vi của chủ thể sẽ xảy ra, hình thức lỗi này được khoa học
luật hình sự chia thành hai dạng: Cố ý xác định và cố ý không xác định
Cố ý xác định là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi phạm tội mà
hình dung được một cách tương đối chắc chắn, rõ ràng và cụ thể hậu quả nguy
hại sẽ xảy ra;
Cố ý không xác định là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
tuy thấy trước (nhưng chưa hình dung được) một cách tương đối chắc chắn, rõ
ràng và cụ thể hậu quả nguy hại sẽ xảy ra.
* Hình thức lỗi vô ý được phân chia thành hai dạng là: vô ý vì quá tự

trước đây - 12 trường hợp trong Phần các tội phạm BLHS năm 1985 so với 15
trường hợp trong Phần các tội phạm BLHS năm 1999.
Theo quan điểm của ThS. Lô Văn Lý - Khoa luật hình sự trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì “không có sự tồn tại của hình thức hỗn
hợp lỗi mà là trường hợp các hình thức lỗi cố ý và vô ý cùng tồn tại độc lập
với nhau trong cùng một loại tội phạm. Sự tồn tại độc lập của hai hình thức lỗi
trong cùng một loại tội phạm chỉ có thể có ở những loại tội phạm có hình thức

Trích đoạn Thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi trong việc định tội danh Thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi trong việc phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác Thực tiễn áp dụng các quy định về động cơ phạm tội trong việc định tội danh Thực tiễn áp dụng các quy định về động cơ, mục đích phạm tội trong việc phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ LỖI 1 Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định về khái niệm lỗ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status