Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS có vị trí rất quan trọng, không chỉ
giúp các em cảm nhận được cái đẹp của tác phẩm văn chương mà đó thực sự là
những bài học làm người. Chương trình Ngữ văn THCS chia làm ba phân môn: Văn,
Tiếng Việt và Tập làm văn, trong đó ở lớp 9 thì phân môn Tập làm văn chiếm số
lượng khá lớn và quan trọng, đặc biệt là phần kiểu văn nghị luận văn học. Nghị luận
văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn tập làm văn
nói chung. Học văn nghị luận đã khó, để làm được một bài văn nghị luận hay lại
càng khó hơn. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích, đánh giá từ
khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch sử ... và đặc biệt
là kỹ năng trình bày.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, kỹ năng viết văn của học sinh lớp 9 ở trường
THCS còn nhiều hạn chế. Nhiều em còn chưa nắm chắc được các bước làm bài văn
nghị luận, chưa xác định rõ yêu cầu của đề bài. Việc sử dụng luận cứ làm sáng tỏ
luận điểm cũng như sử dụng luận cứ chưa được phù hợp do đó bài viết rời rạc, khô
khan, dùng câu, từ chưa chuẩn xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ,
chưa có sức thuyết phục.
Để viết được bài văn hay đòi hỏi học sinh cần phải có kiến thức văn học và kỹ
năng cơ bản khi viết bài. Với kiểu bài nghị luận này, học sinh phải được thực hành
luyện viết thật nhiều để các em có kỹ năng làm văn và giúp viết bài văn nghị luận
tốt hơn bởi nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt
chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục, đặc
biệt khi bày tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học lại rất cần thiết. Bởi vậy,tôi
đã giành nhiều thời gian tìm tòi nghiên cứu và rút ra “Một số biện pháp rèn kỹ
năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 - THCS” giúp hướng dẫn và
rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận
văn học nói riêng góp phần năng cao chất lượng giáo dục bộ môn trong nhà trường.
em tới đỉnh cao của cái đẹp. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Dạy làm văn
chủ yếu là dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách
trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói”...
Nghị luận văn học là một kiểu bài khó, học văn nghị luận đã khó, để làm được
một bài văn nghị luận hay lại càng khó hơn. Vì vậy việc tìm tòi và rèn luyện các kỹ
năng để làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng là vấn đề
đòi hỏi người thầy phải quan tâm rèn luyện cho học sinh, giúp học sinh phát triển
khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu
sức thuyết phục. Muốn vậy người thầy cần nắm chắc đặc trưng văn nghị luận; đặc
điểm của nghị luận văn học, các bước làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học. cụ
thể là:
- Nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận về một tác phẩm truyện (đoạn trích)
hoặc nghị luận về một bài thơ (đoạn thơ) là sự kế thừa và nâng cao kiến thức đã
cung cấp, kỹ năng rèn luyện ở các lớp trước, như ở lớp 7 các em được học phép lập
luận giải thích, lập luận chứng minh. Hay ở lớp 8, các em học khá kỹ về văn lập
luận, về cách nói, cách viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả và
biểu cảm… Ở lớp 9, các em phải vận dụng nhiều thao tác, kỹ năng giải thích, chứng
minh, phân tích, bình giảng… Điều này học sinh hiểu rõ để khi viết văn nghị luận
2
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
văn học, các em sẽ có hướng trình bày môt cách có lí , hấp dẫn về những cảm nhận,
suy nghĩ , đánh giá của mình về một vấn đề văn học thật sang tạo và hợp lí.
- Vấn đề nghị luận cần được xác định cụ thể, chính xác trước khi làm bài. Vấn
đề nghị luận chính là tư tưởng là cốt lõi, là chủ đề của một bài văn nghị luận. Nó
chính là mạch ngầm làm nêm tính thống nhất, chặt chẽ của bài văn.
- Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của văn nghị luận nói chung và nghị luận văn
3
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
Các bài
kiểm tra
Bài viết số 7
(Tiết 134, 135)
Kiểm tra truyện
hiện đại (Tiết 156)
Kiểm tra học kì
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu , kém
SL
%
SL
%
25.6
20/39
51.3
9
23.1
0
0
8/39
20.5
22/39
56.4
9/39
23.1
2.2.2 Nguyên nhân.
a. Về phía giáo viên:
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp
trực quan vào tiết học còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu bài của
Muốn làm được bài nghị luận về tác phẩm văn học phải hiểu biết về tác giả,
tác phẩm, thể loại, đề tài, nội dung, đặc sắc nghệ thuật... Tác phẩm đó hấp dẫn ở chỗ
nào, ý nghĩa của đề tài, các nhân vật,... làm cho mình thích thú, từ đó nâng lên thành
những nhận xét, nhận định về tác phẩm đó. Vì vậy mà khâu tìm hiểu đề bài là vô
cùng quan trọng.
- Tìm hiểu đề bài để xem đề bài đó yêu cầu gì? Phạm vi (giới hạn) của đề bài.
- Xác định yêu cầu của kiểu loại (phân tích, suy nghĩ, cảm nhận…) để có định
hướng làm bài. Đề bài cần chú ý các từ ngữ mệnh lệnh như: phân tích, suy nghĩ,
cảm nhận ... thì đòi hỏi bài làm phải khác nhau như thế nào (nếu là đề phân tích thì
giáo viên phải hướng dẫn, lưu ý cho học sinh đề yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu
ra nhận xét. Đề suy nghĩ thì yêu cầu đề xuất nhận xét về tác phẩm trên cơ sở một tư
tưởng, góc nhìn nào đó. Ví dụ quyền sống của con người, địa vị của người phụ nữ
trong xã hội... và lưu ý đây không phải là hai kiểu bài.
- Đối với những đề bài không có từ nghĩ mệnh lệnh, ta cần chú ý đến nội dung
yêu cầu nghị luận để lựa chọn cách làm phù hợp.
Cụ thể:
- Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần
xác định yêu cầu cụ thể của đề bài là loại bài gì? (bàn về nhân vật trong tác phẩm
(hoặc đoạn trích) ; Bàn về nội dung của tác phẩm (hoặc đoạn trích) bàn về nghệ
thuật của tác phẩm (hoặc đoạn trích) hay bàn về đề tài của tác phẩm (hoặc đoạn
trích)
Ví dụ: Khi nghị luận về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích
truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Giáo viên hướng dẫn học sinh
xác định được yêu cầu của đề: Kiểu văn bản: nghị luận về đoạn trích truyện; Nội
dung nghị luận: vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên; Phạm vi (giới hạn) của đề: anh
thanh niên trong đoạn trích truyện “Lặng lẽ SaPa”. Từ đó học sinh sẽ xác định cụ
thể nội dung cần viết.
- Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm
vi đối tượng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn thơ). Cần xác
định được đề tài và nội dung của đề bài. Hướng nghị luận (do đề quy định hay do
nghĩ như vậy ? Hành động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng cảm xúc như thế nào ? Tâm
trạng cảm xúc đó nói lên phấm chất gì của đối tượng .
Ví dụ: Khi làm bài văn nghị luận với đề: Những đặc sắc trong bài thơ “Viếng
lăng Bác” của Viễn Phương. Học sinh cần phải nắm rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ
là: Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống
nhất, lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền
Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ Viếng Lăng Bác được viết trong dịp đó và in
trong tập " Như mấy mùa xuân " (1978). Để thấy được lòng thành kính, niềm xúc
động sâu sắc của nhà thơ và tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác. Cùng
với giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm ngôn
ngữ bình dị mà cô đúc ta thấy được mong muốn của người con miền Nam là được ở
gần Bác mãi mãi, muốn làm vui làm khuây, làm vợi nỗi vắng vẻ trong lăng của con
người đã suốt đời hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, con người lúc sinh thời
đã dành trọn tình thương yêu cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt cho đồng bào
miền Nam ruột thịt.
Hay ở bài “Mùa xuân nho nhỏ”, ta thấy bài thơ được ra đời trong một hoàn
cảnh không bình thường nhưng lại làm nên giá trị phi thường của tác phẩm. Bài thơ
6
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
được Thanh Hải viết tháng 11 năm 1980, trong một hoàn cảnh – Thanh Hải đang
nằm trên giường bệnh và không bao lâu nhà thơ qua đời. Cái hoàn cảnh đó có lẽ
khiến người ta chán nản, bi quan và tuyệt vọng nhưng Thanh Hải thì không: một
niềm tin yêu cuộc sống mãnh liệt. Là sự yêu mến mùa xuân đất trời, mùa xuân đất
nước, đân tộc và hơn nữa còn muốn hóa thân mình, góp vào mùa xuân đất nước một
cách âm thầm, khiêm nhường, lặng lẽ và dài lâu, bền bĩ. Cái hoàn đó tác động rất
lớn đến bạn đọc, đến học sinh.
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
Luận điểm 4: Anh thanh niên là người khiêm tốn, biết tổ chức cuộc sống khoa
học. nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Sau khi tìm được luận điểm, hướng dẫn HS sắp xếp theo trỡnh tự hợp lớ để phù
hợp với triển khai luận điểm.
* Trình bày luận điểm:
Luận điểm trong bài văn có thể được trình bày theo 2 cách:
- Trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch: Luận điểm là câu chủ đề
đứng ở đầu đoạn, các câu sau khai triển vấn đề làm rõ luận điểm.
Ví dụ: Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải có luận điểm ở khổ 1.
Bức tranh mùa xuân hiện lên với những nét vẽ có tính chất chấm phản ánh
không gian mùa xuân tương sáng, hài hoà giữa màu sắc, đường nét, âm thanh. Đó là
hình ảnh dóng sông xanh, bông hoa tím biệc và bầu trời cao rộng, âm thanh trong
trẻo, vang vọng trong tiếng chim chiền chiện khiến mùa xuân trở nên rộn rã tươi vui,
âm thanh đó như đọng thành “từng giọt long lanh rơi”...
- Trình bày luận điểm theo phương pháp quy nạp. Luận điểm là câu chủ đề
đứng cuối đoạn, các câu phải diễn tả cụ thể, phân tích chi tiết.
Ví dụ: Nghị luận về nhân vật ông Hai trong thiên nhiên “Làng” của Kim Lân
Ông Hai yêu làng, gắn bó máu thịt với làng nhất là khi phải đi tản cư kháng chiến,
ông nhớ làng da diết khôn nguôi, đi đâu cũng khoe làng, hỏi thăm tin tức về làng.
Hơn nữa, ông muốn truyền tình cảm ấy sang đời sau con mình cũng ghi nhớ, nhà ta
ở trong làng chợ Dầu. Như thế ta thấy ông Hai là mang vẻ đẹp của người nông dân
Việt Nam truyền thống.
Ví dụ - Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích “Chiếc Lược Ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.
GV dẫn ra cách triển khai ý- lập luận trước
- Luận điểm 1: Tình cảm của bé Thu đối với cha
tác phẩm văn học, giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu, nắm chắc yêu cầu dàn bài
theo bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết bài để không nhầm lẫn với yêu cầu về bố
cục của các kiểu văn khác. Từ việc xác định được các luận điểm, giáo viên hướng
dẫn học sinh xây dựng bố cục thật rõ rang, mạch lạc.
Cụ thể đối với bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích) thì chủ yếu là nghị
luận về nhân vật văn học, cần đảm bảo đầy đủ các phần:
- Mở bài: giới thiệu tác phẩm, nhân vật và nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của
mình về tác phẩm hoặc nhân vật.
- Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nhân vật có phân tích, chứng minh
bằng luận cứ tiêu biểu, xác thực và sinh động trong tác phẩm .
- Kết bài: nêu nhận định, đánh giá chung của người viết về nhân vật nghị
luận.
Hoặc đối với bài nghị luận về một đọan thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc
theo các phần:
- Mở bài: giới thiệu về đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nhận xét, đánh giá của
người viết (nếu phân tích một đoạn thơ thì nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác
phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó).
- Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ
thuật của đoạn thơ, bài thơ.
- Kết bài: khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
9
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
Việc nắm chắc bố cục rất quan trọng, để các em có kỹ năng làm bài tốt và tránh
tình trạng thiếu ý trong bài văn. Đây là bố cục chung, từ đó giúp các vận dụng vào
từng kiểu loại một cách dễ dàng.
chông chênh, trong sự bát ngát.
Ví dụ : Khi cảm nhận về khổ thơ đầu bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, học
sinh cần chỉ ra được các từ ngữ hình ảnh điển hình:
10
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
Bỗng -> ngỡ ngàng, ngạc nhiên, bất ngờ
- Phả: Là chộn lẫn toả vào, gợi độ dày đặc của cảm giác. Hương ổi nhiều đến
mức chiếm lĩnh không gian một cách tuyệt đối triệt để phả vào trong gió. Đó là động
từ mạnh, lan toả hương thu
- Sương chùng chình: từ láy nhân hoá, cố ý chậm lại, đợi chờ điều gì.
Ngõ - Thực để sương đi qua
- Ngừ thời gian thông nối 2 mùa
- Hình như: Bối rối, nghi hoặc không chắc chắn, hỏi để thêm 1 lần khẳng định
rằng thu sang có thực là rõ nét
Ví dụ: ở khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” học sinh cần thấy được
những đặc sắc về nội dung.
- Sông xanh, hoa tím biếc -> tính từ chỉ màu sắc cho thấy bức tranh thiên
nhiên mùa xuân là sự pha trộn đặc biệt nhưng rất hài hoà của các màu sắc: tím biếc,
xanh, màu tươi thắm của bông hoa đang mọc lên giữa dòng sông xanh. Sông xanh
hoa tím biếc là đặc trưng của đất trời xứ Huế.
- Động từ “mọc” -> đảo ngữ -> gợi sức sống trỗi dậy mạnh mẽ của mùa
xuân, trỗi dậy từ đất, từ nước, một bông hoa tím nhỏ nhoi đậm sắc giữa dòng sông
xanh biếc.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “Từng giọt ... hứng” -> cảm xúc say xưa ngất
ngây của nhà thơ trước vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân, nhà thơ giang
rộng vòng tay, mở rộng tấm lòng, trân trọng nâng niu đón nhận mùa xuân. Giọt long
thuật của đoạn thơ, bài thơ. Các nhận xét đánh giá đó phải xuất phát từ ngôn từ, hình
ảnh, giọng điệu... của bài thơ. Bài nghị luận đòi hỏi trong quá trình phân tích những
yếu tố đó sao cho những nhận xét, đánh giá phải xác đáng, cụ thể.
Vậy việc đưa lời nhận xét, ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề nghị
luận khi nào? Đặt vị trí đâu cho hợp lí? Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào sự chỉ
dẫn của giáo viên một cách cụ thể đén học sinh. Việc đưa lời nhận xét, đánh giá
hoặc bày tỏ thái độ quan điểm không có một qui định bắt buộc vào lúc nào và ở đâu.
Mà điều này tùy thuộc vào từng nội dung phân tích. Ta có thể nhận xét đánh giá khái
quát ở ngay phần mở bài hoặc kết thúc bài văn (Ví dụ: khi giới thiệu về bài thơ “Bếp
lửa” ta có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá: Bài thơ “Bếp lửa” là một trong
những bài thơ được bạn đọc đón nhận và vô cùng yêu mến bởi đó là những trang
thơ đầy ắp những kỉ niệm tuổi ấu thơ khi sống bên bà....hoặc Bằng Việt viết về tuổi
ấu thơ của mình bằng sự lựa chọn nhiều chi tiết độc đáo tuy bình dị nhưng không
phải ai cũng nhận ra: “Bếp lửa”. Hoặc lời nhận xét đánh giá ở phần cuối bài văn có
tác dụng khái quát lại bài văn và làn rõ được cách nhìn nhận của người viết về vấn
đề nghị luận, chẳng hạn như: “Lặng lẽ SaPa” có nhiều nhân vật nhưng nhân vật
chính là nhân vật anh thanh niên. Các nhân vật khác xuất hiện mỗi người đều có một
nghề nghiệp, một cách nói, cách suy nghĩ, hành động cụ thể, riêng biệt nhưng đều
tập trung để làm tỏa sáng nhân vật anh thanh niên... Điều đó làm nhân vật anh thanh
niên trở nên tự nhiên, sống động hơn... Cho nên đúng như nhà văn đã tâm sự: “nghĩ
cho cùng, Lặng lẽ SaPa là một bức chân dung”.
Nhận xét đánh giá, bày tỏ ý kiến có thể từ nét đẹp của nhân vật qua lời nói,
việc làm cụ thể hoặc cũng có thể qua nghệ thuật xây dựng tác phẩm. Chẳng hạn
như: Đánh giá về nghệ thuật tạo tình huống trong truyện “Bến quê” – Nguyễn Minh
Châu đã lựa chọn đưa nghệ thuật tạo tình huống truyện thật độc đáo bởi đó là tình
huống đầy nghịch lí mang tính nhận thức (....) và ẩn chứa một triết lí (....) và từ tình
12
Sáng kiến kinh nghiệm:
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi trong thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này”
Hay khi làm nghị luận về bài thơ “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Các
em cần liên hệ đến các bài thơ nói về tấm lòng của Bác đối với dân tộc Việt Nam.
Điều này giúp thể hiện thêm tấm lòng của Bác cũng như lòng thành kinhd, biết ơn
13
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
của dân tộc Việt Nam với Bác. Các em liên hệ bài “Bác ơi”, “Theo chân Bác” của
nhà thơ Tố Hữu.
“ Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
“Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”
(Tố Hữu, Bác ơi)
“ Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình, cho hết thảy
Như dòng sông chảy, nặng phù xa”
( Tố Hữu, Theo chân Bác)
2.3.6.2. Liên hệ bản thân.
Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng gửi gắm đến bạn đọc bài học cuộc
sống bởi “Văn học là nhân học”. Trong quá trình làm văn, HS phải rút ra bài học
cho bản thân mình thì bài văn mới tăng tính triết lí sâu sắc. Đây là điều quan trọng ,
- Bài thơ “Ánh trăng” được viết vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh, in
trong tập “Ánh trăng” – Tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt
Nam 1984.
- Nguyễn Duy viết bài thơ này vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khép
lại được ba năm. Ba năm sống trong hòa bình, không phải ai cũng nhớ gian khổ và
kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Nguyễn Duy viết “Ánh trăng” như một lời tâm
sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung
thủy, nghĩa tình.
Kỹ năng 3: Xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng bố cục chặt chẽ.
a. Xác định luận điểm:
Từ yêu cầu nội dung của đề: Tâm sự sâu kín của Nguyễn Du trong bài thơ
“Ánh trăng” Đây là giá trị nội dung của bài thơ. Tâm sự sâu kín là những tâm sự
gì? Biểu hiện qua mạch cảm xúc và kết cấu của bài thơ, ta sẽ xác định được các luận
điểm và các luận cứ:
Luận điểm 1: - Kỉ niệm về những ngày làm bạn với ánh trăng.
Các luận cứ:
+ Thuở nhỏ gắn bó với những kỉ niệm: đồng, sông , bể...
+ Lớn lên, tham gia kháng chiến, vầng trăng trở thành ”tri kỉ”.
Luận điểm 2: - Nhân vật trữ tình đã quên vầng trăng.
Các luận cứ:
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống khi hòa bình lập lại.
+ Sự lãng quên của một lớp người.
+ Ánh điện, cửa gương đã làm cho con người quên đi
những năm tháng khó khăn nhưng nghĩa tình.
Luận điểm 3: - Niềm ân hận của tấc giả và ”tấm lòng” của ”vầng trăng”
Các luận cứ:
+ Niềm ân hận khôn nguôi của người khi nhận ra sự bạc bẽo, vô
tình của mình.
15
Kỹ năng 5: Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm.
Bài thơ Ánh trăng là bài thơ hay thể hiện tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy. Khi
viết bài văn, học sinh phải đưa ra được ý kiến đánh giá của mình trước tác phẩm,
trước hình ảnh thơ thì bài văn sẽ thêm sâu sắc và thể hiện được suy nghĩ của mình.
Chẳng hạn : Đánh giá chung về bài thơ ở phần mở bài (Bài thơ Ánh trăng là bài thơ
được bạn đọc đón nhận và đánh giá cao về nội dung và nghệ thuật.) hay (Bài thơ
hấp dẫn người đọc bằng vẻ đẹp dung dị của một câu chuyện, một tâm tình riêng.
Nhà thơ vừa kể chuyện, vừa bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên mà chân thành).
Hoặc (Những câu thơ năm chữ đều đặn cũng góp phần làm nên giọng điệu tâm tình,
sâu lắng của bài thơ. Ở ba khổ thơ đầu, nhịp thơ trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo
16
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
lời kể. Khổ thứ tư, giọng thơ chợt cất cao trước một bước ngoặt mang kịch tính.
Giọng thơ trở nên ngân nga thiết tha cảm xúc ở khổ thứ năm và cuối cùng trầm lắng
suy tư ở khổ cuối.
Kỹ năng 6: Liên hệ.
Như trên đã trình bày, liên hệ là một thao tác không thể thiếu ở bất cứ một
kiểu văn nào, đặc biệt là nghị luận văn chương. Ở bài thơ này, giáo viên yêu cầu học
sinh biết liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài, trích đoạn thơ, đoạn văn liên quan đến
nội dung của bài thơ. Ta có thể liên hệ hình ảnh vầng trăng trong một vài bài thơ
của Bác Hồ (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng), liên hệ đến bài Bức tranh của
Nguyễn Minh Châu. Đặc biệt là rút ra bài học cho bản thân, bản thân học sinh
không chỉ hiểu được bài học từ tác phẩm mà còn làm cho bài văn tăng tính triết lí
sâu sắc về bài học cuộc sống: Bài thơ Ánh trăng gợi nhắc, củng cố cho con người
thái độ sống ân nghĩa thủy chung với quá khứu. Đó cũng là đạo lí Uống nước nhớ
nguồn của dân tộc.
SL
%
SL
%
SL
%
4/36
11.1
12/36
33.3
17/36
47.2
3/36
8.3
4/36
- Học kỳ II – năm học: 2015 - 2016
17
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
Kết quả các bài
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu , kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
kiểm tra
Bài viết số 7
6/39 15.4 23/39 59
9/39 23.1 1/39
2.6
( Tiết 134, 135)
Kiểm tra truyện
8/39 20.5 23/39 59
8/39 20.5
- Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề bài:
- Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời tác phẩm
18
Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”
- Xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng bố cục chặt chẽ.
- Lựa chọn các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu.
- Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm.
- Kỹ năng liên hệ.
Để làm tốt bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng, giáo viên
phải trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản đề học sinh nắm chắc đặc điểm của
văn nghị luận và nghị luận văn chương, cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn
học (thơ, truyện). hơn thế nữa học sinh tăng cường đọc thêm các tài liệu tham khảo,
tích lũy bổ sung thêm kiến thức phổ thông và kiến thức xã hội, thường xuyên rèn
luyện các kỹ năng viết bài và quan trọng hơn là biết rút kinh nghiệm từ những bài
văn trước để những bài văn sau đạt kết quả cao hơn.
3.2. Kiến nghị:
Để nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường, bản thân tôi xin đề
nghị Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai, phổ biến những bản sáng kiến kinh
nghiệm đã được áp dụng thành công ở các đơn vị trường để tạo điều kiện cho giáo
viên tham khảo, học tập kinh nghiệm và áp dụng trong công tác giảng dạy.
Trên đây là một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học
sinh lớp 9 bản thân rút ra trong quá trình giảng dạy. Những kết quả đạt được khi bản
thân áp dụng những biện pháp này đã đóng góp đáng kể nâng cao chất lượng học tập
của học sinh. Tuy vậy trong nội dung chắc chắn còn có những vấn đề giải quyết
chưa được thoả đáng và không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô
và đồng nghiệp góp ý, giúp bản thân tôi bổ sung để áp dụng mang lại hiệu quả cao