SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
1
1
Mở đầu
Đối tượng
cứu
1
SÁNG1.3.
KIẾN
KINHnghiên
NGHIỆM
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1
2.1. Cơ sở lí luận
3
2.2.Thực trạng
3
RÈN
KỸ
NĂNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Bùi Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Chu Văn An
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2018
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Giáo sư Hà Minh Đức từng khẳng định “ Văn học không chỉ là một
nguồn tri thức mà còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ
vũ, tiếp sức cho con người trong cuộc sống” ( Lý luận văn học, trang 50NXBGD 1997). Đúng vậy, Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết
sức quan trọng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông. Nó cung
cấp cho học sinh những tri thức để đánh giá các vấn đề văn học. Nó giúp học
sinh có khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương. Ngoài ra, học sinh
còn được hình thành và phát triển kỹ năng tạo lập văn bản mới (đó là nhiệm vụ
của phân môn Tập làm văn). Trong phân môn làm văn, học sinh sẽ được trang bị
những kiến thức cần thiết để làm được bài văn từ đúng đến hay nhất là những
dạng bài tự sự, miêu tả, biểu cảm rất được chú trọng.
Tự sự là thể loại các em đã được học, được rèn luyện trong suốt chương
trình cấp học. Đặc trưng cơ bản của kiểu bài này là kích thích trí tưởng tượng
phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh đối với những sự việc,
hiện tượng trong đời sống, gia đình và xã hội. Qua đó bồi dưỡng cho các em
những tình cảm tốt đẹp. Nếu ở các lớp dưới tự sự được giới thiệu tách rời như là
một phương thức biểu đạt độc lập giúp các em nắm chắc đặc trưng riêng ( nhưng
trong thực tế ít có văn bản, tác phẩm nào lại chỉ dùng một phương thức biểu đạt
mà thường kết hợp đan xen hai hay nhiều phương thức khác nhau) thì với học
sinh lớp 8, việc đưa yếu tố miêu tả và biểu cảm vào bài văn tự sự là mục đích và
yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên các em vẫn tỏ ra nhiều lúng túng trong quá trình
3
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Quan điểm đổi mới trong chương trình Ngữ văn là phải kết hợp nhiều
phương pháp dạy học, tổ chức hoạt động theo hướng tích cực, phát huy năng lực
chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học. Tự sự ( kể chuyện) là phương
thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng
dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự giúp người kể giải thích sự
việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen, chê. ( Ngữ văn 6Tập một )
Trong văn tự sự, nếu chỉ đơn thuần kể các sự việc, kể về con người thì câu
chuyện chỉ còn là tóm tắt cốt truyện, người và việc không hiện lên cụ thể, truyện
thiếu chân thực và hấp dẫn. Miêu tả trong khi kể nhằm làm cho sự việc thêm
sinh động, màu sắc, hình dáng, diện mạo của nhân vật, hành động… như hiện ra
rõ ràng hơn, sống động hơn trước mắt người đọc.Vậy nên trong quá trình kể
thường đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm. Các yếu tố này giúp cho sự việc và
nhân vật được thể hiện sâu sắc, ấn tượng hơn.
2. 2. Thực trạng vấn đề:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung, phân môn
Tập làm văn nói riêng rất được quan tâm. Về cơ bản giáo viên đã nắm được
phương pháp, vận dụng sáng tạo theo đối tượng. Học sinh đã chú ý học. Tuy
nhiên, trong thực tế giảng dạy, đi sâu vào thực trạng, bản thân vẫn còn nhận thấy
một số hạn chế khi làm văn tự sự như sau:
2.2.1. Về phía giáo viên:
+ Giáo viên còn chưa đầu tư cho phân môn Tập làm văn, chưa tìm tòi những ví
dụ mẫu linh hoạt sáng tạo gắn với đời sống thực tế hàng ngày có tác dụng khắc
sâu kiến thức.
+ Giáo viên chưa thực sự chú ý đến việc phát huy tinh thần tích cực chủ động
của học sinh khi học lý thuyết làm văn tự sự theo yêu cầu kết hợp sử dụng các
%
6.7
25
Khá
SL
10
20
%
33.3
50
TB
SL
16
8
%
53.3
20
Yếu
SL
2
0
%
6.7
0
Nói đến tự sự là nói đến cốt truyện với nhân vật và các sự kiện nối tiếp
nhau. Nếu chỉ đơn thuần là sự lắp ghép, liệt kê hành động, việc làm của nhân vật
cũng như trình tự các sự việc thì câu chuyện sẽ trở nên khô khan đơn điệu. Nhân
vật trong tác phẩm tự sự phải thật sống động với đặc điểm chân dung bên ngoài
cũng như cử chỉ, hành động, thế giới nội tâm bên trong. Đó là chưa nói tới
những tác động của thiên nhiên, của cảnh vật. Để đáp ứng tất cả những yêu cầu
đó đương nhiên phải cần đến miêu tả. Mặt khác, tự sự là kể việc đời, việc người.
Dù khách quan đến đâu nhà văn cũng không thể đứng ngoài cuộc. Ngược lại,
5
nhà văn phải thực sự sống cùng với nhân vật của mình: cùng vui buồn, khổ đau,
hạnh phúc; cùng chia sẻ với những cảnh đời, những số phận do chính mình tạo
nên. Do đó rất cần đến yếu tố biểu cảm.
• Yếu tố miêu tả trong văn tự sự
Trong văn tự sự, việc miêu tả cụ thể, chi tiết cảnh vật ( không gian, thời
gian, cảnh trí thiên nhiên…) nhân vật (khuôn mặt, hình dáng, cách ăn mặc, đi
đứng, nói năng…) không chỉ có tác dụng làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn
mà còn góp phần không nhỏ vào việc làm rõ ý nghĩa của các sự việc, thể hiện
quan điểm, thái độ của người kể chuyện.
Yếu tố miêu tả thường được thể hiện qua các từ ngữ, hình ảnh có sức gợi
lớn ( từ láy tượng hình, tượng thanh, nghệ thuật so sánh, nhân hóa…) Việc đưa
yếu tố miêu tả trong văn tự sự phải có chọn lọc, không được quá lạm dụng dẫn
tới lạc thể loại. Mục đích chính là qua các hình ảnh miêu tả làm cho cốt truyện
hay hơn, hấp dẫn hơn; nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động và gây ấn tượng hơn.
• Yếu tố biểu cảm trong văn tự sự
Yếu tố biểu cảm xuất hiện khi kể giúp người viết thể hiện được rõ hơn thái
độ, tình cảm, cảm xúc mình trước sự việc, nhân vật…buộc người đọc phải trăn
trở, suy nghĩ, động lòng trước sự việc đang kể, làm cho ý nghĩa của truyện càng
Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó.
Giôn- xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi cô gọi Xiu đang quấy món cháo gà
trên lò hơi đốt.
“ Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi”, Giôn-xi nói, “ Có một cái
gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ
như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút
sữa pha ít rượu vang đỏ và- khoan- đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi
xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”.
Một tiếng đồng hồ sau, cô nói: “ Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em
hi vọng sẽ vẽ được vịnh Na-plơ”.
( OHen ri- Chiếc lá cuối cùng)
Ở bài tập này, học sinh sẽ phải chỉ ra được trong đoạn truyện trên OHen- ri
đã miêu tả để tái hiện hình ảnh chiếc lá thường xuân cuối cùng dũng cảm bám
vào bức tường gạch đối diện, bất chấp cả những đợt gió bấc ào ào thổi và những
hạt mưa mạnh mẽ tuôn xuống không ngớt. Sau đó nhà văn lại sử dụng kết hợp
kể với biểu cảm, bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Giôn- xi sau khi
nhìn thấy vẻ đẹp và sức sống kỳ diệu của chiếc lá. Cô cảm thấy mình “ Thật là
một con bé hư”, và “ muốn chết là một tội” . Cô lại tiếp tục mơ ước một ngày
nào đó sẽ vẽ được vịnh Na-plơ.
Như vậy, chính yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn truyện trên đã góp
phần diễn tả diễn biến tâm trạng Giôn-xi từ chỗ tuyệt vọng, muốn chết đễn chỗ
khao khát được tiếp tục sống để thực hiện ước mơ trở nên tự nhiên hợp lý. Và
cũng chính từ đó, ý nghĩa của câu chuyện là ca ngợi sức mạnh của nghệ thuật
chân chính và tình yêu thương con người được thể hiện rõ hơn, sâu sắc hơn.
Bài tập 2: Yêu cầu học sinh quan sát đoạn văn sau và chọn ra một
phương án trả lời đúng nhất:
Kim đồng hồ nhích dần đến con số mười hai.Mặt trời đã đứng bóng. Cái
nắng hè gay gắt đến khó chịu, lại thêm từng đợt gió Lào quạt dữ dội. Ngoài
vườn, hàng chuối dường như cũng đang rũ xuống. Tôi nhìn ra ngõ, giờ này mẹ
vẫn chưa về. Hôm nào cũng vậy, mẹ thường đi làm về rất muộn. Cơ quan thì xa,
Thế rồi,Dế Choắt tắt thở. Tôi thương lắm. Vừa thương vừa ăn năn tội
mình. Giá tôi không trêu chị Cốc thì đâu đến nỗi Choắt việc gì. Cả tôi nữa, nếu
không nhanh chân chạy vào hang thì tôi cũng chết toi rồi.
(Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lưu ký)
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng ân hận của Dế Mèn được
thể hiện qua lời nói, hành động và suy nghĩ. Cần chú ý vào đoạn kết của sự việc,
Mèn thương bạn, ăn năn tội mình và suy nghĩ về tác hại việc mình làm
2.3.2.2. Dạng bài tập vận dụng
Ở dạng bài tập này, học sinh sẽ được tạo lập sản phẩm theo mẫu, theo yêu
cầu hay bài tập sửa chữa. Học sinh dựa trên cơ sở những tri thức chung và riêng
để vận dụng sáng tạo nên sản phẩm mang dấu ấn cá nhân. Sau khi hoàn thành
loại bài tập này, học sinh sẽ hình thành nhiều năng lực tổng quát. Bài tập vận
dụng sáng tạo là loại bài tập yêu cầu cao nhất về kỹ năng, khả năng thực hiện
của học sinh
a.Vận dụng mức độ thấp
*Ví dụ:
Bài tập 1:
Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở
bên nhà Lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi
đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên
giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo,
bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai
người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ
đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì
mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu.
(Nam Cao – Lão Hạc)
Những câu văn nào tả rõ nhất nỗi đau đớn của lão Hạc trước khi chết ?
Có điều thay đổi gì nếu ta bỏ những câu ấy khỏi đoạn văn?
8
các tủ hàng hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây…Nhưng diêm
tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên
trời.
Ở bài tập này các em có thể thảo luận nhóm để tìm ra đoạn văn đã được
lược bỏ yếu tố miêu tả:
Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en. Cây
này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa
kính một nhà buôn giàu có. Em với đôi tay về phía cây…Nhưng diêm tắt. Tất cả
các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời.
Sau đó so sánh hai đoạn văn về nội dung và giá trị gợi tả.
b.Vận dụng mức độ cao
*Ví dụ:
Bài tập 1: Tìm hiểu cách miêu tả nhân vật Dượng Hương Thư trong
đoạn trích sau:
9
Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn.
Dượng Hương Thư đánh trần đứng sau lái co người phóng chiếc sào xuống
lòng song nghe một tiếng ”soạc”! Thép đã cắm vào sỏi. Dượng Hương ghì chặt
trên đầu sào, lấy thế trụ lại, giúp cho chú Hai và thằng Cù Lao phóng sào
xuống nước. Chiếc sào của Dượng Hương dưới sức chống bị cong lại. Nước vị
cản văng bọt tứ tung, thuyền vùng vằng cứ chực trụt xuống quay đầu chạy về lại
Hòa Phước
Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt.Thuyền cố lấn lên.
Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai
hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống
như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư đang vượt
thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai
10
- Sự việc, tình tiết phải xoay quanh nhân vật. Do đó phải thể hiện sinh động
hành động, suy nghĩ của nhân vật.
- Bởi thế, không bao giờ chỉ tự sự đơn thuần mà phải biết xen miêu tả một
cách hấp dẫn và biểu cảm một cách tự nhiên.
Như vậy, thông qua hệ thống bài tập đã được chọn lựa (những mẫu văn bản
gần gũi, thiết thực với các em) học sinh được thực hành, vận dụng theo mức độ
từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Bắt đầu là việc nhận biết được các yếu tố miêu
tả, biểu cảm, vai trò, tác dụng của các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong việc biểu
đạt nội dung đến việc tự mình sáng tạo ra những bài văn tự sự có sử dụng yếu tố
miêu tả và biểu cảm. Đó là cả một quá trình cố gắng dưới sự hướng dẫn của giáo
viên. Có những bài thầy cô yêu cầu các em làm độc lập nhưng có bài lại cần đến
hoạt động tương tác (thảo luận nhóm). Mục đích cuối cùng là phát huy tối đa
khả năng sáng tạo của các em, phát triển các kỹ năng, khắc phục những hạn chế
Trong quá trình hoạt động của học sinh, đòi hỏi người thầy phải chuẩn bị
công phu, lựa chọn nội dung phù hợp, tạo được hứng thú học tập, thiết kế được
những hình thức truyền tải nội dung một cách hợp lý nhất. Giáo viên đóng vai
trò là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động, gợi mở, khuyến khích và hỗ trợ
việc học của học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Khi áp dụng đề tài vào thực tế dạy học bản thân tôi nhận thấy hệ thống bài
tập đã giúp các em nhận diện đúng vai trò và đưa yếu tố miêu tả biểu cảm vào
bài văn tự sự một cách hợp lý. Nó tránh được lối kể lan man dài dòng bước đầu
tạo ra những văn bản tự sự từ đúng đến hay, và nhất là giúp các em hứng thú
hơn với bộ môn Ngữ văn.
Kết quả khảo sát một số bài kiểm tra cuối HKI cho thấy việc áp dụng sáng
kiến kinh nghiệm đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học một cách rõ nét.
5
0
0
Nhìn vào bảng kết quả, ta thấy chất lượng đã được nâng lên đáng kể. Các
em hứng thú hơn với phân môn Tập làm văn, xuất hiện nhiều bài văn tự sự kết
hợp tốt các yếu tố miêu tả và biểu cảm gây ấn tượng với người đọc.
Dưới đây là một số đoạn văn được trích từ bài làm của học sinh:
Đề 1: Cô bé bán diêm sau khi cùng bà về chầu Thượng đế.
Cô bé nắm tay bà bay về trời. Bên cạnh em là rất nhiều thiên thần bé xíu.
Mỗi thiên thần khoác một đôi cánh trắng toát, mượt mà sau lưng. Trên tay họ là
những chiếc kèn thổi chào mừng. Cô bé rất háo hức. Vừa đi, em vừa nhảy chân
sáo. Cổng Thiên đường rộng lớn, sáng lên một màu vàng lấp lánh. Nó mở ra
11
trước mắt em một vùng đất rộng mênh mông tươi đẹp có rất nhiều hoa. Ôi!
Tuyệt thật! Nước mắt chảy dài trên gò má. Lâu lắm rồi em mới được sống
những giây phút hạnh phúc như vậy.
( Trích từ bài của em Nguyễn Mai Thúy- học sinh lớp 8D)
Đề 2: Ngày trở về của người con trai lão Hạc
Tôi trở về. Cảm giác được đặt chân lại chốn quê sao thân thương đến
vậy. Cảnh vật cũng không thay đổi là bao. Từng ngõ xóm, con đường,…cứ như
xưa. Nghĩ đến cảnh gặp lại thầy, tôi bỗng thấy vui sướng rạo rực, chỉ muốn
chạy thật nhanh. Đây rồi! Căn nhà cũ kĩ, mảnh vườn vẫn còn chỉ là vạn vật
đang phủ một lớp bụi như thể đã rất lâu nó chưa từng được quan tâm đến. Tôi
cất tiếng gọi thầy, rồi con chó Vàng…vẫn không ai trả lời. Tim tôi bỗng thổn
thức. Tôi bước vào căn nhà vắng lặng và ẩm mốc, chỉ thấy di ảnh của thầy giữa
làn khói hương nghi ngút. Tôi quỳ xuống. Cầu cho tất cả điều này chỉ là một
giấc mơ, một giấc mơ…
- Cần có quỹ thời gian để đọc sách, tìm hiểu sâu hơn nội dung bài học, làm
phong phú thêm vốn từ cho bản thân.
- Có kỹ năng làm việc nhóm, mạnh dạn trao đổi với thầy cô để tháo gỡ
những khó khăn trong quá trình học
*Đối với giáo viên:
- Ý thức được trách nhiệm, nghiên cứu kỹ bài dạy; đầu tư nhiều hơn trong việc
đổi mới phương pháp, đổi mới các hình thức tổ chức và phương tiện dạy học.
Chịu khó sưu tầm, điều chỉnh hệ thống bài tập phù hợp (tùy vào mức độ học
sinh khác nhau).
- Biết phối hợp linh hoạt các hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng, tạo
được hứng thú học tập cho học sinh.
Làm được những điều trên, học sinh sẽ có cơ hội thực hành nhiều hơn,
hứng thú hơn với bộ môn, rèn kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tạo lập văn bản (không
riêng gì văn bản tự sự). Điều đó rất cần thiết cho các em sau này.
3.2. Kiến nghị:
Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nhà trường cần bổ sung thêm
nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh. Đồng thời ngành giáo dục cần
biên chế sĩ số lớp ít hơn (không quá 35 em/lớp) kết hợp với đầu tư cơ sở vật chất
đầy đủ cho các trường THCS nói chung. Có được những điều kiện tốt thầy và
trò chắc chắn sẽ dễ dàng hơn trong quá trình thực hiện, sáng tạo trong hoạt động
dạy học từ đó nâng cao chất lượng môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu giáo dục
trong giai đoạn mới.
13
Do nghiên cứu lần đầu chắc chắn đề tài không tránh khỏi những hạn chế,
rất mong sự góp ý của đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
2
3
4
5
6
7
8
9
Cấp đánh giá Kết quả đánh
xếp loại
giá xếp loại
Một vài cảm nhận về bài Sở GD&ĐT
thơ Thu điếu, dự kiến Thanh Hóa
C
những phương pháp
giảng dạy
Hệ thống bài tập rèn Sở GD&ĐT
luyện kỹ năng viết đoạn Thanh Hóa
C
văn có câu chốt cho học
sinh lớp 9.
Sửa lỗi dùng từ cho học PGD & ĐT
sinh lớp 7
Nga Sơn
B
2011 – 2012
làm PGD & ĐT
sinh Nga Sơn
Chu
B
2012- 2013
làm PGD & ĐT
sinh Nga Sơn
Chu
A
2014- 2015
làm Sở GD&ĐT
sinh Thanh Hóa
Chu
C
2014- 2015
Dạy học bài “Tập
thơ 8 chữ” cho học
lớp 9 trường THCS
Văn An – Nga Sơn