MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
I. Mở đầu
TRANG
1.1. Lí do chọn đề tài
1
12. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
1.5. Những điểm mới của SKKN
II. NỘI DUNG
2
2.1. Cở sở lí luận
3
11
2.3.4. Các dạng so sánh
14
2.3.5. Kĩ năng làm bài
16
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
27
2.4.1. Phạm vi ứng dụng
27
2.4.2. Đối tượng ứng dụng
27
2.4.3. Kết quả thực nghiệm
27
III. KẾT LUẬN
28
luận văn học kiểu so sánh. Đặc biệt là đề thi minh họa của bộ giáo dục và
đào tạo năm 2018 đã đưa ra dạng đề liên hệ so sánh. Đây là dạng đề khó,
yêu cầu học sinh không chỉ vững về kiến thức mà còn phải vững cả về kĩ
năng, vừa phải có khả năng cảm thụ sâu ở mức độ chi tiết, vừa phải có khả
năng khái quát tổng hợp ở mức độ cao. Có khi so sánh nhân vật, chi tiết,
đoạn thơ… ở tác phẩm này với tác phẩm kia, có khi so sánh hai nhân vật
ngay trong một tác phẩm.
So sánh là một cách thức, một phương pháp trình bày khi làm bài
văn nghị luận hay nói cách khác là một kiểu bài nghị luận thì trong chương
trình sách giáo khoa Ngữ Văn THPT hầu như không có bài học nào ở phân
môn Làm văn cung cấp cho học sinh kĩ năng này, chưa có một bài lí thuyết
2
cụ thể nào mang tính định hướng, gợi dẫn. Vì thế, giáo viên cần giúp học
sinh nắm được đặc trưng, mục đích, yêu cầu và cách thức làm bài dạng đề
so sánh là vô cùng cần thiết, nhất là với học sinh 12 sắp thi THPT và xét
tuyển đại học – cao đẳng năm 2018.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Kĩ năng làm bài
nghị luận văn học dạng so sánh trong kì thi THPT Quốc gia”. Đây là một
đề tài có tính thực tế đối với môn văn trong kì thi THPT Quốc gia 2018, đề
cập đến một cách căn bản đầy đủ (cả về lý thuyết và thực hành). Đề tài góp
phần giải quyết những yếu kém về kĩ năng làm văn cho học sinh đồng thời
tạo nên hứng thú tích cực trong lĩnh hội kiến thức văn học, tránh được sự
đơn điệu, nhàm chán - một vấn đề nan giải trong việc dạy - học môn Văn
hiện nay.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích là nhằm tìm ra những giải pháp, cách thức phù hợp để giúp
học sinh nắm vững kỹ năng làm bài dạng so sánh văn học đạt kết quả cao
trong kì thi THPT Quốc gia.
định đến chất lượng con người- sản phẩm của giáo dục, trong hiện tại và
tương lai. Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ
thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang phương pháp dạy
học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, chủ động,
sáng tạo; rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng
vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong
thực tiễn cuộc sống; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập cho học
sinh. Yêu cầu của đổi mới dạy học dẫn đến yêu cầu của đổi mới cách ra đề
kiểm tra, đánh giá học sinh. Điều này phù hợp với yêu cầu về “đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục”. Đối với môn Ngữ văn, trong đó có phân môn
Tập làm văn học sinh sẽ được rèn luyện các thao tác lập luận như: so sánh,
phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận… Để rồi từ đó vận dụng, thực
hành làm bài văn nghị luận với các dạng đề nêu trên. Tuy nhiên, với kiểu
đề bài dạng so sánh đối với học sinh là một yêu cầu cao.
So sánh vốn dĩ là một thao tác của tư duy. Trong quá trình nhận thức
thế giới khách quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng giúp con người phát hiện
4
những cái mới, cái khác biệt. Đối với việc tiếp cận một vấn đề về văn
chương nghệ thuật, so sánh thường hướng tới hai mục đích chính:
- Thứ nhất: Chỉ ra những nét riêng, độc đáo, sáng tạo; phát hiện
những vẻ đẹp văn chương không lặp lại, những đóng góp cụ thể của nhà
văn…Làm được như thế việc tiếp cận vấn đề mới đầy đủ và chu đáo.
- Thứ hai: Phát hiện những quy luật chung giữa các tác phẩm, các tác
giả hoặc các giai đoạn, trào lưu, trường phái văn học…Việc rút ra những
quy luật chung giúp cho việc tiếp cận trở nên sâu sắc hơn, vững chắc hơn,
từ đó đặt nền móng cho những phát hiện mới mẻ khác…
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Qua giảng dạy của giáo viên
vừa tự rút kinh nghiệm, vừa có thêm tài liệu tham khảo…
2.2.3. Thực tiễn đề thi và đáp án của bộ giáo dục
Từ thực tế các đề thi THPT Quốc gia, đề thi đại học trong những
năm vừa qua, chúng tôi nhận thấy có những dạng và cấp độ so sánh như
sau:
- Đề minh họa 2018 của bộ giáo dục: Cảm nhận của anh/chị về hình
tượng người lái đò trong cảnh vượt thác (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn
Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016). Từ đó liên hệ
với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù - Nguyễn
Tuân, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét
quan niệm của nhà văn về vẻ đẹp con người.
- Đề khối D năm 2010. So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm: So
sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết
bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo.
- Đề khối C năm 2010. So sánh hai đoạn văn (khắc họa vẻ đẹp hai
dòng sông) trong hai bài kí: Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai
đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Đề khối C năm 2009. So sánh hai nhân vật (vẻ đẹp khuất lấp) của:
người vợ nhặt trong Vợ nhặt của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong
Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
- Đề khối C năm 2008. So sánh hai đoạn thơ (diễn tả nỗi nhớ) trong
hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng và Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên.
6
Như vậy đề thi đại học trong những năm gần đây đã chú ý đến dạng
đề so sánh. Đây là dạng đề khó, còn mới trong chương trình ngữ văn chưa
có bài học học lí thuyết nào đề cập đến vấn đề này. Chính vì thế học sinh
khi gặp dạng này còn lúng túng, kể cả đáp án trong đề thi cũng còn những ý
kiến cần trao đổi thêm.
mục đích của so sánh là để làm nổi bật vấn vấn đề nào đó, không so sánh
một cách chung chung, dẫn đến việc khẳng định hoặc phủ định thiếu sức
thuyết phục. So sánh phải dựa trên cùng một tiêu chí, chung một bình diện.
Trước khi tiến hành so sánh phải xác định được đối tượng so sánh và đối
tượng được so sánh, mục đích so sánh… Muốn trang bị cho học sinh kĩ
năng so sánh trong văn nghị luận chúng ta không chỉ dừng lại ở lí thuyết
mà phải cho học sinh thực hành. Thực hành từ việc luyện viết câu văn so
sánh, đoạn văn so sánh, phân tích thấy được hiệu quả, giá trị của thao tác
luận so sánh. Tính lập luận của so sánh có thể được thực hiện bằng một câu,
nhưng cũng có thể được người viết trình bày trong một đoạn văn hoặc cả bài
văn. Việc sử dụng thao tác lập luận này trong một câu, một đoạn hay thậm chí
cả bài đều gắn với mục đích và dụng ý của người viết. Khi sử dụng thao tác
lập luận so sánh, người viết không chú trọng tới độ dài ngắn của lập luận mà
đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng các yếu tố so sánh và làm như thế nào đó
để hướng người đọc tới nhận thức, chân lý hay kết luận cuối cùng cần nêu ra.
Chẳng hạn, khi nêu ra những nhận xét về cách viết văn của một số nhà
văn hiện thực, Nguyễn Tuân có viết: “Làm sao trong đêm tối ngày xưa đó,
Ngô Tất Tố đã mò ra được những thực tế đó và trong đêm tối, ông lụi hụi
thắp được bó hương mà tự mình soi đường cho nhân vật mình đi? Lúc đó,
không phải là không ai nói về làng xóm dân cày, nhưng người ta nói năng
khác ông, người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư
tiều tiều canh canh mục mục. Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi
loạn. Cái cách viết như thế, cái cách dựng truyện như thế, không là phát động
quần chúng nông dân chống quan Tây, chống vua ta thì còn là cái gì nữa!”
(Ngữ văn 11, tập I, Nxb GD).
Bằng thao tác lập luận so sánh, Nguyễn Tuân đã chỉ ra ý nghĩa ẩn sau
những mảnh đời đi vào mỗi trang viết của Ngô Tất Tố. Trong xã hội cũ, dưới
sự kiểm soát gắt gay của thực dân và phong kiến, Ngô Tất Tố đã tìm ra cho
8
dân. Cả hai đoạn đoạn thơ đều lấy nhân dân làm đối tượng để miêu tả nhận
9
thức, nhưng sự gặp gỡ nhân dân trong đoạn thơ Chế Lan Viên là sự thức
tỉnh, thay đổi của lối sống và cả quan niệm sáng tác. Gặp lại nhân dân là
được trở về với cội nguồn tuổi thơ của sự sáng tạo nghệ thuật (nai về suối
cũ); gặp lại nhân dân như một cơ hội tự nhiên thuận lợi để phát triển tài
năng (cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa); gặp lại nhân dân như một
nguồn nuôi dưỡng, động viên kịp thời không thể thiếu (đứa trẻ thơ đói lòng
gặp sữa/ Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa).
Đối tượng Nhân Dân được đề cập trong đoạn thơ Nguyễn Khoa
Điềm là để khẳng định, ca ngợi vai trò sáng tạo và làm nên lịch sử của
những con người lao động bình thường. Không ai nhớ mặt đặt tên nhưng
chính họ là những người đã làm nên sự kì vĩ nhất không gì có thể so sánh:
Đất Nước. Họ đã tạo dựng được một nền văn minh lúa nước từ hàng nghìn
năm trước (giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng). Họ đã làm ra và giữ gìn
ngọn lửa đoàn kết, ngọn lửa nuôi sống con người theo cả nghĩa đen lẫn
nghĩa bóng (chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi). Họ sáng tạo
và truyền lại ngôn ngữ của chính mình, của bản sắc văn hóa Việt, mà cả
ngàn năm dân tộc bị nô lệ, kẻ thù phương bắc không thể đồng hóa (truyền
giọng điệu mình cho con tập nói). Họ di dân về phương nam để kiếm sống,
lập nghiệp; để mở mang bờ cõi nhưng vẫn gánh theo tên xã tên làng cho
con cháu đời sau không quên nguồn cội. Họ luôn đánh thắng giặc ngoại
xâm cho quê hương bờ cõi trường tồn... Vì tất cả những lí do đó mà nhà thơ
đã vinh danh họ: Đất Nước Nhân Dân.
Bước hai: Nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau.
Bước này đòi hỏi học sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiện chính
xác và diễn đạt thật nổi bật, rõ nét, tránh nói chung chung, mơ hồ. Ở bước
này, để có được những phân tích, cảm nhận sâu sắc từ việc so sánh, người
Kim Lân và Một đám cưới của Nam Cao. Sự khác biệt xuất phát từ hai
phương pháp sáng tác và hai phong cách nghệ thuật khác nhau, bối cảnh xã
hội khi tác giả viết tác phẩm. Tác phẩm của Nam Cao với văn học hiện
thực phê phán thường miêu tả hiện trạng đời sống đang đi xuống, bế tắc.
Phong cách đặc trưng của Nam Cao là sự lạnh lùng mà đau xót, bối cảnh xã
hội Nam Cao viết tác phẩm và bối cảnh xã hội cũ. Với Kim Lân, văn học
hiện thực xã hội chủ nghĩa thường mô tả trạng thái đời sống đi lên, hướng
11
về ngày mai tươi sáng. Bối cảnh xã hội có sự thay đổi, tươi sáng. Hơn nữa,
văn phong của cây bút một lòng đi về với đất, với thuần hậu nguyên thủy
của cuộc sống nông thôn này gắn bó với giọng đôn hậu, hóm hỉnh và đầy
lạc quan.
2.3.3. Kĩ năng lập luận trong văn nghị luận
Mục đích chính của việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông là
hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập các kiểu văn bản, để
từ đó các em có năng lực thực hiện những yêu cầu cụ thể của cuộc sống.
Quá trình dạy học các thao tác lập luận là nhằm rèn cho học sinh có những
kỹ năng thiết yếu để các em có thể tạo ra những sản phẩm đúng về mặt
khoa học, có giá trị thực tiễn. Hiểu một cách đơn giản dạy học Làm văn là
hình thành và rèn luyện những kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ,
độc lập, sáng tạo khi các em sản sinh lời nói. Cũng vì thế, nội dung tri thức
của làm văn đều hướng tới việc trang bị cho các em những kỹ năng cần
thiết phục vụ cho việc tạo lập văn bản. Muốn tạo lập văn bản thì phải hình
thành các thao tác lập luận.. Vì thế, trang bị hệ thống kiến thức về thao tác
lập luận là hình thành cho học sinh kỹ năng thiết yếu về cách tổ chức lập
luận, từ đó giúp các em biết vận dụng kỹ năng ấy vào thực tế tạo lập văn
bản của bản thân. Ở chương trình Ngữ văn 11 các em được trang bị rèn
luyện các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, bình luận, bác bỏ, so
yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng liên quan, quan hệ giữa
người phân tích và đối tượng phân tích). Khi xác lập khía cạnh, người viết cần
căn cứ vào mục đích nghị luận để lựa chọn mối quan hệ cho phù hợp.
+ Sắp xếp các khía cạnh, bộ phận theo trình tự hợp lý. Đây là việc làm
nhằm tạo ra tính hệ thống, tầng bậc cho nội dung được phân tích.
+ Trình bày từng khía cạnh, từng bộ phận theo trình tự đã sắp xếp. Khi
thực hiện công đoạn này, người viết cần chú ý tới cách tạo sự liên kết giữa các
khía cạnh đã được xác định. Người viết phải huy động các yếu tố ngôn ngữ để
trình bày nội dung cụ thể, chính xác.
Bước 3: Tổng hợp. Việc tổng hợp nội dung phải đảm bảo đầy đủ các
khía cạnh; phải đánh giá đúng mối quan hệ và chỉ rõ bản chất của các khía
cạnh đã được phân chia để từ đó người tiếp nhận có cái nhìn khái quát về nội
dung nghị luận.
13
* Hình thành kỹ năng sử dụng thao tác lập luận so sánh
Không giống với thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận so sánh
là cách người nghị luận đem so sánh đối chiếu nội dung cần nghị luận với
những sự việc, hiện tượng tương đồng hoặc dị biệt để từ đó dẫn dắt người tiếp
nhận đi đến với những chân lý mới. Theo đó, khi sử dụng thao tác lập luận
này, người nghị luận tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Xác định rõ luận điểm cần nghị luận.
- Bước 2: Lựa chọn các đối tượng có những điểm tương đồng hoàn
toàn hay tương đồng có dị biệt để so sánh. Việc chọn đối tượng phải dựa trên
những tiêu chí nhất định (quan hệ, đặc điểm, ý nghĩa, giá trị tương đồng hay
đối lập với nhau).
- Bước 3: Phân tích, đánh giá các đối tượng trong sự so sánh với bản
chất nội dung nghị luận.
- Bước 4: Nêu ra những nhận định, những kết luận dựa trên sự so sánh
giúp học sinh dễ nhớ để vận dụng. Để tạo lập một văn bản nghị luận, người
viết không chỉ sử dụng một thao tác, mà cần kết hợp các thao tác lập luận,
tuy nhiên tùy vào yêu cầu cụ thể chúng ta sử dụng thao tác nào là chủ yếu.
Với dạng đề nghị luận văn học so sánh tất nhiên thao tác lập luận so sánh
phải là chủ đạo. Trên đây là một số thao tác thường gặp trong văn nghị
luận.
2.3.4. Các dạng so sánh
Như đã nói ở trên, đối tượng của văn nghị luận dạng so sánh khá
phong phú, đa dạng. Nghĩa là mỗi dạng như thế hướng tới một yêu cầu,
mục đích nhất định. Vì thế khi làm bài học sinh cần xác định được đề ra
yêu cầu nghị luận - so sánh vấn đề gì. Có thể liệt kê ra các dạng so sánh mà
chúng ta thường gặp:
- So sánh hai tác phẩm
- So sánh hai đoạn trích
- So sánh hai đề tài
- So sánh hai nhân vật hoặc hai hình tượng
- So sánh hai tình huống
- So sánh hai chi tiết
- So sánh hai bút pháp…
15
Chúng ta có thể khái quát về một số dạng và mục đích của nó như
sau:
Thứ nhất: So sánh trong phạm vi về tác giả. Có thể so sánh tác giả
này với tác giả khác cùng thời để làm nổi bật phong cách nhà văn. Ví dụ:
Xuân Diệu với Chế Lan Viên, Nam Cao với Vũ Trọng Phụng…
Thứ hai: So sánh giữa các giai đoạn sáng tác để thấy được sự vận
động, thay đổi về đề tài, chủ đề tư tưởng trong sự nghiệp sáng tác của một
nhà văn, nhà thơ. Ví dụ: Đánh giá về hai giai đoạn sáng tác của các tác giả
Trước hết cần phải hiểu kiểu bài so sánh cũng là một dạng nghị luận
văn học nói chung. Đã là văn nghị luận, thì phải dùng ý kiến, lí lẽ của mình
để bàn bạc, thuyết phục người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục
được, bên cạnh ý kiến đúng, thái độ đúng thì còn phải biết cách lập luận.
Cách lập luận được thể hiện trong bố cục bài làm, cách trình bày các luận
điểm, luận cứ… Cách làm bài nghị luận văn học dạng so sánh cũng cần
thực hiện theo các bước sau:
Bước thứ nhất: Tìm hiểu đề. Bước này cần trả lời ba câu hỏi:
Một là: Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết? Có thể viết lại rõ ràng ra
giấy. Nếu đề nổi các em dễ dàng gạch chân dưới các luận đề, còn đề chìm
cần tái hiện lại kiến thức đã học để xác định đúng vấn đề cần nghị luận.
Hai là: Đề yêu cầu nghị luận so sánh theo dạng nào, so sánh hai đoạn
thơ, hai chi tiết, hay hai nhân vật…? Tất nhiên thao tác lập luận chính là so
sánh.
Ba là: Để giải quyết vấn đề cần sử dụng dẫn chứng nào, ở đâu?
Bước thứ hai: Tìm ý và lập dàn ý.
Về tìm ý, học sinh cần trả lời một số câu hỏi như: Hai đối tượng
được đưa ra so sánh ấy chứa đựng bao nhiêu nội dung? Đó là những nội
dung nào? Qua mỗi nội dung tác giả gửi gắm thể hiện thái độ tình cảm gì?
Để chuyển tải nội dung tư tưởng ấy tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật
nào?
Về lập dàn ý, vì là một bài nghị luận nên bố cục của bài văn so sánh
văn học cũng có 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết bài. Tuy nhiên chức năng
cụ thể của từng phần, tùy vào yêu cầu đề, có thể có những điểm khác biệt
so với các kiểu bài nghị luận thông thường. Trên cơ sở thực tế bài làm của
17
học sinh, theo kinh nghiệm của chúng tôi, dàn ý khái quát của dạng bài này
có thể triển khai theo một trong hai cách sau:
+ Tương đồng
+ Khác nhau
1.5 đ
Kết bài
Nhận xét đánh giá chung về hai đối tượng
0.5 đ
Trên đây là mô hình khái quát, học sinh vận dụng mô hình khái quát
này cho dạng đề so sánh nói chung.
2.3.5.2. Một số dàn bài dạng so sánh trong nghị luận văn học
Với tính chất khuôn khổ của một sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình
bày dàn bài một số dạng nghị luận văn học so sánh thường gặp. Giúp học
sinh phân biệt được so sánh nhân vật trong văn xuôi khác so sánh nhân vật
trong thơ trữ tình, so sánh chi tiết, nhân vật khác với so sánh đoạn thơ, bài
thơ…
* Dàn bài dạng so sánh hai đoạn thơ, bài thơ
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, bài thơ (đoạn thơ) thứ nhất.
18
- Giới thiệu tác giả, bài thơ (đoạn thơ) thứ hai. (Nếu đoạn thơ ngắn
có thể trích dẫn hai đoạn thơ)
Thân bài:
- Phân tích bài thơ, đoạn thơ thứ nhất theo định hướng những điểm
tương đồng với bài thơ, đoạn thơ thứ hai. Thực chất là phân tích tâm trạng
nhân vật trữ tình, bộc lộ qua ngôn từ, hình ảnh nhịp điệu…
- Phân tích bài thơ, đoạn thơ thứ hai theo định hướng những điểm
tương đồng với bài thơ, đoạn thơ thứ nhất.
- So sánh:
+ Chỉ ra những điểm tương đồng của hai bài thơ, đoạn thơ. Tìm ra
nhân vật trong văn xuôi.
Mở bài
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài
- Làm rõ đối tượng thứ nhất: Hoàn cảnh, vị trí xuất hiện, vai trò, ý
ngĩa.. (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là
thao tác lập luận phân tích)
- Làm rõ đối tượng thứ hai: Tương tự đối tượng thứ nhất (bước này
vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân
tích)
- So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai
bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp
nhiều thao tác l ập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và
thao tác lập luận so sánh)
- Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình
diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà
văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
20
Với dạng đề này giáo viên cần lưu ý học sinh: Qua phân tích, so sánh
phải thấy được quan điểm tư tưởng nhà văn gửi gắm trong mỗi chi tiết,
nhân vật, thấy được dụng công của nhà văn trong việc lựa chọn xây dựng
chi tiết. Mỗi chi tiết hay nhân vật đều là sự sáng tạo độc đáo làm nên nét
(1938) tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám, với
cái tôi khao khát, cuồng nhiệt, khổ thơ mở đầu nói lên khao khát ấy. “Tôi
muốn…
- Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, một chiến sĩ cộng sản sắn sàng hiến
dâng cuộc đời vì lý tưởng cộng sản. “Từ ấy” (1938) gửi gắm lẽ sống đẹp,
say mê lý tưởng cách mạng. Bài thơ là tiếng reo náo nức của một cái tôi
đầy ý thức, trách nhiệm, là khao khát được cống hiến sẻ chia, bày tỏ đồng
cam cộng khổ với những người nghèo khó. “Tôi bộc…
2. Phân tích hai khổ thơ để thấy cảm xúc trữ tình, cái tôi của hai
nhà thơ.
a. Khổ thơ trong bài Vội vàng
- Điệp ngữ “tôi muốn” khẳng định ước muốn cháy bỏng đầy uy
quyền của Xuân Diệu.
- Ước muốn kì lạ táo bạo “tắt nắng” “buộc gió” thực chất là để níu
giữ hương sắc cuộc đời, để thời gian không trôi qua, cái đẹp không tàn
phai…
- Thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ ngắn, nhanh diễn đạt sự gấp gáp vội
vàng, niềm cảm xúc trào dâng mãnh liệt. Như vậy ước muốn táo bạo của
Xuân Diệu hé mở tấm lòng yêu say đắm thiên nhiên, cuộc đời, một cái tôi
khao khát giao cảm, tận hưởng, một tâm hồn nhạy cảm trước sự trôi chảy
của thời gian.
b. Khổ thơ trong bài Từ ấy
- Khổ thơ là sự nhận thức, chuyển biến trong tư tưởng và tình cảm
của người thanh niên, lần đầu bắt gặp ánh sáng lý tưởng cách mạng.
- Điệp từ “tôi buộc” khẳng định sự gắn bó và sẵn sàng hiến dâng
cuộc đời mình vì lý tưởng cách mạng
- Điệp từ “để” nhấn mạnh mục đích của sự gắn bó và mục đích đấu
tranh vì nhân dân vì những người lao khổ…
22
A. Mở bài
23
- Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt nổi bật của phong trào
Thơ Mới. Tuy cuộc đời có nhiều bi thương nhưng Hàn Mặc Tử là nhà thơ
có sức sáng tạo rất mạnh mẽ. “Đây thôn Vĩ dạ” là một bài thơ xuất sắc của
ông.
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng. “Việt Bắc” là bài thơ
tiêu biểu của ông, thể hiện tình cảm cách mạng sâu nặng đối với chiến khu
và những kỉ niệm kháng chiến
B. Thân bài
1. Cảm nhận về hai đoạn thơ
a. Đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ
- Về nội dung:
+ Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ của xứ Huế buổi bình
minh tươi mới, xanh non, tràn đầy sức sống. Và giữa thiên thiên tươi mát
ấy thấp thoáng dáng hình người con gái Huế phúc hậu. Thiên nhiên, con
người hài hòa trong một vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo.
+ Đoạn thơ còn thể hiện tâm trạng của thi nhân: niềm vui, niềm hi
vọng, khao khát, ước mong về tình yêu, hạnh phúc.
- Về nghệ thuật:
+ Sử dụng câu hỏi tu từ, đại từ phiếm chỉ “ai”, thủ pháp so sánh
(xanh như ngọc)
+ Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ chọn lọc tinh tế (về chơi, nắng mới
lên, mướt quá, mặt chữ điền…), âm hưởng đoạn thơ nhẹ nhàng, thanh khiết
b. Đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Về nội dung:
+ Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ sâu nặng, nghĩa tình của người cán bộ
cách mạng đối với quê hương Việt Bắc. Nhớ Việt Bắc “ như nhớ người
Dàn ý
A. Mở bài
- Nam Cao, cây bút hiện thực xuất sắc và thấm đẫm tinh thần nhân
đạo. Chí Phèo (1941) là kết tinh cho phong cách nghệ thuật của Nam Cao.
Chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” là một trong những chi tiết
đặc sắc thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm.
25