phân tích tầm quan trọng của các yếu tố trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Các nhà nước luôn dùng pháp luật để quản lý, duy trì và điều tiết các mối quan
hệ xã hội. Nhà nước ta cũng không phải là một ngoại lệ, nhà nước ta là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên pháp luật luôn được coi trọng. Tuy nhiên, trong xã
hội tốt đẹp của chúng ta lại có những lực lượng hay bộ phận dân cư chống lại Nhà
nước, chống lại pháp luật hoặc vì những lý do nào đó mà họ đã vi phạm pháp luật.
Và hiện nay, hiện tượng vi phạm pháp luật vẫn tiếp tục xảy ra một cách phổ biến
làm cho xã hội đáng lo ngại. Các phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, đài,
báo… luôn nhắc đến tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta.
Trong đó mức độ nguy hiểm của vi phạm pháp luật ngày càng cao làm cho
những cơ sở để đánh giá ngày càng trở nên cấp thiết. Những cơ sở này là căn cứ để
truy cứu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật. Vì thế dựa vào những
kiến thức lý luận của mình em xin phân tích tầm quan trọng của các yếu tố trong
việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật.
I – Khái niệm vi phạm pháp luật:
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các
mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định xã hội. Tính chất nguy hiểm của vi phạm
pháp luật thể hiện là nó đã xâm hại tới lợi ích hợp pháp của cá nhân nói riêng và
của toàn xã hội nói chung. Từ đó, mà vi phạm pháp luật được định nghĩa như sau:
“Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”.
Tuy nhiên, khi nhắc hành vi của chủ thể là tổ chức có thể được tội phạm hoá,
đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khả năng gây thiệt hại cho xã hội do vi phạm
pháp luật của các tổ chức ngày càng lớn và cần được hình sự hoá. Do vậy ta có thể
hiểu vi phạm pháp luật một cách cụ thể như sau:
“ Vi phạm phát luật là hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình”.
II – Các cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp
luật.
Nhìn chung, để đánh giá một mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp

nhiệm pháp lý càng lớn và mức độ nguy hiểm càng cao . Ví dụ như cùng một hành
vi dùng dao đâm vào người khác nhưng người A chỉ đâm vào tay khiến người bị
hại chỉ bị thương, còn người B lại đâm vào tim của người bi hại khiến cho người
này chết thì mức độ nguy hiểm của hành vi do người B gây ra là lớn hơn rất nhiều
so với người A.
Ngoài ra nếu hậu quả càng nhiều thì mức độ nguy hiểm càng nghiêm trọng.
Chẳng hạn, một người thực hiện hành vi trộm cắp bị phát hiện, người này muốn
chạy thoát nên đã giết chết một người và hành vi của một tên khủng bố đặt bom
làm chết rất nhiều người thì hành vi vi phạm pháp luật của tên khủng bố là có mức
độ nguy hiểm hơn hành vi do tên trộm gây ra.
Tuy nhiên, nhiều khi có những vi phạm chỉ có hành vi trái pháp luật mà
chưa gây ra thiệt hại thực tế. Hậu quả ở đây chỉ dừng lại ở nguy cơ gây hại. Ở đây
mức độ nguy hiểm của hành vi vẫn được thể hiện dưới nguy cơ tiềm tàng. Nhưng
để đảm bảo trật tư, tính nghiêm minh của pháp luật và uy quyền của nhà nước thì
những hành vi này vẫn bị xử lý.
II.1.2 – Hành vi trái pháp luật.
Trước hêt, ta định nghĩa “ hành vi trái pháp luật là hành vi làm ngược lạii hoặc
làm không đúng những quy định của pháp luật thể hiên ở chỗ làm không đúng điều
luật cho phép ( vượt quyền); không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật
buộc phải làm; làm điều pháp luật cấm.
Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật là dấu hiệu bắt buộc của mọi vi phạm
pháp luật. Hành vi trái pháp luật được xác định dựa vào tính chất biến đổi của quan
hệ xã hội bị tác động. Hành vi trái
pháp luật càng có kết cấu, cơ chế phức tạp thì khả năng gây hại và mức độ nguy
hiểm của nó càng cao. Ví dụ: Một chủ thể thực hiện hành vi giết người có chủ định
bằng cách anh lẻn vào bệnh viện nơi người anh ta cần giết điều trị và tẩm độc vào
trai nước đang truyền. Do đã đề phòng để không bị phát hiện hoặc không thành
công nên cá nhân thực hiện hành vi giết người này đã thực hiện thêm một hành vi
nữa là y đã tăng tốc độ truyền của chai nước truyền khiến cho người này chết
nhanh chóng hơn.

trong trường hợp dùng lựu đạn để đánh bắt cá thì mức độ nguy hiểm nhẹ hơn khi
dùng lựu đạn đặt vào toà nhà quốc hội.
Nếu hành vi trái pháp luật được thực hiện trong điều kiện thuận lợi thì chủ
thể vi phạm có thể nhận thức được nó, chủ động tạo ra hay lợi dụng để vi phạm thì
hành vi này có tính nguy hiểm cao hơn và thường thì hành vi xảy ra trong điều kiện
này là có sự chủ động, chuẩn bị từ trước, do đó khả năng gây thiệt hai sẽ cao hơn,
đồng thời hành vi che giấu vi phạm pháp luật sẽ được thực hiện rõ rằng hơn. Ví dụ:
Một nhóm người thực hiện hành vi cướp ngân hàng trong điều kiện ngân hàng
không có lực lượng an ninh bảo vệ thì hành vi vi phạm của nhóm người này sẽ
được thực hiện một cách nhanh chóng và mức độ thiệt hại của ngân hàng sẽ nặng
nề hơn là khi có lực lượng an ninh bảo vệ trong ngân hàng.
Mặt khác, khi hành vi trài pháp luật được thực hiện với những công cụ và
phương tiên khác nhau thì mức độ nguy hiểm cũng sẽ khác nhau. Ví dụ: Thực hiên
hành vi giết người nếu sử dụng công cụ là súng ngắn thì mức độ nguy hiểm là cao
hơn khi ta sử dụng tay không.
II.2 – Khách thể của vi phạm pháp luật .
Ta định nghĩa “ khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ nhưng bị những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại”.
Trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của vi phạm pháp luật thì việc xác
định được khách thể vi phạm đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi lẽ khi xác định
được khách thể đó bị xâm phạm nhiều hay ít thì trách nhiệm pháp lý hay mức độ
nguy hiểm tương ứng với hành vi xâm hại.Ví dụ: Cùng phạm tội trộm cắp tài sản,
nếu trong hai vụ án có cùng các tình tiết khác như nhau, nhưng trong vụ án thứ
nhất M trộm cắp tài sản có giá trị 450.000 đồng, còn trong vụ án thứ hai N trộm
cắp tài sản có giá trị 195 triệu đồng, thì tuy cùng áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138
BLHS để xử phạt các bị cáo, song cần phải quyết định hình phạt đối với N nặng
hơn M. Cụ thể là M chỉ bị xử phạt hành chính còn N bị truy cứu trách nhiệm hình
sự.
Khách thể của vi phạm pháp luật được xác định qua đối tượng mà hành vi vi
phạm tác động tới. Tuy nhiên, không phải cứ đối tượng tác động giống nhau thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status