I. LỜI MỞ ĐẦU
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống
xã hội, làm mất ổn định xã hội. Một vi phạm pháp luật được nhận diện, đánh giá và là cơ sở
để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ có cấu thành cơ bản xác định.Nó bao gồm các yếu
tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật. Thiếu một
trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế. Việc xác
định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý,nhờ đó mà tìm
ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý
tương ứng, tìm ra nguyên nhân của vi phạm pháp luật, và còn đánh giá được mức độ nguy
hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp
luật thể hiện ở chỗ nó xâm hại tới lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, nhà
nước cũng như của toàn xã hội. Vì vậy mà ta có thể thấy việc phân tích các yếu tố làm cơ sở
để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng.
II. NỘI DUNG
1.Khái niệm: “ Hành vi” và “ Vi phạm pháp luật”Hành vi là xử sự của con người trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra thế giới
khách quan bằng lời nói, thao tác,cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những thao tác,
cử chỉ, lời nói nào đó. Và hành vi phải là xử sự có sự kiểm soát của ý chí và lý trí của những
người có ý thức cùng với thể trạng tâm thần bình thường.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp
lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
2.Các yếu tố làm cơ sở đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
pháp luật: Yếu tố thứ nhất: Mặt khách quan của vi phạm pháp luật Mặt khách quan của vi phạm pháp
luật là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật.Nó bao
gồm: hành vi trái pháp luật, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và
hậu quả, địa điểm, phương tiện và công cụ, phương tiện vi phạm.
+ Hành vi trái pháp luật
Là những xử sự của con người không phù hợp với các quy định của pháp luật.
Thông thường, hậu quả càng lớn thì sự tác động của hành vi nên lên các quan hệ xã hội
mạnh mẽ và chứng tỏ tính nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
Hành vi vi phạm càng có kết cấu, cơ chế phức tạp thì khả năng gây hại cho nó càng cao, do
đó nhiều khi thiệt hại thực tế xảy ra nhưng đã phải xác định tính nguy hiểm của nó. Ví dụ:
phản bội Tổ quốc( Điều 78 Bộ luật hình sự năm 1999)chỉ được mô hình hóa ở cấp độ hoạt
động (hoạt động câu kết vơi nước ngoài nhằm gây hại cho độc lập, chủ quyền… của Tổ
quốc)
+ Hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật:
Là sự thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội.
Chúng ta đã biết bằng xâm hại các hành vi xã hội, vi phạm pháp luật làm biến đổi trạng thái
bình thường của các quan hệ xã hội, phá vỡ sự ổn định của đời sống xã hội, gây ra những
tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho xã hội. Bất cứ hành vi nào cũng có thể gây ra hoặc
đe dọa gây ra những hậu quả nhất định.
Hậu quả của hành vi trái pháp luật là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi trái pháp luật. Vì : Hậu quả có thê là hậu quả lớn hay nhỏ, nhiều hay ít.
Và hậu quả của vi phạm pháp luật được biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường
của các quan hệ xã hội bị xâm phạm.Nó có thể là những thiệt hại cụ thể có thể cân đo, đong
đếm(định lượng) được như tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản của cá nhân, tổ
chức…Nó cũng có thể là những thiệt hại trừu tượng không thể định lượng được và chỉ có chỉ
có thể định tính được, như nhân phẩm, danh dự của con người, uy tín của tổ chức, sự biến
biến dạng hành vi của con người…
Ví dụ: Ông Dương Văn A và ông Nguyễn đã mâu thuẫn tranh chấp về đất đai. Ông Dương
Văn A bị thua kiện và ông đã cầm dao chém ông Nguyễn.Hậu quả là ông Nguyễn chết.
Hậu quả gây chết người ở đây khác với hậu quả trong tình huống Ông Dương Văn A cũng
cầm dao nhưng việc cầm dao thường xuyên đe dọa và có những hành động xúc phạm đến
nhân phẩm của ông Nguyễn và làm cho ông Nguyễn sợ hãi và có vấn đề về đầu óc.
Vậy hậu quả của hành vi trái pháp luật gây ra là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật.
+Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả:
Trong mối quan hệ nhân quả giưa hành vi và hậu quả, hành vi với tư cách là nguyên nhân
phải là cái gây ra những biến dạng cho các quan hệ xã hội mà nó tác động tới. Theo đó hậu
quả không thể nhiều hơn kết quả của sự tác động. Nói đến mối quán hệ này, ít nhiều ta thấy
sự liên quan của nó đến sự xác định lỗi( vơí hành vi và hậu quả) rồi động cơ và mục đích
trong mặt chủ quan của vi phạm pháp luật. Có nhiều khi thiệt hại xảy ra trong thực tế còn
Ví dụ 1: theo điều thứ 78 “ tội phản bội tổ quốc” Bộ luật hình sự năm 1999
1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây cho độc lập thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc , lực lượng quốc phòng , chế độ xã hội chủ nghĩa và nhà nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ hai năm đến hai mươi năm, tù chung
thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì phạt tù từ bảy năm đến mười
lăm năm.
Ví du2: Cùng là hành vi trộm cắp, khách thể bị xâm hại ở đây là quyền tài sản của công
dân(hay tập thể hoặc Nhà nước…) nhưng giá trị tài sản dưới 500000đ thì chỉ bị xử phạt hành
chính nếu không phải là tái phạm, còn từ 500000đ trở lên thì nị truy cứu trách nhiệm hình
sự.
- Yếu tố thứ 3: Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi
phạm pháp luật. Bao gồm : Lỗi, động cơ, mục đích vi phạm.
3 yếu tố: lỗi , động cơ, mục đích có những giá trị khác nhau nhất định để xác định trách
nhiệm pháp lý, trong đó lỗi là yếu tố quan trong hàng đầu cần được xem xét kỹ hơn.
+, Lỗi :
Được hiểu là thái độ( hoặc trạng thái) tâm lý của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của nó
tại thời điểm thực hiện hành vi.
Lỗi thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội trong hành vi trái pháp luật của mình
và hậu quả của mình và hậu quả của hành vi đó. Chủ thể bị coi là có thái độ tiêu cực đối với
xã hội khi họ có ý thức phủ định lợi ích xã hội, đi ngược lại lợi ích xã hội. Dựa vào thái độ
của chủ thể đối với hành vi và hậu quả cảu nó, lỗi được chia thành 2 loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý
. Cần phân biệt nỗi cố ý và vô ý. Vì việc phân biệt này có ý nghĩa rất lớn đối với khả năng
phải chịu trách nhiệm pháp lý về hậu quả do hành vi vi phạm gây ra vì nó nó được coi là “
Thước đo trách nhiệm pháp lý”.
Ỏ cùng một loại tội thì lỗi cố ý và lỗi vô ý có mức độ nguy hiểm khác nhau.
Khái niệm : “ Lỗi cố ý” và “Lỗi vô ý”:
đòi hỏi chúng ta là dấu hiệu bắt buộc. Động cơ và mục đích của người vi phạm cũng có thể
làm tăng lên hay làm giảm đi tính chất nguy hiểm của hành vi.
- Yếu tố 4: Chủ thể của vi phạm pháp luật.
Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý đã
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân được xác định trên cơ sở độ tuổi và khả năng
nhận thức điều khiển hành vi của họ.
Chủ thể của vi phạm pháp luật là một yếu tố không thể thiếu để đánh giá mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật.
Để đánh giá được chủ thể với tư cách là một bộ phận cấu thành của vi phạm pháp luật cần
phải căn cứ vào những tiêu chí cơ bản theo thứ tự sau : Lứa tuổi , khả năng nhận thức, điều
kiện và môi trường xã hội, địa vị xã hội , những yếu tố nhân thân khác của chủ thể vi phạm.
+, Về lứa tuổi :
Lứa tuổi là yếu tố làm cơ sở đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Ví
dụ: Trong bộ luật hình sự năm 1999, do tính chất của các hành vi cần phải được phân hoá
chính xác hơn. Nên độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội
rất nghiêm trọng với lỗi cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng… Thực ra việc quy định đó xuất
phát từ khả năng về nhận thức và điều khiển hành vi một cách rõ rang hơn và cũng từ đó
khả năng gánh chịu về hậu quả cũng được xác định chính xác cho chủ thể thực hiện hành
vi.
+, Địa vị xã hội:Do địa vị xã hội của các chủ thể không giống nhau mà tính chất của các vi
phạm do họ thực hiện cũng khác nhau, cũng vì vậy mà năng lực trách nhiệm pháp lý của
các chủ thể theo địa vị xã hội cũng phải có sự phân hoá. Thông thường, người có địa vị xã
hội thấp mà vi phạm thì hậu quả ( theo cả nghĩa rộng và hẹp) sẽ bị hạn chế hơn và mang
tính cục bộ, ngược lại, người có địa vị xã hội cao thực hiện thì hậu qảu thường rất lớn, rất
nghiêm trọng. Thực tế khi xét xử các vụ vi phạm nhất là về kinh tế thì hậu quả do những
người có chức quyền thực hiện thường rất lớn, nhất là những hậu quả thường có tính chất
“trừu tượng” mà họ gây ra cho trật tự xã hội. Những chủ thể vi phạm mà có địa vị xã hội