Bài giảng Luật hình sự Việt Nam-Chương 6 Mặt khách quan của tội phạm - Pdf 26

ChơngVI:Mặt khách quan của tội phạm
1. Khái niệm và ý nghĩa

Nếu coi tội phạm là một quá trình thì quá trình đó diễn
ra theo sơ đồ sau:

ý định phạm tội
-
Suy nghĩ về thủ đoạn PT
-
Chọn KT để xâm hại
-
Chọn công cụ, ph ơng tiện
để phạm tội
Thực hiện tội phạm
-
Tiếp cận mục tiêu
-
Thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội
-
Làm phát sinh hậu quả
Tồn tại trong lĩnh vực ý thức
Tồn tại trên thực tế khách quan

Nh vậy, bất cứ tội phạm nào xảy ra cũng có những biểu
hiện ra hoặc tồn tại ở bên ngoài thế giới khách quan mà
con ng ời có thể nhận biết đ ợc bằng trực giác hoặc bằng
t duy logic

Những biểu hiện hay tồn tại đó đ ợc coi là khách quan

CTTP nhất định, có thể là CTTP CB hoặc CTTP TN

ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu MKQ của tội phạm.

Trong định tội: Việc xác định một hành vi cụ thể có CTTP
hay không th ờng đ ợc bắt đầu bằng việc nghiên cứu MKQ;

Việc nghiên cứu MKQ của tội cho thấy những tình tiết
khách quan có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt (hậu
quả, ph ơng tiện, công cụ thủ đoạn )

Trong số những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS có
những tình tiết thuộc MKQ của TP do đó, nghiên cứu MKQ
có ý nghĩa trong đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội và trong việc xác định mức độ TNHS của ng ời có
hành vi đó

Trong nhiều tr ờng hợp dựa vào MKQ còn xác định đ ợc
MCQ, xác định đ ợc hình thức và mức độ lỗi của tội phạm
2. Hành vi (HV) khách quan của tội phạm
2.1. Khái niệm

Trong MKQ của TP, HV khách quan là biểu hiện cơ
bản. Nh ng tình tiết khác của MKQ chỉ có ý nghĩa khi
có HV khách quan:

Hậu quả và những biểu hiện khác của MKQ

Lỗi, động cơ, mục đích phạm tội trong MCQ


đó là hành vi có ý thức và có ý chí, tức là hành vi đó đ ợc
thực hiện có sự kiểm soát bởi ý thức và sự điều khiển
bởi ý chí.

Không thể coi một HV khách quan là hành vi phạm tội
nếu hành vi ấy đ ợc thực hiện không phải là kết quả hoạt
động của ý chí. Đó là những HV không có chủ định
hoặc là xử sự khi bộ não mất khả năng kiểm tra, điều
khiển mặt thực tế của HV do rối loạn ý thức.

Những xử sự là kết quả trực tiếp của sức mạnh bên
ngoài thì không coi là hành vi khách quan. Đây là tr ờng
hợp gây ra thiệt hại do bị c ỡng bức về thân thể.

HV khách quan phải là hành vi trái pháp luật hình sự

HV đã thực hiện chỉ đ ợc coi là hành vi khách quan của
tội phạm nếu nó thoả mãn đầy đủ những đặc điểm của
HV khách quan của tội phạm cụ thể đ ợc quy định trong
LHS. Hành vi đó có tính trái PLHS.
2.2. Hình thức thể hiện của HV

Hành vi khách quan đ ợc thể hiện bằng hành động hoặc
bằng không hành động
2.2.1. Hành động (HĐ) phạm tội

HĐ phạm tội là hình thức của HV khách quan làm biến
đổi tình trạng bình th ờng của ĐTTĐ của TP gây thiệt
hại cho KT của TP qua việc chủ thể đã làm một việc mà
pháp luật cấm làm

Nghĩa vụ có thể do LHS quy định

Nghĩa vụ cũng có thể do các ngành luật khác quy định

Nghĩa vụ phát sinh do quyết định của cơ quan Nhà n ớc
có thẩm quyền

Nghĩa vụ phát sinh do nghề nghiệp

Nghĩa vụ phát sinh do hợp đồng: Đây là tr ờng hợp
chủ thể đã tham gia ký kết hợp đồng và nghĩa vụ
phát sinh do hợp đồng ấy

Nghĩa vụ phát sinh do xử sự tr ớc đó của chủ thể:
Đây là tr ờng hợp chủ thể đã gây ra thiệt hại và
nghĩa vụ đặt ra là chủ thể phải hành động để ngăn
chặn hậu quả.

Chủ thể phải có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ
Tóm lại: Để buộc một ng ời phải chịu TNHS về
hành vi KHĐ phạm tội cần có 2 điều kiện:
(i) Chủ thể có nghĩa vụ phải làm một việc;
(ii) Chủ thể có điều kiện để làm việc đó
2.3. Các dạng cấu trúc đặc biệt của HV khách quan

Xét về mặt cấu trúc, HV khách quan xảy ra trên thực tế
có thể là:

Bao gồm 1 loại HV;


Ví dụ: Tội tàng trữ vũ khí quân dụng (Điều 230 BLHS)

Vẫn tiếp tục TTBắt đầu tàng trữ Tiếp tục tàng trữ Vẫn còn TT
2.3.3. Tội liên tục

Tội liên tục là tội phạm mà HV khách quan bao gồm
nhiều HV cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời
gian, xâm hại cùng một khách thể và đều bị chi phối bởi
ý định phạm tội thống nhất.

07/08 lấy cắp 2 triệu VND
12/08 lấy cắp 500 USD
19/08 lấy cắp 3 cây vàng
05/08 lấy cắp 50.000VND
Sở hữu
3. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
3.1. Khái niệm

Tính nguy hiểm cho XH của HV thể hiện ở chỗ nó gây
ra thiệt hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho các QHXH đ
ợc LHS bảo vệ. Thiệt hại đó là hậu quả (HQ) của tội
phạm

HQ của tội phạm là những thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra cho QHXH đ ợc LHS bảo vệ.

Thiệt hại gây ra cho KT của TP đ ợc thể hiện qua sự biến
đổi trạng thái bình th ờng của ĐTTĐ. Tính chất và mức
độ thiệt hại đ ợc xác định bởi tính chất, mức độ của sự
biến đổi của ĐTTĐ của tội phạm, bởi những đặc điểm

gọi là thiệt hại về vật chất.

Sự biến đổi trạng thái bình th ờng của ĐTTĐ có thể
là sự biến dạng xử sự của con ng ời. HV khách
quan có thể làm biến dạng hành vi của chính chủ
thể hoặc của ng ời khác

Tóm lại: HQ của TP thể hiện d ới các dạng sau: (i)
thiệt hại về vật chất; (ii) thiệt hại về thể chất; (iii)
thiệt hại về tinh thần và (iv) các biến đổi khác
3.2. ý nghĩa của HQ

Đối với các tội phạm có cấu thành vật chất việc xác định
HQ có ý nghĩa về mặt định tội

Đối với các tr ờng hợp CTTP TN mà trong đó có dấu
hiệu HQ đ ợc phản ánh thì việc xác định HQ có ý nghĩa
đối với việc định khung hình phạt

HQ có thể là căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm của
hành vi

HQ có thể là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS
(có ý nghĩa khi quyết định hình phạt)
4. Mối quan hệ nhân quả giữa HV và HQ
4.1. Khái niệm về mối quan hệ nhân quả

Một sự vật hay hiện t ợng trong quá trình vận động
làm phát sinh ra sự vật hay hiện t ợng khác thì hai sự
vật, hiện t ợng đó có mối quan hệ với nhau, đó là mối

khả năng tồn tại mối QHNQ.

HV nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự
độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với những
hiện t ợng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm
phát sinh HQ nguy hiểm cho xã hội.

Khả năng có thể là trực tiếp, cũng có thể là sự tác
động để sự biến đổi tiếp tục diễn ra

Coi là có khả năng thực tế làm phát sinh HQ nguy
hiểm nếu trong hành vi là nguyên nhân đã chứa
đựng sẵn mầm mống làm phát sinh HQ.

HQ nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực
hoá khả năng thực tế làm phát sinh HQ từ hành vi
nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự

Khả năng thực tế là sự thể hiện mối quan hệ tất nhiên,
nghĩa là trong một điều kiện nhất định, một loại hành
vi nguy hiểm cụ thể nào đó sẽ làm phát sinh hậu quả
nào đó mà không thể là hậu quả khác.

Trong thực tiễn xét xử đòi hỏi phải kiểm tra căn cứ
này vì rất có thể HV nào đó đã chứa dựng khả năng
làm phát sinh HQ, nh ng HQ đã xảy ra lại không phải
do HV đó mà là có HV khác đã thế vào làm phát sinh
HQ ấy.
4.3.Các dạng của mối QHNQ


Đối với các tội phạm có cấu thành hình thức, mối
QHNQ không phải là dấu hiệu bắt buộc nên nếu HQ
xảy ra trên thực tế thì cần phải xác định vì nó sẽ có ý
nghĩa trong l ợng hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status