Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS - Pdf 57

“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy có
thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

MÃ SKKN
(Dùng cho HĐ chấm của Sở)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số kinh nghiệm thực hiện thành công các thí nghiệm
trong giảng dạy môn hóa học ở trường THCS”
Môn: Hóa học
Cấp học: THCS

NĂM HỌC: 2016- 2017

1


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy có
thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
MỤC LỤC
MỤC LỤC

2


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận.

thí nghiệm và phạm vi rộng rãi trong toàn xã hội.

3 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
Ngoài ra, thí nghiệm còn có tác dụng kiểm tra giả thuyết, giúp học
sinh phát triển tư duy, thế giới quan duy vật biện chứng, giúp hình thành
đức tính tốt của người lao động mới: thận trọng, ngăn nắp, lịch sự, gọn
gàng…
1.2. Cơ sở thực tiễn: Thực trạng trường THCS
1.2.1.Thuận lợi
- Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
đang được Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân quan tâm, đầu tư cho giáo
dục.
- Chương trình sách giáo khoa hóa học có nhiều tiết học có thí
nghiệm; số lượng các bài thực hành tăng lên tạo điều kiện cho học sinh tiếp
thu, lĩnh hội kiến thức được chắc chắn. Đồng thời còn rèn luyện cho các
em các thao tác, kĩ năng cơ bản trong việc nghiên cứu khoa học: chính xác,
tỉ mỉ, cẩn thận, chịu khó tìm tòi...
- Ban lãnh đạo của nhà trường, Phòng giáo dục luôn tạo mọi điều
kiện, động viên để giáo viên có thể thực hiện tốt công việc chuẩn bị và
thực hiện các thí nghiệm trong các giờ.
1.2.2. Khó khăn
Trong thực tế, tâm lí của đa số giáo viên không muốn làm thí
nghiệm, thậm chí sợ làm thí nghiệm hoạc cố gắng tiến hành như SGK đã
nêu là tốt lắm rồi. điều này lại hoàn toàn trái ngược với tâm lí của học sinh.
Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dạy học bộ môn. Qua
thực tế bản than có trao đổi với đồng nghiệp thấy rằng. Lí do cơ sở vật chất

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Làm thế nào để thực hiện thành công các thí nghiệm trong các tiết dạy
thực hành – thí nghiệm ở bộ môn hóa học THCS.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các biện pháp xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy có thí nghiệm
hóa học có hiệu quả ở trường THCS
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh các khối 8,9 trường THCS.
5. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
5.1. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu những biện pháp để xây dựng các tiết thực hành,các tiết dạy có
thí nghiệm trong giảng dạy môn hóa ở trường THCS.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp tổng quan.
- Dựa trên một số tài liệu về phương pháp đổi mới, đồng thời dự giờ
thăm lớp của các đồng nghiệp để trao đổi học hỏi và nắm bắt tình hình.
- Dựa vào cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân về vấn đề “ Thí
nghiệm và phương pháp giảng dạy Hoá học 8,9”.
5.2.2. Phương pháp đối chứng.
- Dạy bài 24 “ Tính chất của oxi – Tiết 1” ở 2 lớp 8A1 và 8A2, từ đó
có biện pháp kiểm tra các em của 2 lớp, thống kê kết quả để đánh giá, nhận
xét về việc nắm bắt, lĩnh hội của học sinh theo các phương pháp dạy khác
nhau của giáo viên. Phương pháp dạy truyền thống – không sử dụng thí
5 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
nghiệm, và phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh – có sử
dụng thí nghiệm. Lập bảng số liệu đạt được.

Khi làm việc với chất độc hại phải có biện pháp bảo hiểm. Không
dùng quá liều lương hoá chất dễ gây cháy, nổ.
Với thí nghiệm tạo ra các khí độ cần tiến hành tỏng tủ phòng hoặc
cuối gió để tránh tạt khí về phía học sinh.
b. Đảm bảo độ chính xác của thí nghiệm.
Kết quả thí nghiệm tác động trực tiếp đến chất lượng dạy - học và
củng cố niềm tin của học sinh vào khoa học. Muốn vậy, giáo viên phải có
kiến thức, đồng thời có kĩ năng thao tác chuẩn xác. Phải tiến hành nhiều
lần trước khi đến lớp.
Nếu thí nghiệm không thành công, giáo viên phải bình tĩnh, kiểm tra
lại các bước tiến hành, tìm nguyên nhân và giải thích cho học sinh.
c. Đảm bảo tính trực quan.
Để đảm bảo yêu cầu này, giáo viên cần lực chọn các dụng cụ, sử
dụng hoá chất hợp lí. Dụng cụ có kích thước đảm bảo cho học sinh quan
sát rõ. Bàn tiến hành thí nghiệm của giáo viên phải có độ cao nhất đinh,
các dụng cụ chưa dùng hay đã dùng cần ngăn nắp theo một trật tự nhất
định.
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng thí nghiệm thì giáo viên cần chú ý
những nội dung sau đây:

7 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
+ Trong một bài, giáo viên nên chọn số lượng thí nghiệm vừa phải,
chủ yếu phục vụ cho kiến thức trọng tâm trong bài.
+ Với thí nghiệm mà mục đích là qua thí nghiệm đó rút ra được kết
luận chung về kiến thức thì nên dùng hoá chất mà học sinh quen biết. Với
thí nghiệm tìm tính chất của chất thì giáo viên nên kiểm tra hoá chất trước

8 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
Giáo viên cần dành thời gian cho học sinh hoàn thành bản tường trình, qua
đó đánh giá được kết quả làm việc của từng nhóm học sinh.
1.1. 3. Đối với thí nghiệm trong các tiết thực hành.
Điều cần thiết tiên quyết là sự chuẩn bị của GV, GV phải chuẩn bị cho
tiết TNTH trước đó ít nhất một tuần.
a.Chuẩn bị phòng thí nghiệm
Mục đích của các thí nghiệm này là: Qua các thí nghiệm mà học
sinh hoàn thiện các kiến thức nhằm minh hoạ, ôn tập, củng cố kiến thức đã
học và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo...
Ngoài bảng nội qui phòng thực hành, GV cần chuẩn bị thêm bảng lưu ý
an toàn trong khi làm thí nghiệm ví dụ như cẩn thận không làm vây axit,
xút vào quần áo,da, một số chất độc như brôm, benzen, sản phẩm khí rất
độc như clo, lưu huỳnh đioxit…Nếu được có thể chuẩn bị thêm bảng danh
mục các dụng cụ, hóa chất cần thiết cho buổi TH (hoặc viết ra giấy khổ A4
pho to cho mỗi nhóm 1 bảng) nhằm giúp các nhóm dễ kiểm tra và bảo
quản dụng cụ.
b.Dụng cụ – Hóa chất
GV đọc trước nội dung bài TH, chuẩn bị cho tất cả các nhóm theo số
lượng HS những dụng cụ hóa chất có sẵn, trang bị thên những dụng cụ,
hóa chất tự tìm trong điều kiện cho phép sao cho vẫn đáp ứng yêu cầu nội
dung của bài.
Điều quan trọng là GV trực tiếp thử tiến hành nhiều lần đến khi thành
công và thuần thục. GV tự đặt mình ở trình độ HS để lường trước những
tình huống do kết quả TN gây ra, ví dụ như thử lấy hơi dư luợong chất này,
thiếu lượng chất kia ( mặc dù qui định lấy đúng liều lượng hóa chất là 1

Những thao tác đó rất nhỏ nhặt, rất đơn giản nhưng nếu mà người giáo
viên không để ý rất có thể mắc vào lỗi thao tác trong thí nghiệm Hoá học.
Sau đây tôi xin giới thiệu một số thao tác cơ bản khi tiến hành thí nghiệm
thường hay gặp.
( Có hình minh hoạ)
(1). Khi châm đèn cồn không được châm từ ngọn lửa của đèn này
sang đèn khác. Khi tắt đèn không thổi mà phải dùng nắp của đèn đậy lại
và lấy tối đa 1/3 lượng cồn vào đèn.
(2). Cách châm đèn dầu hoả cải tiến.
(3). Cách đun chất lỏng trong ống nghiệm: Không trực tiếp cầm tay
đun. Khi đun cần nung nóng đều ống nghiệm sau đó tập trung hơ nóng
phần có hoá chất.
(4). Cách đun chất lỏng trong cốc thuỷ tinh (không trực tiếp đứng
quá gần cốc thuỷ tinh, không trực tiếp ngửi hoá chất).
(5). Cách đun chất rắn trong ống nghiệm: Hơ nóng đều ống
nghiệm,sau đó đun tập trung tại phần chứa chất rắn.Lưu ý đốt ống nghiệm
ở 1/3 ngọn lửả tính từ trên xuống
(6). Cách pha loãng trong dung dịch axit sunfuric H2SO4: Không
trực tiếp đổ hoá chất từ lọ đựng hoá chất mà phải dùng công tơ hút lấy hoá
chất. Không đổ nước vào dung dịch axit sunfuric.
(7). Cách lấy hoá chất rắn: dùng muỗng thuỷ tinh lấy, không trực
tiếp dùng tay lấy hoá chất,lấy tối đa 1/3 lượng hóa chất trong ống nghiệm.
(8). Cách trộn chất lỏng trong ống nghiệm: Chú ý lắc ống nghiệm
ngang chứ không được lắc ống nghiệm theo chiều từ trên xuống dưới.
10 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
(9). Cách rót chất lỏng vào ống nghiệm.:dùng ống đong lấy, không

làm rõ ràng, hợp lí giưã các HS trong một nhóm.
-Cuối giờ thực hành, mỗi HS phải hoàn chỉnh bảng tường trình TN. Nội
dung bảng tường trình bao gồm các nội dung sau đây:
+Tên thí nghiệm.
+Mô tả cách tiến hành TN.
11 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
+Mô tả hiện tượng đã quan sát được – Nhận xét.
+Giải thích và kết luận – Viết PTHH có liên quan.
Sau cùng, GV hướng dẫn HS rửa sạch các dụng cụ TN, sắp xếp ngăn nắp
các hóa chất và dụng cụ vào nơi qui định, quét dọn phòng thực hành
2.Nội dung và cách tiến hành
2.1. Cách tiền hành các thí nghiệm trong các nghiên cứu bài mới
Qua mấy năm giảng dạy Hóa 8,9, bản thân đã đúc kết được 1 số bài học
nhỏ giúp có hiệu quả hơn trong điều kiện thực tế của trường. Sau đây tôi
xin chi tiết 1 vài thí nghiệm đáng quan tâm:
- Việc giảng dạy cụ thể bài “ Tính chất của oxi – Tiết 1” là một trong
những dạng bài điển hình, thể hiện vai trò của thí nghiệm trong việc truyền
thụ kiến thức cho học sinh bằng phương pháp trực quan.
Trong bài sử dụng hoá chất, thí nghiệm để nêu vấn đề cho học sinh.
Qua thí nghiệm của giáo viên mà học sinh tự nhìn nhận và giải quyết vấn
đề và lĩnh hội kiến thức. Bài này có nội dung kiến thức quan trọng, song
lượng kiến thức đó lại chủ yếu được chốt lại sau các hoạt động quan sát oxi
và giải thích thí nghiệm biểu diễn của giáo viên để rút ra được tính chất vật
lí và một phần tính chất hoá học của oxi.
Nếu giảng dạy theo phương pháp mà không sử dụng các thí nghiệm
thì hiệu quả giảng dạy không cao, giáo viên đưa ra một loạt câu hỏi như:

lọ rồi cho nước vào.
-Bài 14 “ Thực hành – Tính chất hóa học của bazơ và muối” đây là
bài học sinh khó hình dung nhất, dễ mắc phải sai lầm do điều kiện để phản
ứng xảy ra (các chất tham gia phản ứng phải tan vào nhau, sản phẩm phải
có chất không tan ( kết tủa) hoặc chất khí (bay hơi)). Do vậy việc củng cố,
khắc sâu kiến thức bằng những TN trong bài, giáo viên cần tổ chức đan
xen thêm những TN tương tự và đối chứng. Ví dụ, trong TN1 “ Natri
hiđrôxit tác dụng với muối”, ngoài thí nghiệm NaOH + FeCl3, giáo viên bổ
sung thêm TN NaOH + CuSO 4 và NaOH + K2CO3; trong TN2, giáo viên
sử dụng Fe( OH)3 và Cu( OH)2 thu được ở TN1 đỡ mất thời gian điều chế
Cu(OH)2; TN4: “ Bari clorua tác dụng với muối”, giáo viên chọn 3 TN
sau:BaCl2+Na2SO4, BaCl2 + Na2CO3, BaCl2 + KNO3; đến TN5 “Bari clorua
tác dụng với axit” GV cho HS tiến hành các TN sau: BaCl2 + H2SO4,
BaCl2 + HNO3, BaCl2 + HCl. Đến cuối giờ, đề nghị học sinh khẳng định lại
điều kiện xảy ra phản ứng trao đổi, học sinh sẽ nắm chắc hơn và nhớ lâu
hơn.
-Bài 43: “ Thực hành – Tính chất của Hiđrô cácbon” Đối với TN1 và
TN2, có sử dụng đất đèn để tạo ra khí Axêtilen, do vậy giáo viên nên
hướng dẫn học sinh tiến hành đồng thời liên tiếp 3 thí nghiệm: thu khí
Axêtilen bằng cách đẩy nước, rồi dẫn dòng khí axetilen vào dung dịch
Brôm (Chú ý dung dịch Brôm cần pha thật loãng thì kết quả xảy ra nhanh
chóng) và cuối cùng đốt cháy axêtilen. Muốn thành công tuyệt đối, giáo
viên hướng dẫn học sinh thật cụ thể, học sinh phân công việc kèm hợp lí.
Giáo viên ước lượng đất đèn vừa đủ cho cả 3 TN, tốt nhất nên sử dụng bộ
dụng cụ điều chế chất khí từ chất rắn và chất lỏng, không nên sử dụng ống
nghiệm có nhánh như SGK. Hướng dẫn tiến hành xong, để tránh sản phẩm
thừa gây mùi khó chịu nên cho các nhóm mang toàn bộ dụng cụ ra khỏi
phòng thực hành, rồi tiếp tục tiết học.

13 / 31

nhóm học sinh , khi đốt phot pho đỏ nếu khói P2O5 bay ra dễ gây ô
nhiễm , học sinh có thể bị ho , sặc. Khói P2O5 có màu trắng dễ gây mờ
ống thủy tinh dẫn đến học sinh khó quan sát mức nước dâng lên đúng
vạch . bên cạnh đó nếu giáo viên tiến hành thí nghiệm theo nhóm trong
nhiều lớp , qua nhiều năm sẽ gây tốn kém photpho . Với những khó khăn
trên trong những năm qua tôi đã có 1 sáng kiến, nhằm cải tiến thí nghiệm
để đme lại hiệu quả thiết thực. Cụ thể :

14 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
a. Dụng cụ thí nghiệm
- Cốc thủy tinh có chia vạch 6 phần bằng nhau
-Chậu thủy tinh cỡ bé.
-Muôi sắt có gắn nút cao su.
b. Hóa chất:
- Mẫu nến nhỏ
-Dung dịch nước vôi trong ( tay cho nước )có nhỏ vài giọt
phenolphthalein để dung dịch có màu hồng nhạt giúp học sinh dễ
quan sát hơn
c. Tiến hành : Chia học sinh thành các nhóm nhỏ ( 4 em 1 nhóm ).
Giáo viên hướng dẫn để học sinh tự làm thí nghiệm :
Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

- Hướng dẫn học sinh thực hiện - Đặt ống thủy tinh vào trong
thí nghiệm

-Giáo viên yêu cầu học sinh quan
sát trả lời :
-Nến có tiếp tục cháy và cháy
-Hs : ngọn nến cháy yếu rồi tắt
mãi không ?
hẳn.
-Mức nước trong ống thủy tinh
thay đổi như thế nào ?(Khi nhiệt -Mực nước trong ống thủy tinh
độ trong ống thủy tinh bằng nhiệt dâng lên đến vạch số 2 thì dừng
lại.
độ bên ngoài)
-Vì sao mức nước dâng lên và -Mực nước dâng lên để chiếm
dâng đến vạch số 2 và dừng lại ? chỗ phần thể tích khí oxi mất đi
do nến đốt cháy.
-Vậy oxi chiếm bao nhiêu phần
về thể tích không khí trong ống -Oxi chiếm 1/5 về thể tích không
khí.
thủy tinh ?
-Khí còn lại trong ống thủy tinh
không duy trì sự sống, sự cháy
và không làm được nước vôi -Nitơ chiếm 4/5 về thể tích
trong đó, là khí gì ?

16 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”

Như vậy ở đây tôi đã có 1 số thay đổi như :

Hoạt động của HS

-Giáo viên chia nhóm ( gồm -Học sinh tiến hành thí nghiệm theo
2 học sinh ) cho học sinh tiến hướng dẫn của giáo viên
hành thí nghiệm.
-Hướng dẫn học sinh dùng
đũa thủy tinh nhúng vào lọ
axit sunfuric loãng viết 1 chữ
tùy ý lên tờ giấy. Hơ nóng tờ
giấy cẩn thận trên đèn cồn.

+ Trên tờ giấy dòng chữ dần dần suốt
hiện từ màu trắng chuyển sang màu vàng
sau đó là màu nâu và cuối cùng là màu
đen.

- Nhận xét hiện tượng
- Yêu cầu các nhóm giải thích - Học sinh giải thích
hiện tượng xảy ra
- Giáo viên lưu ý : Khi hơ
nhiệt độ là nước ở nét chữ
bay hơi , axit sunfuric đặc
dần. Nó sẽ chiếm 2 nguyên tố
là H và O ( thành phần của
nước ) ra khỏi chất Xenlulozơ
là thành phần chính của giấy.
Người ta nói H2SO4 đặc có
tính tháo nước. Chất còn lại là
C có màu đen.
18 / 31

“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
Khi dạy bài tính chất hóa học của kim loại ( bài 16 hóa 9 phần phản ứng
của kẽm với dung dịch đồng (II)sunfat .
Một thựt tế thường gặp khi tiến hành thí nghiệm cho kẽm vào dung dịch
đồng (II)sunfat có hiện tượng sau:
-Chất rắn màu đen bám lên dây Zn.
-Bề mặt kẽm có sủi bọt khí.
Điều này làm cho học sinh phân tâm, khó giải thích, thậm chí một số giáo
viên cũng khó giải thích kết quả thí nghiệm trên. Theo tôi xuất hiện chất
rắn màu đen bám lên dây kẽm là do nguyên nhân sau:
+Phản ứng xảy ra nhanh nên đồng được sinh rachuwa hình thành được
mạng tinh thể.
+có bọt khí thoát ra (H2 ) do hình thành thế điện hóa. Khi đồng được sinh
ra bám trên lá kẽm tạo pin điện hóa.

a Chuẩn bị :
- Dụng cụ: Ống nghiệm, giá để ống nghiệm
-Hóa chất: kẽm dây hoặc viên (có thể lấy kẽm từ pin cũ)
-Dung dịch đồng (II) clorua để thay thế đồng (II)sunfat vì khi dùng
dung dịch đồng (II) sunfat hiện tượng thường xuất hiện là chất rắn
màu đen bám lên.
Một số đồng nghiệp thay kẽm với sắt hoặc nhôm nhưng theo tôi các
thí nghiệm giữa sắt và nhôm với đồng (II) sunfat sẽ được học ở các
bài tiếp theo nên cố gắng giữ nguyên kim loại kẽm chỉ nên thay đổi
dung dịch CuSO4 bằng dung dịch CuCl2
20 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy


PTHH

Zn+CuCl2ZnCl2+Cu


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
Qua việc thay dung dịch CuCl2 đã tránh được hiện tương khác với
SGK. Từ đó cũng cố cho học sinh niềm tin vào khoa học.

2.3 Biện pháp phát huy hiệu quả tiết thực hành qua mẫu tường trình thí
nghiệm hóa học ở trường THCS.
Trước đây, khi chưa có mẫu tường trình thí nghiệm thì đến tiết thực hành
học sinh tự lập bảng tường trình, tự ghi cách tiến hành thí nghiệm,…Số
lượng học sinh trong một nhóm đông (khoảng 8 – 10 học sinh), dẫn đến tỉ
lệ học sinh tự tay làm thí nghiệm là rất ít, không rèn luyện được kỹ năng
thực hành. Bên cạnh đó, học sinh được mang SGK vào phòng thí nghiệm,
các em phụ thuộc rất nhiều vào SGK như không xem trước nội dung kiến
thức ở nhà, mà chỉ ghi chép từ SGK từ cách tiến hành đến giải thích hiện
tượng, phương trình phản ứng. Từ đó, các em không phát huy được năng
lực tư duy sáng tạo.
Về phía giáo viên, mất rất nhiều thời gian trong việc hướng dẫn học sinh
cách tiến hành, lắp ráp dụng cụ, quản lí nhóm thực hành. Giáo viên không
đánh giá chính xác năng lực, kỹ năng thực hành của học sinh, không hình
thành cho học sinh kỹ năng sống, kỹ năng tự làm việc.
Đáp ứng nhu cầu của phòng thí nghiệm thực hành mới hiện nay, thiết kế
cho 12 nhóm thực hành (4 học sinh cho một nhóm), để đảm bảo thời gian
cho một tiết thực hành và mỗi học sinh đều được tự làm thí nghiệm, làm
việc nhóm theo phương pháp tự nghiên cứu. Mẫu tường trình thí nghiệm

- Bài tường trình: 4 điểm
- Thao tác thực hành: 4 điểm
- Trật tự : 1 điểm
- Vệ sinh : 1 điểm
* Tổng cộng: 10 điểm
• Nhận xét của giáo viên về nhóm thực hành, rút kinh nghiệm.
* Dụng cụ - Hóa chất:
• Trong mẫu tường trình đã ghi rất đầy đủ và cụ thể, giáo viên và
học sinh dựa vào để lấy hóa chất và dung cụ tiến hành thí
nghiệm (không được mang sách giáo khoa vào phòng thí
nghiệm).
• Trong mỗi bài thực hành, giáo viên cần chuẩn bị trước cho mỗi
nhóm học sinh các hóa chất và dung cụ cần thiết.
* Tiến hành theo từng thí nghiệm:
• Cách tiến hành: Được trình bày cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu theo
(SGK hay SGV), có hình vẽ minh họa và lưu ý (SGK không
có), rất dễ để học sinh sử dụng và quan sát khi làm thí nghiệm.

23 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
• Quan sát hiện tượng: Học sinh quan sát hiện tượng từ thí
nghiệm thực tế ( phương pháp trực quan).
• Giải thích hiện tượng: Từ thí nghiệm thực tế, học sinh vận
dụng kiến thức đã học để giải thích hiện tượng.
• Viết phương trình phản ứng: Học sinh viết phương trình phản
ứng từ các chất cụ thể trong thí nghiệm thực tế và cân bằng
phản ứng. (Xác định vai trò của các chất trong phản ứng nếu có,

- ống TT đầu vuốt
nhọn
- 1 ống TT dẫn khí cao su.
* Hóa chất: - CaC2
- H2O cất
- Cát sạch
- C2H5OH (khan)
- H2SO4 đ
- bông gòn.

24 / 31


“Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành ở trường THCS”
- Dung dịch AgNO3/NH3
- dd KMnO4
 Tiến hành thí nghiệm:
I. Thí nghiệm 1:Điều chế và thử tính chất của etylen .
1/ Cách tiến hành :
* Ống nghiệm (khơ): Một ít cát
sạch + 2 ml C2H5OH (khan) +
Hình vẽ:
từng giọt, khoảng 4 ml dd H 2SO4
đặc, đồng thời lắc đều.
- Lắp dụng cụ như hình vẽ.
* Đun nóng hổn hợp, sao cho hổn
hợp khơng trào lên ống dẫn khí,
C2H4
Hỗn hợp

dd
KMnO4

2/ Quan sát hiện tượng :
-Màu ngọn lửa :………………………………………………………
- Ống nghiệm chứa dd KMnO4 ………………………………………

3/ Giải thích hiện tượng :
.............................................................................................................
25 / 31



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status