Biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN
TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản Hà nội – 2013
[
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP
LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM
Cơ sở lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm
Quan niệm chung về biện pháp tư pháp
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của biện pháp tịch thu vật, tiền
trực tiếp liên quan đến tội phạm
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp
xử lý vi phạm hành chính
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tiền
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tịch thu tài sản
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với các biện pháp xử lý vi phạm hành chính Trang
1.4.1.

1.4.2.

1.4.3.

1.4.4. 2.1.

2.2.

2.3.

Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định biện
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999


29
32
34
38
41
41

48

66

70

3.1. 3.2. 3.3. DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
hiệ
u
bả
ng
Tên bảng Tra
ng
1.1 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm và hình phạt tiền.
18
1.2 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm và hình phạt tịch thu tài sản.
21
1.3 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
22
1.4 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm trong LHS Việt Nam và hình phạt tịch thu tài sản trong
LHS Pháp.
31
1.5 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm trong LHS Việt Nam và hình phạt tịch thu tài sản trong
LHS Thụy Điển.
33
1.6 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến

tạo, giáo dục trong chính sách hình sự của nước ta.
Kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985,
BLHS năm 1999 là bước phát triển mới trong luật hình sự nước
ta. Nhiều quy phạm luật hình sự (LHS) đã được sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng
pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Tuy
nhiên, một số quy định về chế định các biện pháp tư pháp nói
chung và về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên
quan đến tội phạm nói riêng trong BLHS hiện hành, ở những
mức độ khác nhau, bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định,
chưa đáp ứng được yêu cầu của việc xây dựng xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh hiện nay. Mặt khác, công tác giải thích, hướng
dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua chưa được
quan tâm đúng mức nên một số quy định của pháp luật hình sự,
trong đó có các quy định về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền
trực tiếp liên quan đến tội phạm còn có những nhận thức không
thống nhất, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt
động thực tiễn.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về biện pháp tịch thu vật,
tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong khoa học và việc áp
dụng nó trong thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những kiến giải lập
pháp hoàn thiện phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm và ngăn chặn, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội
phạm gây ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Đây là lý
do mà chúng tôi chọn đề tài "Biện pháp tư pháp tịch thu vật,
tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong luật hình sự Việt
Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề TNHS cũng như hình phạt, các biện pháp tư pháp,
với tư cách là một trong các dạng của TNHS, đã được nhiều

biên, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1996 (tái bản
năm 2005);
- ThS. Đinh Văn Quế. Chương XI – Các biện pháp tư
pháp, trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hính sự năm 1999
(Phần chung), NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2000;
- Chương VI – Các biện pháp tư pháp của ThS. Trần Minh
Hưởng, trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hính sự năm
1999 (Phần chung). Tập thể tác giả, do ThS. Trần Minh Hưởng
chủ biên, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2002;
- GS.TS. Lê Cảm. Chương thứ bảy – Hình phạt và biện
pháp tư pháp, trong sách: Những vấn đề cơ bản trong khoa học
luật hình sự (Phần chung), sách chuyên khảo sau đại học, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- GS.TS. Lê Cảm. Chương thứ bốn – Hệ thống hình sự:
Những phương hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả của hệ thống
tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền,
trong sách chuyên khảo: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai
đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, 2009.
- Ts. Trịnh Quốc Toản. Chương 2 – Các hình phạt bổ sung
trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, trong sách chuyên
khảo: Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học
pháp lý như:
- “Hình phạt và biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt
Nam” của TSKH.GS Lê Cảm, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số
11/2000;
- “Các biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự năm
1999 và vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp

tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm được chính xác và triệt để.
* Nhiệm vụ của luận văn:
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn đặt ra những
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và các quy định trong
pháp luật hình sự Việt Nam về biện pháp tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm và các chế định có liên quan như:
hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp…
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm trong thực tiễn các giai đoạn thực
hiện tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta hiện nay.
- Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự một số nước về
vấn đề tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và các
vấn đề có liên quan.
- Phân tích những tồn tại, hạn chế và những vướng mắc
của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định biện
pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức
và áp dụng pháp luật được thống nhất.
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về biện pháp tư pháp tịch thu vật,
tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo LHS Việt Nam. Cụ thể
là nghiên cứu các vấn đề như sau: Khái niệm; đặc điểm; điều
kiện áp dụng; thủ tục áp dụng…
Chế định biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên
quan đến tội phạm liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau của
LHS và luật tố tụng hình sự (LTTHS) như: hình phạt, hình phạt
bổ sung, biện pháp tư pháp chung…Việc đề cập đến các vấn đề
trên của LHS và LTTHS cũng chỉ nhằm giải quyết một cách có
hệ thống và làm rõ hơn chế định biện pháp tư pháp tịch thu vật,

dẫn hoạt động điều tra, xử lý các vụ án hình sự.
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình hoàn thành, tác giả luận văn đã sử dụng
tổng hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu có độ tin cậy
cao của khoa học luật hình sự và một số ngành khoa học khác.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi trọng
các phương pháp điều tra điển hình, so sánh, hệ thống, lịch sử,
phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên
cứu của luận văn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Xác định những bất cập trong việc tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm cả về mặt lập pháp và thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện những vấn đề
lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm trong luật hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là những bổ sung
vào khoa học luật hình sự Việt Nam, góp phần nâng cao nhận
thức lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm. Do đó nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có
thể được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của
các ngành bảo vệ pháp luật phục vụ công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm; cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật hình
sự, trong việc biên soạn các giáo trình luật hình sự và các luật
khác trong các trường có giảng dạy pháp luật.
Những kết luận, đề xuất của luận văn là kết quả nghiên
cứu có cơ sở lý luận và thực tiễn, vì vậy, các cơ quan quản lý nhà

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN
TỘI PHẠM

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỊCH THU
VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM
1.1.1. Quan niệm chung về biện pháp tư pháp
Khi thực hiện tội phạm thì cá nhân người phạm tội sẽ phải
gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi nhất định trước Nhà nước
về hành vi phạm tội của mình. Hậu quả pháp lý bất lợi đó chính
là TNHS, được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng
chế hình sự khác theo quy định của BLHS. Nguyên tắc không
tránh khỏi TNHS khi thực hiện tội phạm là một trong các nguyên
tắc cơ bản của LHS Việt Nam, là nguyên tắc nhằm đảm bảo sự
công bằng và bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, bảo
vệ trật tự pháp luật và giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp
luật.
Hệ thống các dạng TNHS gồm có:
- Các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất: các
hình phạt chính và hình phạt bổ sung (Từ Điều 29 đến Điều 40 –
BLHS năm 1999).
- Các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác (ít nghiêm
khắc hơn hơn hình phạt), gồm:

phạm tội mà không kèm theo hình phạt (Ví dụ: khi người phạm
tội được miễn hình phạt).
Thứ hai, với tính chất là một dạng của TNHS và là một
hình thức để thực hiện TNHS trong văn bản của cơ quan tư pháp
hình sự có thẩm quyền, biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất
hiện khi có sự việc phạm tội, bởi lẽ, nếu không có tội phạm thì
cũng không thể có biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp
cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt.
Thứ ba, trong khi việc áp dụng hình phạt chỉ có thể do một
cơ quan tư pháp hình sự duy nhất, đó là Tòa án, và chỉ áp dụng
đối với người bị kết án nói riêng thì biện pháp tư pháp lại có chủ
thể áp dụng rộng hơn. Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự
tương ứng cụ thể, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt (từ điều 41
đến điều 43 – BLHS năm 1999) có thể do các cơ quan tư pháp
hình sự khác nhau có thẩm quyền áp dụng (Cơ quan Điều tra,
Viện kiểm sát hoặc Tòa án) và đối với người phạm tội nói chung
(cả bị can, bị cáo, người phạm tội và người bị kết án), còn biện
pháp tư pháp thay thế cho hình phạt (Điều 70 – BLHS năm 1999)
chỉ do Tòa án áp dụng và chỉ đối với người bị kết án nói riêng.
Thứ tư, mục đích của biện pháp tư pháp chỉ là nhằm hạn
chế chứ không tước đoạt quyền, tự do của người phạm tội. Trong
khi hình phạt có thể tước đoạt quyền nhân thân hoặc thậm chí là
tước đoạt tính mạng của người phạm tội thì các biện pháp tư
pháp chỉ có thể hạn chế một số quyền nhân thân của người phạm
tội, thậm chí có một số biện pháp tư pháp xét về mặt xã hội còn
mang lại lợi ích cho người phạm tội (như biện pháp bắt buộc
chữa bệnh, đưa vào trại giáo dưỡng). Ngoài ra, biện pháp tư pháp
còn nhằm mục đích hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt.
Thứ năm, biện pháp tư pháp được quy định trong pháp luật
hình sự và phải do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp

tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1.1.2.1. Khái niệm biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm
Trước đây và hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh phòng và
chống tội phạm là một trong những công việc quan trọng của
Nhà nước, của các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật và toàn
xã hội. Bên cạnh việc phát hiện tội phạm thì việc xử lý, trừng trị
tội phạm để hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho xã hội
do hành vi phạm tội gây ra, đồng thời ngăn chặn người phạm tội
phạm tội mới, răn đe những người trong xã hội không phạm tội
là việc làm không thể thiếu trong nhiệm vụ đấu tranh phòng và
chống tội phạm. Như vậy, việc nghiên cứu khái niệm biện pháp
tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.
BLHS năm 1985 gọi biện pháp này là “biện pháp tịch thu
vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm”, đến BLHS năm
1999 tên gọi của nó được sửa lại thành “biện pháp tịch thu vật,
tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm”. Thực ra, về bản chất, hai
tên gọi này không hề mâu thuẫn gì với nhau mà chỉ là sự sửa đổi
để nâng cao kỹ thuật lựa chọn ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong luật
phải đảm bảo tính nghiêm túc, khách quan, chính xác, dễ hiểu,
một nghĩa, tránh sử dụng từ ngữ tối nghĩa hoặc sai nghĩa, không
thể hiện đúng nội dung, gây ra những cách hiểu khác nhau. Việc
giải thích và sử dụng ngôn ngữ tránh dài dòng, mập mờ, đa
nghĩa, khó hiểu gây ra xung đột về nhận thức và thực hiện trong
thực tế. Ngôn ngữ trong luật phải đảm bảo tính phổ thông, thống
nhất, không được lạm dụng từ nước ngoài. Vì thế, việc sửa đổi
này là hoàn toàn hợp lý để tránh sự dài dòng không cần thiết.
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là biện
pháp tư pháp chung áp dụng cả với người đã thành niên và người

1.1.2.2. Đặc điểm của biện pháp tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm
Vì biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm là một biện pháp tư pháp nên nó có đầy đủ 06 (sáu) đặc
điểm cơ bản của biện pháp tư pháp, đó là:
Thứ nhất, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít
nghiêm khắc hơn hình phạt. Và hậu quả pháp lý của việc áp dụng
biện pháp này là người phạm tội không bị coi là có án tích (như
khi áp dụng hình phạt) nếu như biện pháp này được áp dụng độc
lập đối với người phạm tội mà không kèm theo hình phạt (Ví dụ:
khi người phạm tội được miễn hình phạt).
Thứ hai, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội, bởi
lẽ, nếu không có tội phạm thì cũng không thể có biện pháp tư
pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm
khắc hơn hình phạt.
Thứ ba, căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ
thể, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
có thể do các cơ quan tư pháp hình sự khác nhau có thẩm quyền
áp dụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) và đối
với người phạm tội nói chung (cả bị can, bị cáo, người phạm tội
và người bị kết án).
Thứ tư, mục đích của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm là hỗ trợ cho hình phạt.
Thứ năm, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự và phải do
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự
đặc biệt do LTTHS quy định.
Thứ sáu, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status