SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH KỸ NĂNG SỬ DỤNG
ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM, BIỂU ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU
ĐỂ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO TRONG KỲ THI
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA”
Người thực hiện: Lê Thị Hoàng Lan
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa lí
THANH HÓA NĂM 2018
1
MỤC LỤC
TT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2
3
3
3
4
4
7
11
14
17
17
18
2
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Kỳ thi THPT QG năm 2017, môn Địa lí lần đầu tiên được đưa vào thi dưới
hình thức trắc nghiệm. Với thời gian 50 phút, thí sinh phải hoàn thành 40 câu hỏi
trắc nghiệm. Trong đó, câu hỏi kỹ năng như sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam, biểu
đồ, bảng số liệu chiếm tỉ lệ 37,5%. Ngoài ra còn rất nhiều câu hỏi lí thuyết mà
có thể sử dụng Atlat để trả lời. Xuất phát từ thực tế dạy học tôi thấy không ít học
sinh thường hay lơ là lớt phớt, không thiết tha với học tập, thái độ học tập
không nghiêm túc, có những suy nghĩ lệch lạc, thiếu chín chắn do không xác
định rõ mục tiêu của việc học. Trước thực trạng này ít nhiều đã ảnh hưởng đến
kết quả học tập của học sinh. Đặc biệt khi thi THPT QG có tổ hợp khoa học xã
hội (sử, địa, công dân), học sinh cho đây là những môn phải học thuộc lòng
nhiều, môn Địa thì quá nhiều số liệu để nhớ. Đó cũng là một lí do không nhỏ
gây áp lực cho các em. Trong khi đó cũng chưa có tài liệu chuẩn nào nghiên cứu
3
- Hướng dẫn học sinh nắm được và có kỹ năng khai thác tốt các kiến thức từ
Atlat Địa lí Việt Nam.
+ Học sinh thấy được nguồn tri thức chứa đựng trong Atlat là vô tận, khả năng
khai thác các kiến thức từ Atlat vào việc học tập và làm bài thi Địa lí rất có ích.
+ Biết cách khai thác, sử dụng Atlat để giảm được thời gian học tập, đỡ phải ghi
nhớ máy móc, làm bài đạt kết quả tốt hơn.
- Hướng dẫn cho học sinh kỹ năng nhận diện các loại biểu đồ và nhận xét bảng
số liệu.
- Góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh, đặc biệt trong các bài kiểm
tra một tiết, thi học kì, thi THPT QG.
- Bản thân có điều kiện trau dồi thêm kinh nghiệm trong giảng dạy kỹ năng thực
hành để học sinh tiếp thu rễ hơn và đạt điểm cao trong các bài thi (đặc biệt trong
kì thi THPT QG).
- Giúp cho đồng nghiệp trong nhóm Địa có thể tham khảo, vận dụng kinh
nghiệm đã áp dụng của tôi vào trong quá trình dạy học Địa lí.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 12 học môn Địa lí.
- Giáo viên giảng dạy Địa lí ở trường THPT.
Từ đối tượng nghiên cứu nêu trên đề tài này sẽ nghiên cứu về các kỹ năng sử
dụng Atlat trong quá trình học tập và làm bài thi, kỹ năng nhận dạng biểu đồ và
biết cách nhận xét (phân tích) bảng số liệu.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh nắm vững và vận
dụng thành thạo các kỹ năng thực hành.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu…
cấu thành phần của một tổng thể.
Mỗi loại biểu đồ có thể dùng để biểu hiện nhiều mục đích khác nhau. Các loại
biểu đồ rất phong phú và đa dạng: cột, đường, kết hợp cột đường, tròn, miền…
- Bảng số liệu: là tập hợp những con số được sắp xếp thành hệ thống theo hàng,
cột để phản ánh những nội dung, tính chất của đối tượng Địa lí.
Trong học tập và thi THPT QG thường có câu hỏi yêu cầu nhận xét số liệu,
bởi biết dựa vào bảng số liệu để tìm thông tin Địa lí là một trong những kỹ năng
quan trọng trong học tập và nghiên cứu Địa lí. Loại câu hỏi yêu cầu nhận xét
bảng số liệu thống kê cho phép đánh giá được mức độ am hiểu, vận dụng kiến
thức của người học vào các trường hợp cụ thể, đánh giá được kỹ năng chọn lọc,
xác định kiến thức Địa lí.
2.2 Thực trạng vấn đề
Có thể nói so với các thế hệ trước, ý thức học tập của học sinh ngày nay rất
kém. Sự yếu kém này không phải là lượng tri thức tiếp thu ít là mà mức độ quan
tâm đến vấn đề học tập. Thái độ của học sinh đối với việc học thiếu nghiêm túc.
Nhiều học sinh xem thường việc học tập tri thức và rèn luyện bản thân. Hiện
tượng lười biếng học bài, làm bài đã trở thành quen thuộc. Rất đông học sinh
5
không còn hứng thú với việc học tập. Các em thấy việc học nhàm chán, đến lớp
là một việc làm miễn cưỡng. Nhiều học sinh mơ hồ trong việc xác định mục tiêu
của việc học, không biết học để làm gì. Đã vậy học sinh không thích học hoặc
học kém các môn khoa học xã hội vì phải học thuộc lòng nhiều. Xuất phát từ ý
thức học tập thiếu nghiêm túc dẫn đến học sinh lười học, học tủ, học vẹt, học đối
phó ngày càng phổ biến nên kết quả học tập thấp kém. Chất lượng giáo dục ngày
càng giảm sút. Điều này thể hiện khá rõ khi các phương tiện truyền thông đưa
tin khi hỏi về Bác Hồ sinh năm nào, hay hỏi về Quang Trung - Nguyễn Huệ thì
nhận được những câu trả lời làm cho chúng ta đáng phải suy ngẫm. Đặc biệt hơn
nữa, trước đây khi chấm thi tốt nghiệp môn Địa còn có thí sinh viết Tây Nguyên
Atlat giúp cho học sinh ôn tập thường xuyên, liên hệ kiến thức mới với kiến
thức đã học. Việc ôn tập cho phép học sinh tự kiểm tra mức độ lĩnh hội tri thức
mới của mình, giúp các em phát hiện những lỗ hổng kiến thức của mình để lấp
đầy chúng lại bằng cách ôn tập, củng cố.
6
Như vậy, nếu khai thác triệt để, đúng đắn các kỹ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt
Nam thì đây là phương tiện hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả trong kỳ thi THPT
QG.
2.3.1.2 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung của Atlat
Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu các ngôn
ngữ của nó là việc hết sức quan trọng. Trong Atlat ngôn ngữ được dùng là
những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ...
Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và
từ đó phân tích chính xác hơn. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi tìm
hiểu nội dung Atlat phải:
- Hiểu hệ thống ký, ước hiệu bản đồ (trang 3 của Atlat).
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên bản
đồ, biểu đồ trong Atlat. Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tự nhiên
và kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học.
Ví dụ, câu: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 6 - 7, cho biết vùng thềm lục
địa khu vực Nam Trung Bộ có đặc điểm?
A. vùng biển nông, rộng
B. vùng thềm lục địa hẹp, sâu.
C. vùng thềm lục địa mở rộng, đáy nông
D. vùng thềm lục địa nông, hẹp.
Đáp án: B
D. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ.
Đáp án: C
Câu này trong Atlat trang 15 ở phần chú thích đã ghi rất rõ quy mô dân số các
đô thị nên học sinh chỉ cần nhìn vào trang 15 là chọn được đáp án đúng.
Trong đề thi minh họa THPT QG năm học 2017 - 2018 chủ yếu là dạng kỹ
năng nhận biết. Cho nên với phần kỹ năng này tôi lại tập trung chủ yếu cho đối
tượng học sinh lười học để tránh điểm liệt. Khi dạy cho các em thì các em mới
vỡ lẽ ra rằng môn Địa dễ học, chỉ cần chú ý cô giảng phần này là mình đã được
2 điểm. Từ đó các em đã có niềm vui trong học tập. Đồng thời, tôi vừa dạy vừa
phân tích cho các em thấy để so sánh, đó là học cả chương trình lớp 11 khi đi thi
được có 2 điểm. Còn phần Atlat chỉ học một buổi đã được 2 điểm.
2.3.1.4. Đọc kĩ câu hỏi và áp dụng vào Atlat
Những câu hỏi về sự phân bố, nằm ở đâu, vùng nào… đều có thể sử dụng Atlat
Địa lí nếu học sinh chưa chắc hoặc chưa nhớ lại đáp án. Ngoài ra, các em cũng
nên dựa vào các biểu đồ trong bản đồ để khai thác tài liệu. Biết kết hợp nhiều
bản đồ trong Atlat để trả lời cho một câu hỏi. Đối với những câu hỏi có tính định
hướng, trả lời nhiều vấn đề, học sinh cần phải biết kết hợp và vận dụng nhiều
bản đồ khác nhau để đưa ra một câu trả lời chính xác nhất.
Ví dụ, câu: Cho bảng số liệu:
Bảng nhiệt độ trung bình tháng 7 của 1 số địa điểm:
Địa điểm Lạng Sơn Hà Nội Vinh Huế Quy Nhơn Tp Hồ Chí Minh
Nhiệt độ (0C)
27,0
28,9 29,6 29,4
29,7
27,1
Căn cứ vào bảng số liệu, cho biết vì sao nhiệt độ trung bình tháng 7 của các địa
điểm ở Trung Bộ cao hơn các địa điểm ở phía Bắc và phía Nam?
A. Chịu tác động của các khối khí nóng
B. Chịu tác động của tín phong Bắc bán cầu
kinh tế của nước ta giai đoạn 1990 - 2005?
A. Khu vực I chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP theo ngành.
B. Chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
C. Tốc độ chuyển dịch còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
D. Tỉ trọng khu vực II tăng, khu vực I giảm, khu vực III chưa ổn định.
Đáp án: A
Còn với câu này, học sinh có thể vận dụng Atlat trang 17, biểu đồ cơ cấu GDP
phân theo khu vực kinh tế (giai đoạn 1990 - 2005) kết hợp với phần kỹ năng
nhận xét bảng số liệu đã được học thì các em tìm ra được ngay đáp án A.
Trong quá trình dạy của mình, kỹ năng này tôi cũng tập trung cho đối tượng
học sinh khá giỏi (các em thi Đại học) là chủ yếu.
Có thể nói rằng, muốn sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam thành thạo, học sinh nên
chăm chỉ ôn tập trên Atlat, luyện đề, giải đề theo từng trang, có bộ câu hỏi về kỹ
năng sử dụng Atlat thì điểm thi sẽ cao, đồng thời tạo hứng thú trong học tập.
2.3.2. Kỹ năng sử dụng biểu đồ
2.3.2.1. Các dạng biểu đồ
- Biểu đồ cột.
- Biểu đồ đường.
- Biểu đồ cột - đường.
- Biểu đồ miền.
- Biểu đồ tròn.
Giáo viên yêu cầu các em lên vẽ các dạng biểu đồ nêu trên
2.3.2.2. Chú ý các dạng biểu đồ
- Chú ý các dạng biểu đồ cột, đường, kết hợp cột đường và miền.
+ Trục giá trị Y (trực đứng) phải có mốc giá trị cao nhất, cao hơn chuỗi số liệu.
+ Phải có mũi tên chỉ chiều tăng giá trị. Phải ghi rõ danh số (ví dụ: nghìn tấn, %,
ha…) ở đầu cột hay dọc theo cột.
+ Ghi rõ gốc tọa độ, số liệu ở biểu đồ.
+ Ghi tên biểu đồ ở trên hoặc dưới biểu đồ.
+ Cần có kí hiệu (chú giải).
Số cần tính
x 100
(đơn vị: %)
Tổng số
- Nếu bảng số liệu không cho cột tổng số, ta phải cộng các thành phần lại thành
tổng số rồi tính theo cách tính như trên.
Ví dụ, câu: Cho bảng số liệu sau:
Sản lượng lúa phân theo mùa vụ của nước ta (đơn vị: nghìn tấn)
Chia ra
Năm
Tổng số
Lúa đông xuân
Lúa hè thu Lúa mùa
19225,
1990
1
7865,6
4090,5
7269,0
10
40005,
2010
6
19216,8
11686,1
trọng GDP của khu vực công nghiệp - xây dựng tăng là:
A. 0,2%.
B. 20%.
C. 2,0%.
D. 1,2%.
Đáp án:A
2.3.2.3. Các dạng biểu đồ cụ thể
2.3.2.3.1. Biểu đồ cột
* Cột đơn
- Dùng một cột để thể hiện khác biệt về quy mô, số lượng của một đại lượng.
- Đề bài có chữ tình hình phát triển (nếu đề bài có từ tốc độ tăng trưởng, biến
động… thì vẽ biểu đồ đường).
Ví dụ : Cho bảng số liệu
Tỉ lệ dân thành thị của Việt Nam qua các năm (đơn vị %)
Năm
2004 2006 2008 2009 2014
Tỉ lệ dân thành thị 26,5
27,7
29,0
29,7
33,1
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2015, NXB thống kê 2016)
Để thể hiện tỉ lệ dân thành thị của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2014, biểu đồ nào
sau đây thích hợp nhất?
A. biểu đồ miền
B. biểu đồ tròn
C. biểu đồ cột
D. biểu đồ đường
Đáp án: C
* Cột đơn nối tiếp (cột gộp nhóm, cột ghép)
Ví dụ, câu: Cho bảng số liệu sau:
Sản lượng thủy sản nước ta giai đoạn 2005 - 2015 (Đơn vị: nghìn tấn)
Năm
2005
2010
2012
2015
Tổng số
3465,9
5047,6
6147,7
6549,7
Khai thác
1987,9
2377,7
2877,8
3036,4
Nuôi trồng
1478,0
2669,9
3269,9
3513,3
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2016, NXB thống kê 2017)
Để thể hiện sự phát triển sản lượng thủy sản nước ta giai đoạn 2005 - 2015, biểu
đồ nào sau đây là thích hợp nhất?
A. Biểu đồ đường.
B. Biểu đồ miền.
C. Biểu đồ cột chồng.
D. Biểu đò tròn.
2.3.2.3.2. Biểu đồ đường
18,5
14,9
16,7
(Nguồn niên giám thống kê Việt Nam 2013, NXB thống kê 2014)
Để thể hiện tốc độ tăng trưởng sản lượng điện, than và dầu thô của nước ta giai
đoạn 1995 - 2012, biểu đồ nào sau đây thích hợp nhất?
A. Biểu đồ tròn
B. Biểu đồ đường
C. Biểu đồ miền
D. Biểu đồ cột
12
Đáp án: B.
2.3.2.3.3. Biểu đồ kết hợp cột đường
- Đề bài có từ thể hiện sự phát triển, tình hình phát triển của 2, 3 nội dung trở lên
của 1 hoặc 2 đại lượng khác nhau.
- Biểu diễn một chuỗi thời gian khác nhau.
- Thông thường để số liệu tuyệt đối.
Ví dụ, câu: Cho bảng số liệu
Số dân và tốc độ gia tăng dân số tự nhiên của nước ta qua các năm
Tổng số dân
Dân số thành thị
Tốc độ gia tăng dân số
(nghìn người)
(nghìn người)
tự nhiên (%)
2000
77635
2010
Tổng diện tích
7,2
12,7
13,5
Diện tích rừng tự nhiên
6,8
10,2
10,3
Diện tích rừng trồng
0,4
2,5
3,2
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2011, NXB thống kê 2012)
Để thể hiện quy mô và cơ cấu diện tích rừng nước ta giai đoạn 1983 - 2010,
biểu đồ nào sau đây thích hợp nhất?
A. Biểu đồ tròn
B. Biểu đồ cột
C. Biểu đồ đường
D. Biểu đồ miền
Đáp án: A.
2.3.2.3.5. Biểu đồ miền
- Từ 4 năm trở lên.
- Đề bài có từ cơ cấu, sự chuyển dịch cơ cấu.
Ví dụ, câu: Cho bảng số liệu
Dân số Việt Nam thời kỳ 2005 - 2015 (Đơn vị: Nghìn người)
Năm
13
26,7
59,1
70,9
(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp THPT năm học 2010 - 2011,
trang 107).
Nhận xét sản lượng điện nước ta giai đoạn 1990 - 2008.
Hướng dẫn trả lời
- Nhìn chung, sản lượng điện của nước ta giai đoạn 1990 - 2008 có xu hướng
tăng: 62,1 tỉ kwh và 8,1 lần → câu tổng quát.
- Nhưng sản lượng tăng không đồng đều qua các năm:
+ Thời kỳ 1990 - 1995 tăng: 5,9 tỉ kwh.
+ Năm 1995 - 2000 tăng nhanh: 12,0 tỉ kwh.
Câu cụ thể, chi tiết
+ Giai đoạn 200 - 2008 tăng nhanh nhất: 44,2 tỉ kwh.
* Khi dạy giáo viên hướng dẫn học sinh tại sao lại có số 62,1 tỉ kwh và 8,1 lần.
Khi nhận xét bảng số liệu có 2 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1. Tăng: + Nhanh (>2 lần): lấy năm cuối chia năm đầu (ra số lần).
+ Chậm (
cấu thì phải xử lí số liệu. Cách chuyển số liệu tuyệt đối thành số liệu tương đối
(đã nêu cách tính ở trên - tính cơ cấu, tính tỉ trọng hay tính tỉ lệ).
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của nước ta (giá trị thực tế).
(Đơn vị : tỉ đồng)
Ngành
2000
2005
Nông nghiệp
129140,5
183342,4
Lâm nghiệp
7673,9
9496,2
Thuỷ sản
26498,9
63549,2
Tổng số
163313,3 256387,8
(Nguồn: bài tập trang 86 Địa lí 12 - Cơ bản của NXBGD).
a. Tính tỉ trọng của từng ngành trong giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp
và thủy sản qua các năm.
b. Nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Hướng dẫn trả lời
a. Tính tỉ trọng
Xử lí số liệu. Bảng: Tỉ trọng của giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
năm 2000 - 2005. (Đơn vị %).
Ngành
2000
2005
Chia ra
Năm
Tổng số
Lúa đông xuân Lúa hè thu Lúa mùa
19225,
1990
1
7865,6
4090,5
7269,0
40005,
2010
6
19216,8
11686,1
9102,7
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2011, NXB Thống kê, 2012)
Căn cứ vào bảng số liệu, cho biết nhận xét nào sau đây đúng về sự thay đổi cơ
cấu sản lượng lúa phân theo mùa vụ của nước ta năm 1990 và 2010?
A. Tỉ trọng lúa đông xuân tăng, hè thu giảm.
B. Tỉ trọng lúa đông xuân tăng, hè thu tăng.
C. Tỉ trọng lúa đông xuân tăng, mùa tăng.
D. Tỉ trọng lúa hè thu tăng, mùa tăng.
Đáp án: B
Cũng như các câu hỏi trắc nghiệm khác, tôi đều đặt câu hỏi cho học sinh vì sao
lại chọn đáp án này. Các em đều lí giải được, có như vậy mới tạo cho học sinh
niềm tự tin, hứng thú trong học tập.
2.3.3.3. Tìm mối quan hệ theo cột, theo hàng
Ví dụ: Cho bảng số liệu
Bảng cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn năm 1996 - 2005. (Đơn vị
2012
Cây công nghiệp hàng năm
862
806
798
730
Cây công nghiệp lâu năm
1634
1822
2011
2223
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2013, NXB thống kê 2014)
Căn cứ vào bảng số liệu, cho biết nhận xét nào sau đây không đúng về diện
tích cây công nghiệp nước ta giai đoạn 2005 - 2012?
A. Diện tích cây công nghiệp hàng năm nhiều hơn diện tích cây lâu năm.
B. Diện tích cây công nghiệp hàng năm giảm và cây lâu năm tăng.
C. Diện tích cây công nghiệp hàng năm ít hơn diện tích cây lâu năm.
D. Diện tích công nghiệp hàng năm giảm chậm, diện tích cây lâu năm tăng
nhanh.
Đáp án:A.
2.4. Hiệu quả
2.4.1. Trước khi chưa đưa các kỹ năng sử dụng Atlat, nhận dạng biểu đồ và
nhận xét bảng số liệu
Gặp những khó khăn sau:
- Chấm bài rất ức chế vì điểm của các em thấp mặc dù đề đã có rất nhiều câu kỹ
năng thực hành.
- Không những vậy có nhiều câu lý thuyết mà các em không biết cách vận dụng
Atlat vào khai thác tri thức.
- Phần kỹ năng nhận dạng biểu đồ không chính xác dạng biểu đồ, không biết
được biểu đồ thiếu hay sai nội dung nào.
+ 100% học sinh cảm thấy tự tin mình sẽ được điểm tuyệt đối ở phần kỹ năng sử
dụng Atlat, nhận dạng biểu đồ và nhận xét bảng số liệu.
2.4.4. Kết quả bài kiểm tra
Bài kiểm ta 1 tiết và bài kiểm tra học kì.
(Đơn vị: %).
Điểm
Từ 0 – 4 Từ 5 – 6 Từ 7 – 8 Từ 9 – 10
Bài kiểm tra học kì I
21,4
42,9
28,6
7,1
Bài 1 tiết học kì II
14,3
35,7
35,7
14,3
Bài kiểm tra học kì II
3,6
28,6
46,2
21,4
2.4.5. Qua trò chuyện thăm dò, phỏng vấn cho thấy.
- 100% các em ở các lớp 12A4, A7, A 9,, A10 đều rất hướng thú học tập, không
còn tâm lí ngại học, chán học, tâm lí thoải mái với kì thi THPT QG sắp tới (đối
với môn Địa lí).
- Hầu hết các em tự tin hơn, nắm được các kỹ năng cơ bản khi trả lời câu hỏi
trắc nghiệm phần thực hành.
- Các em không còn bị áp lực đến thi cử (kiến thức lớp 12 đã được tối giản
thông qua Atlat Địa lí, đặc biệt có những nội dung học sinh không cần phải nhớ
giỏi. Tôi hi vọng năm nay, nhờ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, kết quả thi
THPT QG của các lớp 12 sẽ tốt hơn, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi môn Địa lí
sẽ cao hơn năm học trước. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho
nhà trường.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Đối với giáo viên khi giảng dạy mà thấy học sinh có hướng thú, say mê, tự tin,
điểm cao môn học của mình là niềm hạnh phúc. Để có được điều đó, trước hết
đòi hỏi người giáo viên phải thật sự say mê, tâm huyết với nghề, luôn luôn tự
học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Qua áp dụng đề tài này bản
thân tôi đã rút ra được những bài học rất thiết thực:
- Đối với từng bài, câu hỏi cụ thể thì mức độ khai thác, sử dụng Atlat không
giống nhau. Vì vậy cần bám vào câu hỏi để xác định xem mình nên khai thác
kiến thức ở trang nào của Atlat là đúng và phù hợp. Trong đó cần rèn luyện cho
học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung của Atlat, nắm được cấu trúc của Atlat
Địa lí Việt Nam và đọc kĩ câu hỏi để áp dụng vào Atlat. Khi dạy giáo viên phải
đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh phân tích, giải thích, các câu hỏi phải
ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Đặc biệt, giáo viên cần hình thành thói quen cho học
sinh thường xuyên sử dụng Atlat. Còn giáo viên cũng phải ra được bộ câu hỏi
Atlat cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Dạng kỹ năng sử dụng biểu đồ, nhận xét bảng số liệu giáo viên cần giảng dạy
xúc tích, dễ hiểu và tìm ra quy luật nhận biết.
- Muốn có hiệu quả cao, chất lượng tốt, giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, có
lòng đam mê, vì học sinh thân yêu.
Trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi giáo viên phải luôn
luôn cải tiến các phương pháp giảng dạy so với các phương pháp trước đây, để
tăng tính hấp dẫn với học sinh. Ngược lại, nếu giáo viên chỉ trình bày theo kiểu
thuyết trình, vừa mệt thầy, học sinh không thích nghe, hay mất trật tự, không
thúc đẩy tính độc lập sáng tạo của trò, hiệu quả sẽ thấp. Cho nên việc rèn luyện
Địa lí. Ngoài ra, cần tham khảo đề thi các năm để tìm ra những điểm chung nhất
xây dựng thành một chuyên đề riêng về việc rèn luyện kỹ năng trên cho học
sinh.
Nhà trường cần đầu tư mua thêm một số bản đồ còn thiếu và bổ sung thêm
cuốn Atlat mới để tạo điều kiện cho giáo viên giảng dạy địa lí đạt kết quả cao.
Trên đây là toàn bộ nội dung sáng kiến kinh nghiệm của cá nhân tôi về kỹ
năng sử sụng Atlat, biểu đồ, nhận xét bảng số liệu để giúp học sinh học tập đạt
kết quả cao trong kỳ thi THPT QG. Tôi xin trình bày để đồng nghiệp tham khảo,
có thể còn những khiếm khuyết không thể tránh khỏi, rất mong ý kiến đóng góp
bổ sung của các đồng nghiệp, để sáng kiến có giá trị tốt hơn đối với công tác
giảng dạy hướng dẫn học sinh ôn tập, thi THPT QG môn Địa lí.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị.
Yên Định, ngày 10/5/2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm do tôi viết, không sao
chép của người khác.
Người viết
(Ký và ghi rõ họ tên)
Lê Thị Hoàng Lan
21
22
25