MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Nội dung
Phần 1: Mở đầu
Lí do chọn đề tài.
Mục đích nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu.
Phần 2: Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
Cơ sở lí luận.
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm.
Các giải pháp và biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[1].
Thật vậy muốn cho cây tươi tốt có nhiều quả ngọt thì phải có sự đầu tư
phân bón và bàn tay chăm sóc của con người. Cũng như trong xã hội muốn có
nhiều những con người có tài, có đức góp phần xây dựng quê hương đất nước
thì phải đầu tư cho giáo dục.
Xác định được vấn đề đó hội nghị trung ương II khoá VIII của Đảng đã
khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
phát triển” và “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” [2]. Trong giai
đoạn hiện nay Đảng và nhà nước ta đang tiến hành CNH, HĐH đất nước. Phát
triển nền kinh tế tri thức, hội nhập kinh tế thế giới trong thời đại công nghệ 4.0
phát triển mạnh. Điều đó đòi hỏi con người phải có tri thức, có trí tuệ, nhanh
nhẹn hoạt bát nhạy bén, có khả năng nắm bắt và xứ lý thông tin kịp thời có hiệu
quả. Chính vì thế mà đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra những con người có
tri thức, có trí tuệ đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn
hiện nay.
Thấm nhuần lời dạy của Bác: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”[3].
Toàn Đảng, toàn dân ta đã đồng sức, đồng lòng chăm lo cho giáo dục.
Đảng ta đã xác định “ Giáo dục là chìa khoá mở đầu cho phát triển tương lai và
sự phồn vinh của đất nước”[4]. Trong những năm gần đây chất lượng giáo dục
đang là một vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm
Song trên thực tế để có được nền giáo dục nước nhà phát triển vững mạnh
cả về số lượng và chất lượng thì cần phải có sự đầu tư thích đáng cho ngành giáo
dục bắt đầu từ bậc học mầm non. Vì thế Đảng và nhà nước ta không những cần
phải quan tâm đến vấn đề chuẩn hoá đội ngũ CBGV trong từng bậc học cấp học
mà còn phải quan tâm đế vấn đề CSVC trang thiết bị dạy và học của các nhà
trường. Đặc biệt là đối với các trường mầm non điều kiện CSVC trang thiết bị,
đồ dùng dạy học để xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ hoạt động lại càng
quan trọng hơn nhiều.
Đối với trường Mầm Non Hà Long là một trong những xã miền núi của
Thông qua đề tài “ Một số biện pháp tham mưu xây dựng phòng học,
tăng cường cơ sở vật chất nhà trường tạo điều kiện xây dựng môi trường hoạt
động cho trẻ tại trường Mầm Non Hà Long”. Nhằm mục đích giúp cho cán bộ
giáo viên và học sinh nhà trường có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho công tác
Chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ; giảm số lượng học sinh trông nhóm lớp tạo
không gian trong và ngoài lớp học thoáng mát rộng rãi đúng quy định để giáo
viên xây dựng môi trường hoạt động cho trẻ phù hợp với lứa tuổi; tạo điều kiện
và cơ hội cho trẻ được hoạt động trải nghiêm, được tìm tòi khám phá góp phần
nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong nhà trường.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về thực trang cơ sở vật chất ( Phòng học; trang thiết bị đồ
dùng dạy học, đồ chơi; đồ dùng phục vụ bán trú ) và các điều kiện khác như
nguồn nước; công trình vệ sinh ....tại trường Mầm Non Hà Long
Nghiên cứu về số lượng trẻ đến trường; số trẻ thực tế trong nhóm lớp và
vấn đề xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động tại các nhóm lớp trong trường
Mầm Non Hà Long.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tôi đã nghiên cứu các văn bản quy
phạm pháp luật qui định về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục
3
vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ để làm cơ sở
tham mưu với lãnh đạo địa phương tăng cường CSVC cho nhà trường đáp ứng
yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tôi đã sử
dụng phiếu điều tra độ tuổi để có số liệu thực tế, chính xác về số trẻ sinh ra hàng
năm để làm cơ sở tham mưu với lãnh đạo địa phương về nhu cầu số lượng
phòng học cần có để đáp ứng đủ phòng học cho trẻ trong độ tuổi được đến
trường.
một cách khoa học. Có thể nói rằng cơ sở vật chất trường học có ý nghĩa vô
cùng quan trọng góp phần thực hiện có hiệu quả việc nâng cao chất lượng dạy
và học của các nhà trường.
4
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC KHI ÁP DỤNG
ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng.
Trường Mầm non Hà Long là trường miền núi của huyện Hà Trung, địa
bàn rộng, dân số đông. Là trường có số lượng học sinh đông nhất huyện. Năm
học 2018-2019 nhà trường có tổng số học sinh đăng ký đến trường 649 trẻ.
Trong đó trẻ nhà trẻ: 114; trẻ Mẫu giáo là 535.
Thực tế phòng học hiện có trong học kỳ I là 12 phòng nên nhà trường chỉ
có thể cố gắng thu xếp nhận được 535 trẻ mẫu giáo còn số trẻ nhà trẻ thì không
thể nhận được. Nhà trường đã xin ý kiến chỉ đạo của Phòng giáo dục và lãnh đạo
địa phương tạm thời không nhận số trẻ trong độ tuổi nhà trẻ đến trường cho đến
khi địa phương xây dựng hoàn thiện bàn giao cho nhà trường 10 phòng học.
Số lượng trẻ trong nhóm lớp đông quá tải nhiều so với quy định của Điều
lệ trường Mầm non. Số trẻ bình quân trong lớp 42 trẻ/ lớp; nhưng có những lớp
lên tới 56 trẻ vì độ tuổi quá đông ( Điều lệ trường MN quy định từ 25-35 trẻ);
Số trẻ đông dẫn đến phòng, nhóm lớp chật hẹp, trẻ không có không gian
hoạt động, vấn đề xây dựng môi trường giáo dục cho trẻ hoạt động cũng gặp
nhiều khó khăn, điều kiện chăm sóc trẻ như nước, công trình vệ sinh, đồ dùng
trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ cũng hạn chế. Tất cả
những vấn đề đó đều làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo
dục trẻ của nhà trường.
Để có cơ sở nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng cơ sở vật chất
của nhà trường và thống kê kết quả khảo sát như sau
2. Kết quả thực trạng.
2
Số trẻ trong độ tuổi có nhu cầu đến trường học
649 trẻ
535 trẻ
114 trẻ
3
Bàn ghế quy cách đầy đủ cho các lớp
20 lớp
12 lớp
8 lớp
4
Giá tủ, kệ để đồ dùng đảm bảo cho các lớp
20 lớp
12 lớp
8 lớp
12 lớp
8 lớp
8
Số nhóm lớp xây dựng được môi trường giáo
dục trong lớp phù hợp với độ tuổi cho trẻ hoạt
động có hiệu quả
20 lớp
6 lớp
12 lớp
Từ kết quả trên cho thấy điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng
dạy học, đồ chơi, đồ dùng phục vụ bán trú và việc xây dựng môi trường hoạt
động cho trẻ tại các nhóm lớp còn nhiều khó khăn bất cập. Là Hiệu trưởng
người đứng đầu cơ quan đơn vị Bản thân đã thấy rõ được nguyên nhân dẫn đến
thực trạng đó. Nguyên nhân này đã tồn tại khá lâu nhưng chưa được giải quyết
triệt để làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ
và thiệt thòi cho những trẻ đã đến tuổi đi học mà không được đến trường. Nhận
thức được vấn đề đó tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp tham mưu tăng
cường cơ sở vật chất xây dựng thêm phòng học và chỉ đạo giáo viên xây dựng
môi trường giáo dục tại các nhóm lớp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ
trong nhà trường cụ thể như sau.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1/ Tham mưu với lãnh đạo địa phương xây dựng thêm 10 phòng học
đảm bảo đủ số lượng phòng học cho trẻ được đến trường đáp ứng nhu cầu
Bản thân là Đảng ủy viên và đại biểu hội đồng nhân dân nên có nhiều
thuận tiện đó là được tham gia rất nhiều hội nghị. Trong các buổi hội nghị tôi đã
tranh thủ ý kiến về tình hình số trẻ quá tải nhiều trong các nhóm lớp so với quy
định của điều lệ trường mầm non làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của
nhà trường đề nghị Đảng ủy- HĐND- UBND xã xem xét có kế hoạch xây dựng
thêm phòng học cho nhà trường.
Tranh thủ trò chuyện với các bậc phụ huynh về vấn đề thiếu phòng học
của nhà trường. Nhờ phụ huynh có ý kiến đề nghị tại các buổi hội nghị tiếp xúc
cử tri với đại biểu hội đồng nhân dân tại các buổi hội nghị tiếp xúc cử tri chuẩn
bị cho các kỳ họp để các Ông bà Đại biểu Hội đồng nhân dân tổng hợp ý kiến,
kiến nghị trình hội đồng nhân dân xem xét.
Bên cạnh đó bản thân còn phối hợp với UBMTTQ xã; trưởng các ban
ngành đoàn thể, các đồng chí bí thư chi bộ trưởng thôn trên toàn xã ủng hộ đề
nghị Đảng ủy- HĐND- UBND xã sớm thực hiện xây dựng thêm phòng học cho
nhà trường.
Bằng các biện pháp trên với suy nghĩ mưa dầm thấm lâu, bản thân kiên trì
tham mưu từ năm nọ sang năm kia, hết kỳ họp này lại đến kỳ họp khác trong rất
nhiều năm liên tục như thế và đã có được kết quả. Tháng 6/2018 UBND xã đã
khởi công xậy dựng cho nhà trường 10 phòng học trị giá gần 8 tỷ đồng và đến
tháng 1/2019 đã xong và bàn giao cho nhà trường đưa vào sư dụng. Hiện nay
cán bộ giáo viên trong trường rất phấn khởi. Các cháu được tách lớp. Số cháu
nhà trẻ được đến trường học phụ huynh phấn khởi. Số trẻ trên nhóm lớp đảm
bảo theo quy định, lớp học rộng rãi thoáng mát có không gian cho trẻ hoạt động.
Cô trò phấn khởi thực hiện nhiệm vụ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc
nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong nhà trường.
2. Thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục để bổ sung tăng cường cơ
sở vật chất trang thiết bị dạy và học trong nhà trường.
Công tác xã hội hóa giáo dục bổ sung tăng cường cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy và học là việc làm cần thiết không thể thiếu được trong các nhà
trường. Nếu công tác xã hội hóa được thực hiện tốt đảm bảo đúng quy định được
như đồ dùng cá nhân của trẻ; đồ dùng học tập; đồ dùng phục vụ bán trú ( Chăn
gối, bát thìa, ca cốc, tủ đựng đồ dùng cá nhân....) và một số mua sắm nhỏ như
đào giếng, thay quạt, bóng điện, đường ống dẫn nước các nhà vệ sinh ...tôi xin ý
kiến chỉ đạo của Đảng ủy- UBND xã cho phép nhà trường bàn bạc trong ban
giám hiệu và giáo viên một số hạng mục nhà trường dùng số kính phí chi hoạt
động từ nguồn học phí để tu sửa nhỏ nếu chưa đủ thì nhà trường xin được phối
hợp với hội cha mẹ học sinh để vận động xã hội hóa giáo dục.
Quá trình tham mưu Tôi luôn bám sát vào kế hoạch và các nội quy, quy
định, của ngành, các công văn chỉ thị của Đảng nhà nước quy định về xã hội hóa
giáo dục như công văn 346/HDLN/TCKH- GD&ĐT ngày 01/8/2019 V/v hướng
dẫn triển khai thực hiện các khoản thu, chi ngoài ngân sách trong các trường học
năm học 2018-2019 để làm cơ sở tham mưu với lãnh đạo địa phương. Với
những cách làm trên qua các lần hội nghị tôi luôn tranh thủ ý kiến với những lý
lẽ thuyết phục cuối cùng đã được sự đồng thuận của các đồng chí lãnh đạo và
năm học 2018-2019 ngoài việc được địa phương đầu tư xây dựng 10 phòng học
trị giá gần 8 tỷ đồng nhà trường còn được địa phương đầu tư mua sắm cho 120
bộ bàn ghế và 32 cái giá tủ đựng đồ chơi, đồ dùng dạy học trị giá 130 triệu đồng.
8
Để thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục một cách rõ ràng, khách quan
Tôi đã tham mưu cho UBND xã thành lập đoàn kiểm tra, rà soát cơ sở vật chất
thực tế của nhà trường trong từng nhóm lớp. Dựa trên các nội dung nhà trường
đề nghị bổ sung mua sắm xem có chính xác không để phòng khi nhà trường thực
hiện xã hội hóa phụ huynh ý kiến thì UBND xã cũng nắm được và giải thích cho
phụ huynh hiểu để hỗ trợ giúp đỡ nhà trường.
Từ cách làm đó nhà trường đã được UBND xã ủng hộ cho nhà trường làm
các thủ tục quy trình thực hiện xã hội hóa theo quy định hướng dẫn của ngành
và nhà trường đã phối hợp với hội cha mẹ học sinh tiến hành làm hồ sơ xã hội
hóa giáo dục theo đúng quy định ( Có xác nhận của UBND xã), được phòng
dạy học giáo viên mới có thể cung cấp kiến thức đến được với trẻ và trả lời được
các câu hỏi mà trẻ đặt ra một cách dễ dàng và làm thoả mãn nhu cầu nhận thức
của trẻ.
9
Từ những vấn đề trên cho chúng ta thấy việc vận động phụ huynh mua
sắm đầy đủ đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân cho trẻ là rất quan trọng. Nếu làm
tốt công tác tuyên truyền vận động cho phụ huynh hiểu và thấy được rằng việc
mua sắm đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân phục vụ bán trú cho con em đến
trường đi học là trách nhiệm của phụ huynh thì quá trình thực hiện nhiệm vụ
Chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ sẽ dễ dàng hơn và kết quả sẽ cao hơn. Xác
định được nhiệm vụ đó, tôi đã tiến hành tiến hành các biện pháp để vận động
phụ huynh như sau:
Xây dựng kế hoạch tổ chức họp phụ huynh toàn trường. Chọn giáo viên
dạy giỏi tổ chức xây dựng một số tiết dạy mẫu và một vài hoạt động chăm sóc
trẻ có sử dụng các loại đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân. Mời toàn thể các bậc
phụ huynh đến dự để phụ huynh thấy được tiết học của trẻ là phải có đồ dùng
học tập; đồ chơi. Nếu không có đồ dùng học tập, đồ chơi, đồ dùng cá nhân thì
trẻ sẽ không tiếp thu được nội dung bài học, trẻ sẽ buồn chán không có động lực
tham gia hoạt động cùng cô làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển tư duy và trí
tuệ của trẻ. Từ đó phụ huynh thấy được trách nhiệm của mình trong vấn đề phối
hợp với giáo viên để mua sắm đồ dùng học tập, đồ chơi, đồ dùng cá nhân phục
vụ bán trú cho con em mình.
Tôi đã cùng với các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường; các đồng
chí tổ trưởng, tổ phó các tổ chuyên môn phụ trách các khối nhà trẻ- nuôi dưỡng
và mẫu giáo xây dựng nội dung họp phụ huynh chung cho toàn trường; liệt kê
các loại đồ dùng học tập, đồ chơi; đồ dùng cá nhân trẻ phục vụ bán trú để triển
khai cho giáo viên toàn trường nắm bắt nội dung chung. Trên cơ sở các nội dung
đó nhà trường chỉ đạo cho giáo viên vận dung linh hoạt sáng tạo cho phù hợp
lớp1. Phương pháp Giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua
việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ phát triển toàn
diện. Vui chơi là hoạt động chủ đạo trong các trường, lớp mầm
non. Để thực hiện hoạt động vui chơi phải có đồ dùng đồ chơi.
Đồ chơi và môi trường hoạt động đối với trẻ mầm non được ví
như một phương tiện học tập nếu không có đồ chơi thì không
thể tổ chức được các hoạt động giáo dục trong trường mầm
non; cũng như người nông dân không có cày cuốc thì không thể
làm ruộng; công nhân không có máy móc thì không thể làm
việc và nhà khoa học không có phòng thí nghiệm thì không thể
nghiên cứu. Làm đồ dùng đồ chơi và xây dựng môi trường hoạt động là một
việc làm thường xuyên và không thể thiếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
dạy học của giáo viên mầm non. Làm đồ dùng đồ chơi mới và thay đổi môi
trường hoạt động để lôi cuốn trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động. Đồ dùng
đồ chơi đẹp, môi trường hoạt động phong phú hấp dẫn thì mới thu hút được trẻ
hứng thú tham gia hoạt động góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà
trường.
Đồ chơi trẻ em mầm non hết sức cần thiết đối với trẻ, nó
có tác dụng và ý nghĩa thật to lớn và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi
mầm non, mẫu giáo, vì bất kể một trẻ em nào trên thế giới đều
có nhu cầu chơi đồ mà trẻ thích và trẻ rất yêu quí đồ chơi trong
lớp mầm non, trẻ sống và hành động cùng với đồ chơi. Đồ chơi
giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, giúp trẻ
làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết
được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động
của con người. Đồ chơi mầm non còn là phương tiện giúp trẻ
phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong xã
hội dần dần biết gia nhập vào các mối quan hệ đó. Trẻ được
hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa
làm cho đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai cơ thể mềm mại,
nhóm lớp mình phụ trách để góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục trẻ trong nhà trường.
Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác phụ huynh tuyên truyền
để phụ huynh mua sắm, trang bị, hoặc tự tạo đồ dùng đồ chơi
cho con em mình để tạo điều kiện cho giáo viên có đủ đồ dùng
đồ chơi phục vụ cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trong nhà
trường, đáp ứng nhu cầu hoạt động của trẻ.
Tổ chức hội thi giáo viên làm đồ dùng đồ chơi mầm non
sáng tạo với những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương, những
vật liệu phế thải trong sinh hoạt hàng ngày.Ví dụ như: mo cau,
gáo dừa, tre, trúc, vỏ nghêu, sò, ốc, hến, chai nước khoáng, chai
dầu gội, lon bia…góp phần làm phong phú thêm đồ dùng đồ
chơi trong nhóm lớp tạo môi trường hoạt động cho trẻ một cách
phù hợp thu hút trẻ tham gia hoạt động nâng cao hiêu quả giáo
dục.
Đối với đồ dùng đồ chơi ngoài trời và những đồ chơi sáng
tạo cần thiết phục vụ cho hoạt động giáo dục trẻ mà giáo viên
không thể làm được thì tôi xây dựng kế hoạch mua sắm bổ sung
bằng nguồn tiết kiệm chi hoạt động trong nhà trường.
12
Để tránh tình trạng giáo viên không cho trẻ chơi, sợ trẻ
làm hỏng đồ chơi hoặc cho trẻ chơi đồ chơi một cách bừa bãi
không đem lại hiệu quả giáo dục Tôi chỉ đạo Ban giám hiệu nhà
trường thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá việc hướng dẫn
sử dụng có hiệu quả đồ dùng đồ chơi của giáo viên tại các nhóm
lớp để nâng cao vai trò trách nhiệm của giáo viên trong vấn đề
quản lý, sử dụng đồ dùng đồ chơi tại nhóm lớp mình phụ trách
đảm bảo đồ chơi được sử dụng phù hợp, trẻ được chơi, được
Số
lượng lượng lượng
Cần
hiện
còn
có
có
thiếu
20
12
8
Phòng Phòng phòng
649
535
114
trẻ
trẻ
trẻ
20
12
8
Lớp
Lớp
Lớp
20
12
8
Kết quả khảo sát sau
khi nghiên cứu
Số lượng phòng học
đảm bảo quy định
Số trẻ trong độ tuổi có
nhu cầu đến trường học
Bàn ghế quy cách đầy
đủ cho các lớp
Giá tủ, kệ để đồ dùng
đảm bảo cho các lớp
Ti vi
20 cái 10 cái 10 cái 20 cái 18 cái
Đồ dùng phục vụ bán
20
12
8
20
20
trú các lớp
Lớp
Lớp
Lớp
Lớp
Lớp
13
02 cái
0
Lớp
01
Lớp
20
Lớp
6
Lớp
12
Lớp
20
Lớp
20
Lớp
0
Lớp
Từ kết quả khảo sát trên cho ta thấy việc áp dụng các giải
pháp biện pháp tham mưu tăng cường cơ sở vật chất trang thiết
bị dạy và học trong trường mầm non Hà Long thực sự có hiệu
quả. Từ một trường thiếu phòng học, thiếu trang thiết bị dạy và
học rất nghiêm trọng như: Các cháu trong độ tuổi nhà trẻ có
nhu cầu đi học nhưng không được đến trường vì thiếu phòng
học; các phòng nhóm lớp chật hẹp vì trẻ quá tải không còn chỗ
để xây dựng môi trường hoạt động cho trẻ tại nhóm lớp.... Sau
một thời gian dài áp dụng các giải pháp, biện pháp tham mưu
vị phải nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều kiện cơ sở
vật chất trang thiết bị cần thiết phục vụ cho quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm
sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong các trường Mầm non như điều lệ trường Mầm
Non; thông tư số 02/2010/ TT-BGDĐT quy định về trang thiết bị tối thiểu của
các trường Mầm non và một số văn bản quy định khác.
Tổ chức kiểm tra thống kê tài sản trang thiết bị hiện có của các nhóm lớp
trong toàn trường. Căn cứ vào tình hình thực tế điều kiện cơ sở vật chất của nhà
trường hiện có đối chiếu với các quy định của nhà nước. Giáo viên các lớp có
văn bản đề nghị nhà trường bổ sung cơ sở vật chất cho các nhóm lớp. Hiệu
trưởng xây dựng kế hoạch cụ thể các hạng mục công trình còn thiếu cần phải bổ
sung, thông qua Cán bộ giáo viên nhà trường và công khai trước hội cha mẹ học
sinh.
Báo cáo tình hình cơ sở vật chất thực tế của nhà trường với lãnh đạo địa
phương ( Thiếu phòng học số trẻ trong nhóm lớp quá tải; môi trường hoạt động
chật hẹp; thiếu trang thiết bị....) để xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo địa phương.
Tham mưu cho lãnh đạo cụ thể về cách thực hiện tăng cường cơ sở vật chất bằng
hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm. Những vấn đề lớn như xây thêm 10
phòng học; mua sắm bàn ghế giá để bày đồ chơi các góc đề nghị UBND xã đầu
tư xây dựng mua sắm. Còn các đồ dùng đồ chơi tủ đựng đồ dùng cá nhân phục
vụ bán trú cho trẻ...phụ huynh phải có trách nhiệm mua sắm cho con em mình;
đồ dùng dạy học của giáo viên và trang trí xây dựng môi trường hoạt động cho
trẻ tại nhóm lớp thì nhà trường phải hỗ trợ kinh phí cho giáo viên thực hiện. Sau
đó làm các văn bản đề nghị và tiến hành tham mưu với lãnh đạo địa phương
( Tham mưu với Đảng ủy- HĐND-UBND xã).
Để công tác tham mưu có sự thuyết phục và hiệu quả thì Hiệu trưởng nắm
vững các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến giáo dục mầm non và
tình hình thực tế về khả năng phát triển kinh tế, xã hội và dân số ở địa phương,
đề phòng khi lãnh đạo và nhân dân hỏi lý do tại sao lại phải xây dựng phòng học
thì bản thân Hiệu trưởng có thể giải trình rõ ràng rành mạch để lãnh đạo và nhân
dân hiểu được và công nhận vấn đề mình tham mưu là đúng, cấp bách và cần
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
tôi viết không coppy của người
khác./.
Người viết
Bùi Thị Huyền
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. “Sách Hồ Chí Minh – tuyển tập”. Tập II. Nhà xuất bản sự thật Hà Nội
– 1980 trang 93
[2] Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai. Số 02-NQHNTW BCHTW Đảng
khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời
kỳ CNH,HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 ngày 24/12/1996.
[3]. Lời nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói
chuyện tại đại hội đại biểu Mặt trận tổ quốc Việt Nam lần thứ 2 năm 1961 gửi
đến Quốc dân, Đồng bào thông điệp sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết
rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự.
16
[4]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai. Số 02-NQHNTW BCHTW Đảng
khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời
kỳ CNH,HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 ngày 24/12/1996.
[5]. Sách tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ 0-6 tuổi. Tác giả: Nguyễn
Thị Ánh Tuyết ( chủ biên).
Một số các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Điều lệ trường mầm
non, Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi chương trình giáo dục MN tại thông
tư 17/2009-TT/BGDĐT; Thông tư số 02/2010/ TT-BGDĐT quy định về trang
thiết bị tối thiểu của các trường Mầm non; công văn 346/HDLN/TCKHGD&ĐT ngày 01/8/2019 V/v hướng dẫn triển khai thực hiện các khoản thu, chi
2007-2008
2
3
công tác XHHGD tăng cường
CSVC tại trường MN Hà Long
Một số biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng giáo dục toàn
diện ở trường MN Hà Long
Một số biện pháp xây dựng kỷ
cương nền nếp trong công tác
quản lý ở trường MN Hà Long
18
Huyện
B
2012- 2013
Tỉnh
C
2014-2015