1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với nâng cao chất lượng dạy và học, từ năm học 2017-2018, Bộ
GD&ĐT chỉ đạo tất cả các Sở GD&ĐT triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà
trường gắn với thực tiễn sản xuất - kinh doanh tại địa phương. Theo đó Sở
GD&ĐT đã tập huấn, hướng dẫn ban hành nhiều công văn chỉ đạo liên quan tới
việc đẩy mạnh các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Nội dung của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được xác định trong Điều 26, Điều lệ Trường
THCS, trường THPT và trường trung học có nhiều cấp học. Việc tổ chức các
hoạt động giáo dục trong nhà trường găn với sản xuất kinh doanh ở địa phương
là một hoạt động giáo dục ngoại khóa bổ sung nâng cao chất lượng các giờ học
chính khóa. Việc khai thác các thành tố của hoạt động sản xuất, kinh doanh ở địa
bàn nhà trường đóng như là nguồn tri thức, là phương tiện dạy học, tạo môi
trường không khí học tập thân thiện, thoải mái, giúp học sinh hứng thú và phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập; học sinh được thực
hành, trải nghiệm, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong
đời sống nhiều hơn; giảm áp lực trong các giờ học lý thuyết căng thẳng, trừu
tượng trên lớp; biết trân quý những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc…
góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện, nâng cao kiến thức về kỹ năng
sống, giúp các em năng động, sáng tạo, thích nghi tốt với môi trường sống, các
em có cơ hội để thể hiện năng lực, phẩm chất qua thực tế, đồng thời góp phần
tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.
Theo công văn số 5466/BGDĐT – GDTrH, ngày 03 tháng 9 năm 2013 về
việc hướng dẫn nhiệm vụ Giáo dục Trung học trên cơ sở chương trình giáo dục
phổ thông của Bộ, các sở giáo dục và đào tạo chỉ đạo các sở giáo dục trung học
chủ động, linh hoạt sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục thông qua việc đối
chiếu, rà soát nội dung giữa các môn học để điều chỉnh nội dung dạy học theo
hướng tích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương,
đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng và thái độ của từng cấp học.
Trong chương trình giáo dục trung học phổ thông, bộ môn Công nghệ lớp
10 là môn học thuộc lĩnh vực khoa học thực nghiệm. Để đáp ứng được nhu cầu
+ Phần 1: Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Chương I: Đất trồng và phân bón,
Bài 7: Thành phần và tính chất của đất; Chương III: Bảo quản và chế biến lương
thực thực phẩm, Bài 42: Bảo quản lương thực, thực phẩm, Bài 44: Chế biến
lương thực, thực phẩm
+ Phần 2: Tạo lập doanh nghiệp, Chương IV: Doanh nghiệp và lựa chọn
lĩnh vực kinh doanh, Bài 50: Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, Bài 51: Lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, Bài 52: Thực hành lựa chọn cơ
hội kinh doanh, Bài 56 : Thực hành xây dựng kế hoạch kinh doanh.
- Đối tượng nghiên cứu thực hiện: tổng số 398 học sinh thuộc khối lớp 10
Trường THPT Hà Trung năm học 2017-2018 (gồm 10 lớp: 10A, 10B, 10C, 10D,
10Đ, 10E,10G, 10H, 10I, 10K)
- Thời gian thực hiện đề tài: trong năm học 2017-2018 ( Tháng 9/2017 –
04/2018)
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp điều tra, phương pháp thực hành, phương pháp
thống kê và phương pháp tổng hợp.
1.4.1. Phương pháp điều tra:
a - Điều tra nắm bắt nhu cầu của học sinh: gián tiếp thông qua Phiếu thăm do
và trực tiếp thông qua trao đổi , tiếp xúc với học sinh trong quá trình giảng dạy.
Có 398/398 học sinh (100 %) được hỏi cho rằng các em rất là thích hình
thức Ngoại khoá trên lớp và được tổ chức đi tham quan thực tế các Cơ sở sản
xuất, kinh doanh được tổ chức thực hiện tiết học thực tế ngay tại nơi sản xuất ở
phạm vi gia đình hoặc doanh nghiệp, công ty.
Lý do: thông qua Hoạt động Ngoại khóa giúp các em đào sâu hơn kiến
thức môn học, được thoải mái trao đổi, phát biểu quan điểm của mình, vấn đề và
nội dung học tập được giải quyêt thỏa đáng nhưng nhẹ nhàng, thích thú. Con đối
với hoạt động Ngoại khóa tìm hiểu thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh ở Cơ
sở sản xuất, qua mỗi lần đến tham quan, các em thu thập được kinh nghiệm thực
1.4.3. Phương pháp thống kê, tổng hợp:
a- Thống kê, tổng hợp số liệu về nhu cầu tham quan thực tế của học sinh.
Qua phát phiếu thăm do nhu cầu của học sinh, giáo viên tổng hợp làm cơ
sở đề xuất với lãnh đạo trường về việc tổ chức tham quan thực tế bên ngoài nhà
trường.
b- Thống kê số lượt, số lần tổ chức Ngoại khóa và tham quan thực tế trong
năm học.
Sau mỗi lượt tổ chức tham quan thực tế, giáo viên tập hợp thông tin thu
thập được báo cáo với lãnh đạo đơn vị về kết quả tham quan.
c- Thống kê những kiến nghị, đề xuất của học sinh sau khi tham quan
thực tế.
Giáo viên thống kê những ý kiến đề xuất hay của học sinh để nghiên cứu
vận dụng cho thời gian tới.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm về học Ngoại khóa.
Học ngoại khoá là những giờ học được thực hiện ngoài giờ học chính
khoá theo thời khoá biểu định sẵn của một trung tâm, một tổ chức đào tạo hay
một trường học bầt kỳ nào đó nhằm mang lại hiệu quả học tập cao nhất cho học
sinh, sinh viên. Chính vì học ngoại khoá không phải là những giờ học bắt buộc
nên thường tạo tâm lý thoải mái cho cả người dạy lẫn người học.
Hoạt động ngoại khóa là mô hình hoạt động rất hữu ích, Sau những giờ
học tập căng thẳng trên lớp, thời gian dành cho những hoạt động ngoại khóa
giúp học sinh chủ động tham gia, vui vẻ xả stress, nâng cao kĩ năng sống. Tham
gia các hoạt động ngoại khóa, học sinh con có điều kiện gần gũi nhau hơn, chia
sẻ kiến thức mà mình đã học tập được, rèn luyện bản lĩnh tuổi trẻ, tính tự lập, sự
nhanh nhẹn, tháo vát và tinh thần tương thân, tương ái trong quan hệ cộng đồng,
bàn bè.
thực hiện tự chủ trong việc xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, kế
hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh, tăng cường năng lực
thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ
năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật… do nhà trường phổ thông ban
hành.
- Công văn 4099/BGDĐT-GDTrH, ngày 05 tháng 8 năm 2014 về việc
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học. Tăng cường chỉ đạo thực
hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Khái quát đặc điểm tình hình địa phương có ảnh hưởng đến đề tài:
Huyện Hà Trung là địa bàn nông thôn, Dân số: 125.893 người (2011)
Mật độ dân số: 483 người/km2
Bao gồm thị trấn Hà Trung và 25 xã: Hà Long, Hà Giang, Hà Tiến, Hà
Bắc, Hà Tân, Hà Lĩnh, Hà Đông, Hà Sơn, Hà Vinh, Hà Yên, Hà Dương, Hà Vân,
Hà Thanh, Hà Bình, Hà Lai, Hà Châu, Hà Ninh, Hà Thái, Hà Hải, Hà Phong, Hà
Lân, Hà Phú, Hà Ngọc và Hà Toại.
Kinh tế tập trung chủ yếu là nông nghiệp, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi
và trồng rừng. Ngoài ra con có các hoạt động công nghiệp, xây dựng, thương
mại, dịch vụ, du lịch và tiểu thủ công nghiệp.
Những tiềm năng và thế mạnh của huyện:
- Sản xuất nông nghiệp là chính gồm lúa chất lượng cao, đất đai thích hợp
trồng cây ăn trái, trồng rừng ngoài ra con nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nhất là phát triển du lịch.
Những ngành, lĩnh vực kêu gọi đầu tư:
- Chế biến hàng nông sản: lúa gạo, trái cây, thuỷ sản
- Các cụm công nghiệp làng nghề (Sản xuất giầy da, chế biến lương thực,
trái cây, thực ăn gia súc, cơ khí...).
- Du lịch (cơ sở hạ tầng, dịch vụ)
viên chức và tiểu thương buôn bán nhỏ tại địa phương. Tỉ lệ học sinh con gia
đình nghèo chiếm gần 3%. Đa số học sinh ở vùng nông thôn gia đình sinh sống
bằng nông nghiệp. Số ít học sinh sống ở khu dân cư, phố chợ thì gia đình sinh
sống bằng nghề buôn bán hoặc làm dịch vụ. Vì vậy, môn Công nghệ là môn học
khá gần gũi đối với các em trong đời sống thực tế với nội dung kiến thức về
Nông lâm ngư nghiệp và Tạo lập doanh nghiệp, được các em tiếp nhận và học
tập với thái độ nghiêm túc.
2.3. Thực trạng dạy và học bộ môn Công nghệ lớp 10 ở Trường THPT
Hà Trung
Sau khi thay đổi cơ cấu phân phối chương trình, phần Lý thuyết và Thực
hành đã được quy định giảng dạy hợp lý hơn. Trong tổng số 55 tiết học của 37
tuần trong cả năm học, có tổng số 34 tiết học lý thuyết trên lớp, 09 tiết thực hành
ở Phong bộ môn , 05 tiết Ngoại khóa trên lớp và 08 tiết (02 buổi) tham quan
thực tế cơ sở sản xuất bên ngoài nhà trường. Như vậy, số tiết thực hành và tham
quan thực tế cơ bản phù hợp so với thời lượng tổng thể của chương trình, và
phần nào thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu thực tế của học sinh.
Nhìn chung, việc triển khai giảng dạy môn Công nghệ lớp 10 ở Trường
Trung Học Phổ Thông Hà Trung cơ bản thuận lợi, đảm bảo về thực hiện chương
trình, nội dung giảng dạy và thiết bị dạy học.
- Về phân phối chương trình: thực hiện phân phối chương trình theo đúng
quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa theo hướng phù hợp với tình
hình đơn vị; giản lược bớt các nội dung, các bài, chương khó thực hiện hoặc
không sát với thực tế địa phương. Theo đó, Tổ chuyên môn đã thống nhất đề
nghị Lãnh đạo Trường và Lãnh đạo Sở phê duyệt các nội dung giản lược bớt là:
+ Chương 2. Chăn nuôi, thủy sản đại cương
+ Tuần 10, Tiết 10, Bài 10: Biện pháp cải tạo và sử dụng đất mặn và đất phèn.
+ Tuần 11, Tiết 11, Bài 11: Thực hành quan sát phẫu diện của đất
+ Tuần 15, Tiết 15, Bài 14: Thực hành trồng cây trong dung dịch
+ Tuần 22, Tiết 25, Bài 43,46 Bảo quản, chế biến sản phẩm chăn nuôi,
thuỷ sản.
Gíao dục và Đào tạo Thanh Hóa, trong chương trình có tổ chức tiết học ngoại
khóa nhưng số lượng con ít và nội dung chưa sinh động, chưa mang tính thực
tiễn cao.
- Những việc chưa làm được: chưa tổ chức nhiều tiết học ngoại khóa
thực tiễn đáp ứng theo yêu cầu của học sinh. Các tiết ngoại khoá trên lớp nội
dung con hạn chế, xơ cứng, ít thu hút học sinh.
- Kết quả giáo dục chưa đạt yêu cầu so với lý luận: Học sinh tuy nắm
được kiến thức lý luận nhưng con thiếu kiến thức thực tế.
Ví dụ: Học phần Tạo lập doanh nghiệp, khi được hỏi bài, các em định
nghĩa đúng các khái niệm về kinh doanh, doanh nghiệp, công ty, các mô hình
cấu trúc của các loại hình doanh nghiệp…Nhưng khi được yêu cầu phân loại mô
hình cấu trúc của một số doanh nghiệp đang hoạt động ở địa phương thì các em
rất lúng túng; hoặc khi được yêu cầu liệt kê tên gọi một số Cơ sở sản xuất ở địa
phương hay phân tích điều kiện kinh doanh của vài Cơ sở sản xuất…. thì các em
không thực hiện được. Mặc dù điều này không ảnh hưởng lớn đến điểm số của
các em trong các bài kiểm tra nhưng vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu dạy học
toàn diện của bộ môn về mặt trang bị kiến thức thực tế từ hoạt động thực tiễn.
2.4.1. Đánh giá ưu khuyết điểm và nguyên nhân của thực trạng:
- Ưu điểm:
Nhìn chung, thực trạng dạy học môn Công nghệ ở trường THPT Hà Trung
trong thời gian qua về cơ bản đạt yêu cầu. Giáo viên có quan tâm đổi mới
phương pháp giảng dạy, tích cực soạn giảng, thực hiện hồ sơ sổ sách đúng quy
định. Tổ chuyên môn và nhà trường quan tâm xây dựng chương trình theo
hướng phù hợp, khả thi, thực tế. Học sinh có thái độ học tập tốt, tích cực hợp tác
với giáo viên và đạt được kết quả học tập cao. Có thể nói, đối với những học
sinh siêng năng, chịu khó, học đồng đều các môn thì điểm số đạt được của môn
Công nghệ đã giúp các em được nâng lên kết quả trung bình các môn, tạo điều
kiện cho các em đạt được học lực loại khá giỏi rất nhiều. Như vậy, môn học này
của Đất trồng. Các vai tro chính của Đất gồm: là môi trường sống chủ yếu của
cây; cung cấp chất dinh dưỡng cho cây; là giá thể của cây; là nơi xảy ra các quá
trình khoáng hóa, mùn hóa có lợi cho cây. Từ đó, học sinh rút ra ý nghĩa của
việc không ngừng cải tạo đất.
- Tuần 11, tiết 11, Bài 11 “ Các loại đất trồng ở Việt nam”
Giáo viên đưa ra Chủ đề “ Các loại đất trồng ở Việt nam”. Yêu cầu các
nhóm học sinh sưu tầm về các nhóm đất này chuẩn bị tư liệu và phim ảnh,
phóng sự về các loại đất trồng ở Việt nam , giáo viên trình chiếu các sản phẩm
của từng nhóm đã chuẩn bị, yêu cầu đại diện nhóm trình bày, thảo luận... Kết
luận chung: Các nhóm đất trồng chính ở Việt Nam gồm: đất đỏ badan, đất phù
sa, đất mặn, đất phèn, đất xám bạc màu, đất cát ven biển. Từ đó học sinh rút ra
kết luận về đặc điểm vai tro của từng loại đất trong việc tạo nên tính đa dạng các
loại thực vật ở Việt Nam.
- Tuần 22 – Tiết 25 “Thực phẩm và sức khỏe học sinh”
Giáo viên đưa ra chủ đề “Thực phẩm và sức khỏe học sinh”
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị các tư liệu, phim ảnh về các phương
pháp bảo quản, chế biến và vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay.
Giáo viên trình chiếu, học sinh tham luận và báo cáo các nội dung của
nhóm đã chuẩn bị, giáo viên phân tích đánh giá và cho điểm về công tác chuẩn
bị và báo cáo của từng nhóm
Tiết ngoại khoá này giúp học sinh có sự quan tâm đúng về việc chọn thực
phẩm trong ăn uống hàng ngày để đảm bảo sức khỏe. Biết rõ các phương pháp
bảo quản, các phương pháp chế biến, nhận dạng được thực phẩm bị ôi thiu, quá
hạn dùng, có sử dụng phẩm màu, hóa chất bảo quản…. giúp học sinh tránh xa sử
dụng các loại thực phẩm có nhiều nguy cơ gây hại cho sức khỏe như bị ngộ độc,
gây tổn hại về lâu dài… Nhất là việc ăn hàng rong, ăn quà vặt đối với các em
học sinh hiện nay.
* Thực hiện tiết học Ngoại khóa Tham quan thực tế Cơ sở sản xuất
TNHH Giầy Venus Việt Nam (Cách trường THPT Hà Trung 500m rất thuận lợi
cho các em đi lại tham quan,) Các nội dung chuẩn bị của giáo viên tương tự như
phần tham quan Cơ sở sản xuất Xí nghiệp May Bỉm Sơn - Công ty CP May 10
Ngoài ra, giáo viên cấn lưu ý thêm đối với học sinh khi tham quan tại đây:
+ Có thái độ nghiêm túc khi vào tiếp cận trực tiếp ở các phân xưởng sản xuất
+ Bảo đảm vệ sinh lao động khi vào tham quan các kho ( không lưu lại
quá lâu trong kho, không sờ mó sản phẩm trong kho, không tự tiện điều chỉnh
nhiệt độ của kho…)
+ Chú ý trong giao tiếp khi tro chuyện, tiếp xúc với công nhân, cán bộ
quản lý để thu thập thông tin
+ Tìm hiểu kỹ về thị trường tiêu thụ của mặt hàng xuất khẩu ( Đài
Loan, Trung Quốc…)
* Tổng hợp kết quả thực hiện hoạt động tham quan thực tế cơ sở sản xuất:
T
T
1
Thời
gian/Ngoại
Cơ sở
Khóa
sản xuất
(Buổi
chiều)
NK 1
Công ty
05/03/2018 may10
NK 2
Bỉm Sơn
-Thầy giáo:
Đỗ Ngọc Khoa giáo viên
giảng dạy môn công
nghệ 10
- Thầy giáo:
Nguyễn Văn Dũng
( Bí thư Đoàn trường)
(Có danh sách )
2
2
Tham
quan cơ
sở sản
xuất
NK 1
giầy da
07/04/2018 Venus
NK 2
(Cách
- 14/4/2018 trường
THPT
Hà
Trung
500m)
giáo viên xếp lịch đi thực tế, trong quá trình tham quan các em đều chấp hành
tốt quy định, tuân theo hướng dẫn của giáo viên và chủ Cơ sở sản xuất, có thái
độ nghiêm túc, cầu thị, học hỏi, ứng xử lễ phép, đúng mực, thực hiện nghiêm
chỉnh giờ giấc, đảm bảo an toàn giao thông. Cả 10 lớp với 05 lượt đi tham quan
thực tế đều giữ đúng sĩ số và nộp đủ Phiếu thu hoạch cho giáo viên.
- Một số học sinh có khả năng quan sát tốt, biết chọn lọc thông tin, thu
thập được những nội dung cơ bản cần tìm hiểu ở các cơ sở sản xuất, có những
kiến nghị đề xuất hay, thể hiện qua Bài thu hoạch có chất lượng tốt. Cụ thể như:
- Em: Nguyễn Trọng Hiếu – lớp 10B: Có đề xuất hay về xử lý chất thải.
- Em: Tạ Thảo Vân – lớp 10H: Ý tưởng nghề nghiệp cho bản thân phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế ở địa phương.
- Em: Nguyễn Thị Thúy– lớp 10E: Có ý tưởng mới về sản phẩm Giầy do em thiết kế.
- Em : Nguyễn Văn Ngôn– lớp 10K: Có ý tưởng lựa chọn nghề nghiệp đối
với học sinh học không khá.
Sau khi tham gia hoạt động tham quan thực tế, trở về trường học tiếp các
tiết học lý thuyết trên lớp, hầu hết các em học sinh đều tỏ ra phấn chấn, hứng
khởi, hăng say hơn trong học tập. Các em mạnh dạn hơn trong việc phát biểu ý
kiến, đề nghị, trao đổi, tro chuyện với giáo viên về các vấn đề liên quan đến nội
dung môn học. Mối quan hệ thầy tro ngày càng gần gũi thân thiện hơn.
2.5.1. Bài học kinh nghiệm:
Thông qua việc tổ chức hoạt động Ngoại khóa cho học sinh lớp 10 ở
Trường THPT Hà Trung năm học 2017- 2018, bản thân rút ra được những kinh
nghiệm như sau:
- Giáo viên bộ môn cần có sự sáng tạo, năng động, chịu khó trong công
tác dạy học, từ đó tích cực tìm biện pháp tăng cường tính đa dạng hóa hình thức
dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh.
- Giáo viên bộ môn phải có sự chủ động trong việc lập kế hoạch, lên
phương án về thời gian, địa điểm, đối tượng tham quan thực tế, mạnh dạn đề
người thầy se không có tính thuyết phục cao và thiếu tính thực tế.
Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo là tạo điều kiện cho học sinh
bộc lộ năng lực, sở trường, hứng thú của mình đối với một lĩnh vực, một ngành
nghề, một công việc nào đó. Thông qua hoạt động gắn với sản xuất kinh doanh
của địa phương, người giáo viên se định hướng cho học sinh xác định con đường
phát triển sau khi tốt nghiệp THPT như chọn ngành học ở ĐH, CĐ; chọn ngành
nghề trong học nghề hoặc trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh địa
phương...
Về phía học sinh, bài học ngoài trời bao giờ cũng đầy hứng thú đối với
các em. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”
Người thầy giáo phải luôn gương mẫu trong học tập, trau dồi trình độ
chuyên môn, tri thức khoa học, phải là tấm gương tự học với quan niệm “Sự học
không bao giờ cùng” để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại trong quá
trình xây dựng và phát triển đất nước trước tình hình mới. Đặc biệt là trong bối
cảnh khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì tấm gương tự học
của người thầy càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tài năng se giúp cho
người dạy nắm vững và nhuần nhuyễn nội dung hệ thống các kiến thức cơ bản
của môn học, khả năng phát hiện vấn đề bổ sung vào nội dung bài giảng; tài
năng nghiệp vụ sư phạm thể hiện ở việc áp dụng các phương pháp giảng dạy,
khả năng trình bày và khả năng xử lý các tình huống sư phạm trong quá trình
giảng dạy. Kết hợp được giữa nội dung và phương pháp se làm cho bài giảng
thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn và có hiệu quả cao, làm cho người học
hứng thú, say mê, tránh nhàm chán, tích cực nghiên cứu tạo cho học sinh những
bài học ấn tượng mới mẻ và hấp dẫn, vì tương lai của các em, vì sự nghiệp
“Trăm năm trồng người”.
3.2. Kiến nghị
- Đối với Sở GD-ĐT: Nên tổ chức tập huấn thường xuyên các lớp: “Xây
dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh và