1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT CHU THỊ LAM GIANG
KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VỚI TƯ CÁCH
LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
1.2.1.
Các đặc điểm của khách thể của tội phạm
19
1.2.2.
Ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm
21
1.3.
Khách thể của tội phạm theo pháp luật hình sự của một số
nước trên thế giới
23
1.3.1.
Theo pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
23
1.3.2.
Theo pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
25
1.3.3.
Theo pháp luật hình sự Liên bang Nga
26
1.3.4.
Theo pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển
28
Chương 2: YẾU TỐ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
30
2.1.
Sự thể hiện yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình
sự Việt Nam
30
3.1.
Hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
yếu tố khách thể của tội phạm
66
3.1.1.
Sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
66
3.1.2.
Giải pháp hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
70
3.2.
Các gi ải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
76
3.2.1.
Hướng dẫn áp dụng thố ng nhấ t cá c quy đ ịnh của pháp luật
hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
76
3.2.2.
Các gi ải pháp khá c nh ằm nâng cao chất lượng áp dụng các
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể
của tội phạm
79
KẾT LUẬN
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
2.3
Bảng tổng hợp số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự từ năm 2000 đến 2011 của Tòa án nhân dân các cấp
47 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Tỷ lệ vụ án theo loại khách thể bị xâm hại từ năm 2000
đến năm 2011
47
2.2
Số vụ xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự con người
đã xét xử sơ thẩ m từ năm 2000 đến năm 2011 của Toà án
nhân dân cá c cấ p
48
2.3
Số vụ án hình sự các tội phạm v ề ma túy đã xét xử sơ
thẩ m năm 2000 đến năm 2011 của Toà án nhân dân các cấp
49 7
MỞ ĐẦU
hóa, bảo đảm ổn định lâu dài, thúc đẩy phát triển của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến
phức tạp, không chỉ gia tăng về số vụ, số người phạm tội mà tính chất và mức
độ của tội phạm cũng nhiều thay đổi, đặc biệt là nhiều tội phạm xâm phạm
đến những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ trong nhiều trường
hợp mang tính đa dạng, phức tạp và khó xác định dẫn đến việc định tội danh
và quyết định hình phạt còn gặp khó khăn, vướng mắc, chưa đúng pháp luật,
dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan, sai người vô tội. Để phân biệ t những
quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ, bị tội phạm xâm hại; sự thể
hiện những quan hệ xã hội ấy trong BLHS như thế nào và những nguyên nhân
của việc áp dụng chưa đúng trong thực tiễn định tội danh đối với yếu tố khách
thể của tội phạm ra sao, cần những giải pháp góp phần hoàn thiện chúng… thì
việc nghiên cứu đề tài liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm có ý nghĩa
lý luận thực tiễn và quan trọng. Bởi lẽ, khách thể của tội phạm là mộ t trong
bố n yếu tố cấ u thà nh củ a tội phạm. Khách thể của tội phạm bao giờ cũng là
một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng pháp luật
hình sự. Dựa vào khách thể của tội phạm, chúng ta xác định được hành vi nguy
hiểm cho xã hội do con người thực hiện có phải là tội phạm hay không? Khách
thể củ a tộ i phạ m cũ ng là một trong những cơ sở không thể thiế u để xác định
tính nguy hiểm của tội phạm đó, góp phần vào quá trình cải cách tư pháp thắng
lợi và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù còn tồn tại những thiếu sót về mặt lập pháp cũng như khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn vận dụng, nhưng về phương diện lý luận, có
thể nó i rằ ng yếu tố khách thể của tội phạm vẫn chưa được quan tâm, nghiên
cứ u một cách đúng mức, đầ y đủ để tìm ra giải pháp khắc phục toàn diện
9
những vấn đề đó. Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách chuyên sâu, toàn diện ở cấp độ một cuốn sách chuyên khảo, một
học Quốc gia Hà Nội, 2010; hoặc: "Giáo trình Lý luận chung về định tội danh",
của GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011. Tuy
nhiên, các sách này chỉ đánh giá vai trò của khách thể của tội phạm trong hoạt
động định tội danh và thông qua những bài tập tình huống cụ thể để học viên
rèn luyện kỹ năng định tội danh.
* Dưới góc độ các bài báo khoa học, khách thể của tội phạm còn
được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
luật như: 1) "Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (trên cơ
sở những nội dung của Bộ luật hình sự năm 1999)", của GS.TSKH. Lê Cảm,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, 8/2005; 2) "Đối tượng tác động của các tội xâm
phạm sở hữu", của TS. Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
8/1997; 3) "Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự" của TS. Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Khoa học, Đại
học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế - Luật, số 1/2005; v.v
* Dưới góc độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học, cho đến nay, mới
có một số luận văn thạc sĩ đi sâu vào yếu tố mặt chủ quan của tội phạm
(Nguyễn Thị Nhuần, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010), mặt
khách quan của tội phạm (Nguyễn Mai Phương, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2011) hoặc chủ thể của tội phạm (Lê Đăng Doanh, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2005). Các luậ n văn này chỉ dừng lại ở cấp độ mộ t phầ n
như là các bài viết về khách thể của tội phạm hoặ c đề cập đến với tư cách là
nội dung liên quan đế n luậ n văn . Có thể nói rằng cho đến nay chưa có luận
văn thạc sĩ nào đề cập đến đúng tên gọi yếu tố này - khách thể của tội phạm.
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Khách thể của tội phạm với tư cách là một
yếu tố cấu thành tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" để làm luận văn
thạc sĩ của mình .
11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng như đánh giá tình hình
thực tiễn áp dụng yếu tố này trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở nước
ta, làm rõ những nguyên nhân của tình hình đó. Trên cơ sở những nghiên cứu
này, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định về khách thể của tội phạm
trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy
định này.
4.2. Về thời gian và không gian
Đối với các quy định pháp luật Việt Nam về khách thể của tội phạm,
luận văn giới hạn nghiên cứu trong khoảng từ năm 1945 đến nay. Đối với
thực tiễn áp dụng những quy định này, luận văn tổng hợp và đánh giá số liệu
xét xử trên toàn quốc trong thời gian từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực thi
hành (năm 2000) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các
ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp,
đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật hình sự, tố tụng hình
13
sự, tội phạm học, xã hội học pháp luật; v.v trong các công trình của các nhà
khoa học-luật gia ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng trung
thực các số liệu thống kê của các cơ quan áp dụng pháp luật, các sách tham
khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến
đề tài.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về yếu tố khách thể của tội phạm và những số giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định này. 15
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
1.1. KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU VÀ PHÂN LOẠI KHÁCH THỂ CỦA
TỘI PHẠM
1.1.1. Khái niệm khách thể của tội phạm
Trong khoa học pháp lý ở nước ta, khách thể của tội phạm thườ ng
đượ c đặ t lên hà ng đầ u trong bố n yếu tố CTTP. Từ điển Luật học của Viện
Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa khách thể của tội phạm và ý nghĩa
của nó trong mô tả về "Yếu tố cấu thành tội phạm" như sau:
Những yếu tố pháp lý đặc trưng của những tội phạm cụ thể
được quy định trong Luật hình sự. Tổng hợp các yếu tố ấy là cấu
thành tội phạm. Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất
và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có thể rút ra
được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào
cũng phải có, đó là: khách thể của tội phạm; mặt khách quan của
tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm. Khách
thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu
quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm
cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến tội
phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật
hình sự bảo vệ bị xâm hại [60, tr. 581].
Tuy nhiên, quan điểm lý luận về các yếu tố CTTP và khách thể của tội
tội phải có ý định, mong muốn phạm tội ấy. Causation là yêu cầu về quan hệ
nhân quả giữa hành vi với thiệt hại xảy ra [99].
Ở Anh, để cấu thành một tội phạm thậm chí chỉ yêu cầu hai yếu tố
trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội - Mens rea và Actus reus.
17
Việc xác định một tội phạm cụ thể theo quy định của Thông
luật (Common law) đặt ra yêu cầu về hai yếu tố: trạng thái tâm
thần và hành vi phạm tội. Công tố viên phải chứng minh cả hai yếu
tố trên để thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn thừa nhận sự tồn tại của
chúng. Nếu điều này không chứng minh được thì theo pháp luật
Anh, người bị buộc tội sẽ được tha bổng vì mọi người được coi là
vô tội cho đến khi bị chứng minh có tội [90, tr. 14].
Như vậy, ở các nước thuộc kiểu pháp luật Anh - Mỹ, yếu tố khách thể
của tội phạm không được đề cập trong CTTP. CTTP trong luật hình sự các
nước này chỉ nhấn mạnh tới yếu tố hành vi khách quan và yếu tố lỗi trong mặt
chủ quan. Điều này khác biệt với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa - nơi mà
khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong
việc cấu tạo nên tội phạm.
Lý luận về các yếu tố CTTP, trong đó có khách thể của tội phạm là
những khái niệm của khoa học luật hình sự Việt Nam hiện đại. Chúng mới
được đưa tới Việt Nam khoảng những năm 60-70 của thế kỷ trước bởi các nhà
khoa học Liên Xô [11, tr. 341]. Do tiếp thu nên quan điểm của các nhà khoa
học Việt Nam về khách thể của tội phạm về cơ bản là thống nhất về nội dung
và bản chất pháp lý.
PGS.TS. Kiều Đình Thụ viết: "Khách thể của tội phạm là những quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại" [47, tr. 140].
Còn GS. TSKH. Lê Cảm cho rằng: "Khách thể của tội phạm là quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội
hại tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì mới trở thành vi phạm
pháp luật hình sự (tội phạm), nếu hành vi ấy xâm hại các quan hệ xã hội được
các ngành luật khác bảo vệ thì nó sẽ là vi phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp
luật tương ứng.
19
Thứ ba, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội bị tội phạm
xâm hại. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy
hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm.
Tuy thống nhất với các quan điểm trên về khái niệm khách thể của tội
phạm nhưng chúng tôi cho rằng khái niệm này còn cần phải thể hiện vai trò,
vị trí của khách thể trong mối quan hệ với CTTP vì nếu không có mối quan hệ
này thì việc xác định khách thể của tội phạm là vô nghĩa.
Tóm lại, từ các lý do trên , dưới góc độ khoa học tác giả xin đưa ra
khái niệm khách thể của tội phạm như sau: Khách thể của tội phạm - yếu tố
cấu thành bắt buộc của mọi tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.
1.1.2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm
Theo GS. TSKH Lê Văn Cảm, "dấu hiệu của CTTP là đặc điểm chung
về mặt lập pháp cụ thể của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc
trưng cho tội phạm đó" [11, tr. 345]. Trong các dấu hiệu của CTTP, có dấu
hiệu bắt buộc là đặc trưng cho tất cả các CTTP, có dấu hiệu tùy nghi, có thể
có ở CTTP này mà không có ở CTTP khác. Theo đó, yếu tố khách thể trong
CTTP có ba dấu hiệu: khách thể - dấu hiệu bắt buộc; đối tượng của tội phạm
và người bị hại (nạn nhân) của tội phạm - các dấu hiệu tùy nghi.
a. Dấu hiệu khách thể trong khách thể của tội phạm: Như đã xác định
ở trên, khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, bị tội phạm xâm hại.
Khách thể của tội phạm có ba loại: khách thể chung, khách thể loại và
bán những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh mới cấu thành tội quy định tại
Điều 166 BLHS năm 1999: Tội buôn bán hàng cấm. Đối tượng tác động của tội
phạm ở đây là "hàng cấm", là dấu hiệu bắt buộc của tội buôn bán hàng cấm.
21
- Đối tượng tác động của tội phạm là cơ sở để phân biệt các tội phạm
có nội dung cấu thành gần giống nhau. Ví dụ: theo Điều 231 BLHS năm
1999 quy đinh về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh
quốc gia thì đối tượng tác động của tội phạm là công trình phương tiện giao
thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống tải điện, chất đốt, công trình thủy
lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh quốc phòng, kinh tế, khoa học
kỹ thuật, văn hóa xã hội do Chính phủ quy định . Nếu tài sản bị hủy hoại
không phải là các đối tượng trên thì hành vi không cấu thành tội này mà cấu
thành tội hủy hoại tài sản ở Điều 143 BLHS năm 1999.
Mức độ gây thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra với đối tượng tác
động của tội phạm được luật hình sự quy định sẽ là căn cứ để phân biệt hành
vi được coi là tội phạm với hành vi không được coi là tội phạm. Ví dụ: Hành
vi phải gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản mới cấu thành tội vô ý gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại Điều 145 BLHS năm 1999, còn nếu
chưa gây thiệt hại nghiêm trọng thì không phải là tội phạm.
c. Dấu hiệu nạn nhân trong khách thể của tội phạm: Ở Việt Nam
trong những năm gần đây, vấn đề nạn nhân của tội phạm đã bắt đầu được
nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học, còn trong khoa học luật hình sự thì đây
vẫn là một vấn đề bị bỏ ngỏ. Trong thực tế, khi có tội phạm xảy ra, "ai là
người phạm tội" mới là tình tiết được quan tâm nhất.
Theo TS. Trần Hữu Tráng, "Nạn nhân của tội phạm là cá nhân hay tổ
chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe, tinh thần,
tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm
tội gây ra" [61, tr. 58].
Thông qua việc gây tổn hại cho nạn nhân, tội phạm đã xâm hại quan hệ
Dựa trên mức độ khái quát của các quan hệ xã hội, khoa học luật hình
sự đã chia khách thể thành ba loại:
23
a. Khách thể chung của tội phạm. "Khách thể chung của tội phạm là
tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được luật hình sự
bảo vệ" [2, tr. 105]. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại
đến khách thể chung bởi vì nếu không thì hành vi đó không trái pháp luật hình
sự, không bị coi là tội phạm. Hơn nữa, mỗi một tội phạm khi xâm hại đến lĩnh
vực quan hệ xã hội này hay quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ
cũng có nghĩa là xâm hại đến tổng thể, đến hệ thống các quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ.
Việc xác định các quan hệ xã hội được coi là khách thể chung của tội
phạm hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà lập pháp. Tất nhiên,
việc xác định đó phải dựa trên nền tảng là chính sách hình sự của nhà nước;
phản ánh và phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
b. Khách thể loại của tội phạm. "Khách thể loại của tội phạm là nhóm
quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật
hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại" [2, tr. 106]. Trong thực tiễn
đấu tranh phòng chống tội phạm, có những nhóm quan hệ xã hội có đặc trưng
và tính chất cùng loại, có mối liên hệ với nhau tạo thành một bộ phận nhất
định trong hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự
xâm hại của tội phạm.
Đúng với tên gọi, khách thể loại có vai trò quan trọng trong việc phân
loại, phân nhóm tội phạm. Nó là cơ sở để BLHS xây dựng các chương trong
phần các tội phạm một cách hợp lý và khoa học.
c. Khách thể trực tiếp của tội phạm. "Khách thể trực tiếp của tội phạm là
quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm PLHS bảo vệ bị một loại tội phạm
trực tiếp xâm hại" [47, tr. 145]. Các tội phạm được quy định trong cùng một
chương phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến
Việc phân loại khách thể của tội phạm thành khách thể chung, khách
thể loại và khách thể trực tiếp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cả hoạt
động xây dựng và áp dụng pháp luật. Tuy nhiên mối quan hệ giữa các loại
25
khách thể ở đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, có sự thống nhất
chặt chẽ chứ không tách biệt, độc lập. Trong khách thể chung có khách thể
loại, trong khách thể loại có khách thể trực tiếp và ngượ c lạ i , khách thể trực
tiếp thuộc về khách thể loại, khách thể loại cũng thuộc về khách thể chung.
1.2. CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA PHÁP LÝ HÌNH SỰ CỦA KHÁCH
THỂ CỦA TỘI PHẠM
1.2.1. Các đặc điểm của khách thể của tội phạm
Với tư cách là một yếu tố CTTP, khách thể của tội phạm mang những
đặc điểm chung của các yếu tố CTTP như sau:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm bắ t buộ c phải được quy định trong
pháp luật hình sự thực định
Là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do vậy khách thể
của tội phạm bắ t buộ c phải được xác định bởi luật hình sự. Chỉ có những quan
hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ thì mới là khách thể của tội phạm. Một
hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi BLHS quy định nó là tội phạm, vì vậy các
yếu tố cấu thành của hành vi ấy không thể nằm ngoài quy định của BLHS.
Thứ hai, chỉ khi nào xác định được hành vi thỏa mãn yếu tố khách thể
của tội phạm thì mới có thể khẳng định hành vi ấy là tội phạm
Cùng với các yếu tố CTTP khác, hành vi phải thỏa mãn dấu hiệu
khách thể của tội phạm thì mới bị coi là tội phạm. Hành vi phải xâm hại đến
một quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ thì nó mới có tính trái
pháp luật hình sự và bị luật hình sự đe dọa áp dụng biện pháp trừng phạt.
Thứ ba, khách thể của tội phạm là một khái niệm khoa học trừu tượng
chứ không phải chế định hay quy định pháp luật cụ thể
Khách thể của tội phạm cũng như các yếu tố cấu thành khác của tội