SKKN rèn kỹ NĂNG làm bài NGHỊ LUẬN văn học TRONG đề THI THPT QG QUA HAI tác PHẨM NGƯỜI lái đò SÔNG đà NGUYỄN TUÂN và AI đã đặt tên CHO DÒNG SÔNG - Pdf 51

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM 2018
TÊN SÁNG KIẾN:
RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI THPT
QUỐC GIA QUA HAI TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN
VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Tác giả sáng kiến:
Đơn vị công tác:

Tạ Anh Ngọc, Hoàng Thị Lâm,
Tạ Hoàng Tâm, Đặng Thị Mai Hoa
Tổ Ngữ văn
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

Ninh Bình, tháng 5 năm 2018

1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi (1): Sở giáo dục và đào tạo Ninh Bình
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
Tỷ lệ (%)
TT


Hoàng Thị Lâm 25/07/1980 chuyên Lương
Văn Tụy
Trường THPT

2

Tạ Hoàng Tâm

Đặng Thị

2

Mai Hoa

I.

22/03/1981 chuyên Lương
Văn Tụy
Trường THPT
09/08/1987 chuyên Lương
Văn Tụy

Giáo viên
Ngữ Văn
Giáo viên
Ngữ Văn
Giáo viên
Ngữ Văn
Giáo viên
Ngữ Văn

2


Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai nhà văn có thực tài về thể kí. Sách
giáo khoa Ngữ văn lớp 12 tập 1 đã giới thiệu hai tác phẩm tiêu biểu cho phong cách viết
kí của hai nhà văn, đó là tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt
tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng thực tế khi giảng dạy và ôn thi
THPT Quốc gia, GV và HS thường chỉ tập trung vào các tác phẩm thuộc thể loại khác
dễ nắm bắt, khám phá hơn như thơ, truyện ngắn, kịch mà chưa có sự quan tâm thích
đáng đến thể ký. Thể kí là một thể loại đặc biệt nếu thầy cô chỉ quan tâm tới những kiến
thức có sẵn trong bài văn thì khó mà giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở
vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì thế, có thể khẳng định
rằng: giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên. Hơn
nữa hai nhà văn đều là những cây bút tài hoa uyên bác, thể hiện trên trang viết những tri
thức đa ngành, những liên tưởng tạt ngang tạt dọc khiến hai tác phẩm đều khó nắm bắt
với đối tượng học sinh. Vì vậy các em đa phần đều “ngại” hai tác phẩm này. Để giúp
GV và nhất là học sinh có kiến thức và kĩ năng làm dạng bài nghị luận văn học (dạng
bài chiếm nhiều điểm nhất trong đề thi THPT Quốc gia) về thể kí, chúng tôi đã chọn đề
tài này.
Từ trước đến nay, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu
thường đi sâu tìm hiểu cách dạy học hai tác phẩm trên theo đặc trưng thể loại, theo chủ
đề... Thực tế hầu hết các công trình, bài viết, các sách tham khảo hiện nay mới chỉ dừng
ở việc hướng dẫn HS dạng đề phân tích cảm thụ; hoặc chỉ một số dạng đề nghị luận một
ý kiến bàn về văn học hay dạng đề so sánh. Chưa có đã có nhiều bài bình luận, phân
tích, cảm nhận về hai tác phẩm trên nhưng chưa có một công trình, bài viết nào rèn
luyện cho học sinh những kĩ năng làm dạng đề nghị luận văn học qua hai tác phẩm này
với ba dạng cơ bản nhất (dạng đề phân tích cảm thụ; dạng đề bàn luận về một ý kiến
văn học; dạng đề liên hệ - so sánh, đặc biệt là liên hệ với kiến thức chương trình Ngữ
văn 11).
Với phương pháp tìm hiểu vấn đề như trên, có thể nhận thấy những ưu, nhược


thi THPT Quốc gia qua hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt
tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường”, người viết tập trung chủ yếu vào việc:
+ Hệ thống một cách khoa học các dạng đề và kỹ năng, phương pháp làm dạng
bài nghị luận văn học (3 dạng đề nghị luận văn học cơ bản: dạng đề phân tích, cảm thụ
tác phẩm văn học; dạng đề nghị luận một ý kiến bàn về văn học; dạng đề so sánh văn
học).
+ Hệ thống ngắn gọn, khoa học các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm.
+ Hệ thống đề luyện tập phong phú, mới mẻ về hai tác phẩm.
+ Làm rõ yêu cầu và phương pháp, kĩ năng làm bài của
- Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau như:
- Khảo sát, thống kê: xử lí tài liệu, tìm ra những nét nổi bật trong phong cách viết
kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Phân tích, tổng hợp: chứng minh, lí giải, khái quát để làm sáng tỏ yêu cầu của
các dạng đề liên quan đến hai tác phẩm.
4


- So sánh đối chiếu: được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các
đối tượng được so sánh trong dạng bài liên hệ - so sánh vấn đề văn học của lớp 12 với
vấn đề của lớp 11.
Với cách làm như vậy, chúng tôi đã khắc phục được hạn chế của những giải pháp
truyền thống khi tìm hiểu hai tác phẩm trên. Đó là chỉ quan tâm đến tri thức, kiến thức.
Đề tài này ngoại hệ thống kiến thức khoa học, logic, đầy đủ còn có cả hệ thống phương
pháp làm bài và các dạng đề luyện tập phong phú, phục vụ hữu ích cho GV và HSđã
cung cấp cho GV những tài liệu thiết thực ý nghĩa cho quá trình giảng dạy, ôn tập và rèn
luyện những kỹ năng, phương pháp làm bài cho HS.
III.


5


DANH MỤC VIẾT TẮT


1. GV: Giáo viên
2. HS: Học sinh

Rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT Quốc gia
qua hai tác phẩm Nguời lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân
và Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường
A. PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I. Các bước làm bài nghị luận văn học nói chung.
- Bước 1: Đọc kĩ đề bài, xác định rõ yêu cầu về nội dung và thể loại của đề.
- Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý( dùng kí hiệu đánh dấu rõ ràng các cấp độ ý, các ý
trọng tâm cần nhấn mạnh và phân bố thời gian hợp lí cho mỗi ý)
- Bước 3: Viết bài (trong quá trình viết cần lưu ý tới thời lượng đã phân cho mỗi
ý để đảm bào độ sâu và hoàn chỉnh trọn vẹn được bài viết)
- Bước 4: Đọc lại bài, soát lỗi các loại, hoàn chỉnh bài viết.
 Yêu cầu chung: Xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm, đoạn trích để tìm
hiểu, phân tích hoặc cảm nhận.
II.
Phương pháp làm bài dạng đề cảm thụ, phân tích văn học:
Đây vẫn là dạng bài cơ bản, cần thiết mà HS phải thông thạo, nhuẫn nhuyễn, bởi
nó là cơ sở để triển khai các dạng bài đòi hỏi kĩ năng phức tạp hơn: nghị luận về một ý
kiến bàn về văn học; dạng đề so sánh...
1. Mở bài: bằng nhiều cách (giới thiệu dẫn dắt,nêu câu hỏi dẫn dắt, phản đề...Tuy
nhiên cách an toàn và thông thường là giới thiệu dẫn dắt, theo mô hình: Thời đại văn
học (hoặc trào lưu văn học) – tên tác giả - tên tác phẩm – giới hạn đoạn trích hoặc giới

nhân vật,liên hệ với thực tiễn đời sống xã hội hoặc bản thân để rút ra suy ngẫm, bài học
nhận thức và hành động...
3. Kết bài: khái quát nội dung chính đã phân tích của đoạn thơ, bài thơ. Gợi mở
hướng suy nghĩ mới hơn, rộng hơn về đoạn thơ, bài thơ, về truyện ngắn, đoạn trích hay
nhân vật..
III. Phương pháp làm bài dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.
Kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học là kiểu bài phổ biến trong các
đề thi ngữ văn ( cả đề thi học sinh giỏi lẫn đề thi THPT Quốc gia). Tuy nhiên nhiều em
học sinh đặc biệt là học sinh không thuộc các lớp chuyên văn còn đang rất lúng túng
trong kĩ năng làm kiểu bài này. Rất nhiều em không phân biệt rõ được các dạng đề nên
sa đà vào phân tích lan man hoăc không biết bắt đầu từ đâu. Để làm tốt kiểu bài này các
em cần cónhững kĩ năng nhất định cách làm bài như sau:
1.Mở bài.
Khái quát vấn đề và dẫn dắt vào ý kiến
2.Thân bài.
Bố cục thân bài ở dạng đề này bao giờ cũng gồm 3 phần.
2.1. Giải thích ý kiến:

7


- Trong kiểu này giải thích thường là bước đầu tiên và là khâu quan trọng của bài
viết. Giải thích giúp học sinh tìm được vấn đề nghị luận . Giải thích nhằm trả lời các
câu hỏi: Đề bàn về vấn đề gì? Từ đó đưa đến nhận thức sâu sắc và toàn diện về vấn đề
nghị luận.
- Yêu cầu đối với phần giải thích là học sinh cần nắm chắc những kiến thức lí
luận văn học cơ bản, những thuật ngữ văn học và vận dụng phù hợp trong quá trình giải
thích. Trong phần giải thích chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ
nghĩa, tránh giải thích quá nhiều từ ngữ dẫn đến lan man, dàn trải.Thao tác giải thích
cần trải qua các bước cụ thể:

lạc sang kiểu bài phân tích thông thường người viết phải xây dựng luận điểm bám sát ý
của nhận định đã được triển khai ở phần bàn luận vấn đề, sau đó vận dụng kiến thức từ
tác phẩm văn học đã chọn để chứng minh.
2.3.Đánh giá, mở rộng nhận định.
Mục đích của việc đánh giá, mở rộng để nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện,
thấu đáo hơn. Giáo viên cần lưu ý học sinh khi bàn luận một vấn đề văn học, không chỉ
bàn luận trong nội hàm của vấn đề ấy mà cần mở rộng, nâng cao vấn đề. Phần này học
sinh có thể làm qua các bước sau.
+ Bước 1: cần đánh giá khái quát vấn đề cần nghị luận, khẳng định lại một lần
nữa tính đúng đắn của nhận định trong đề bài.
+ Bước 2: So sánh, đối chiếu theo hướng tương đồng hoặc đối lập để làm rõ hơn
vấn đề nghị luận.
+ Bước 3: Khái quát lại tác giả, tác phẩm được sử dụng làm dẫn chứng minh họa
cho vấn đề nghị luận dựa trên những định hướng từ vấn đề nghị luận.
3. Kết luận.
Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
IV. Phương pháp làm dạng bài so sánh văn học
1. Xác định các loại đề so sánh văn học thường gặp
1.1. So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành
chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà
nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn
11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được
trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữvăn 12)
1.2. So sánh hai đoạn thơ
Ví dụ 1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng
và Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Ví dụ2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Tôi muốn tắt nắng đi

–Nam Cao)
1.5. So sánh cách kết thúc hai tác phẩm:
Ví dụ: Đề thi đại học 2012: So sánh kết thúc tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của
NamCao và kết thúc tác phẩm Vợ nhặt củaKim Lân
-So sánh phong cách tác giả:
Ví dụ: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà,
nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1.6. So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm
10


Đề thi đại học khối C năm 2013 cũngcó thể xem là một dạng của so sánh: Về hình
tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng:người lính
ở đây có dáng dấp của tráng sĩthuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người
lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp. Từ cảm nhận của
mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểuđúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự
bày tỏ hiểu biết tùy theo năng lực nhận thức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảng của
thầy cô. Đáp án chấp nhận cảquan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyến khích thí
sinh mạnh dạn viết về vấn đề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau, trình độ khác
nhau. Vấn đề quan trọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi văn lại chính là kỹ năng
phân tích, so sánh, bình luận làm rõ vấn đề của học sinh.
2. Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học
Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn đề, song
đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết, hai đoạn thơ, hai đoạnh
văn, hay hai nhân vật ....phương pháp làm bài văn dạng này thông thường có hai cách:
Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau
Song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích từng
luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa.

hai đối tượng. Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic, sự tinh
nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết và lựa chọn
những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứng minh cho luận điểm
đó. Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất
nước của Nguyễn Khoa Điềm. Ứng dụng cách viết này học sinh không phân tích lần
lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánh song song trên các bình diện:
Xuất xứ - cảm hứng- hình tượng - chất liệu và giọng điệu trữ tình.
Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
Mở bài:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài:
- Điểmg giống nhau:
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm .....
- Điểm khác nhau:
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm.....
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
12


* Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt
mạnh, mặt yếu khác nhau. Trongthực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp
dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên. Phải tùy thuộc vào cách
hỏi trong mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù

13


+ Tô đậm cái phi thường gây cảm giác mãnh liệt dữ dội.
- Nguyễn Tuân là 1 con người có nhân cách đạo đức hơn đời: chổ dựa ở thái độ
"ngông" của ông không chỉ ở sự tài hoa uyên bác mà còn ở đạo đức hơn đời của ông.
Cái gốc của nhân cách đạo đức của Nguyễn Tuân là lòng yêu nước tinh thần dân tộc
niềm tha thiết với cái đẹp của văn nghệ của phong tục tập quán của thiên nhiên và
những thú chơi tao nhã.
* Sau cách mạng: có những chuyển biến quan trọng:
- Thái độ ngông nghênh khinh bạc không còn nữa. Giọng văn chủ yếu là tin yêu đôn
hậu
- Nếu trước cách mạng nhà avwn luôn bi quan đối với hiện tại và tương lai. Ông chỉ tin
vào cái đẹp của quá khứ. Người tài hoa cái đẹp luôn lạc lõng, cô độc giữa cuộc đời
phàm tục thì sau cách mạng ông vẫn ngợi ca những con người tài hoa ấy vẫn hướng đến
những cái gì phi thường mãnh liệt, vẫn vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa nghệ
thuật để quan sát và mô tả vẫn tô đậm phong cách và cá tính độc đáo của mình. Điều
khác là tinh thần dân tộc và lòng yêu nước được phát huy mạnh mẽ trong tác phầm của
ông. Cái đẹp của người tài hoa có thể tìm thấy trong nhân dân trên mọi lĩnh vực
- Tuy nhiên trên những trang văn phong cách riêng của ông vẫn rất rõ nét: Thiên nhiên
vẫn còn là những công trình thiên tạo tuyệt vời anh bộ đội ông lái đò thậm chí chị hàng
cốm người bán phở... cũng là những con người tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của
mình
* Thể loại tùy bút là thể văn sở trường của Nguyễn Tuân: vì nó mang tính chủ quan và
rất tự do phóng túng. Nhân vật chủ yếu là cái tôi của nhà văn. Mạch văn biết hóa rất linh
hoạt nhưng đôi khi ... khó hiểu
- Văn xuôi giàu hình ảnh nhạc điệu từ vựng phong phú và rất sáng tạo trong cách dùng
từ đặt câu
- Với Nguyễn Tuân văn chương phải là văn chương nghệ thuật phải là nghệ thuật mà đã
là nghệ thuật thì phải ... độc đáo. Tài phải đi đôi với tâm ấy là thiện lương là lòng yêu

d. Nghệ thuật :
- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo bất ngờ và rất thú vị.
- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.
- Câu văn đa dạng nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi,
trữ tình.
2. Luyện đề
Đề 1: Phân tích hình tượng Sông Đà trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân
DÀN BÀI
I. Mở bài:
- Là một nhà văn tài hoa, độc đáo, Nguyễn Tuân thích miêu tả những cái gì dữ dội,
mãnh liệt hoặc đẹp một cách tuyệt đỉnh. Những trang viết hay nhất của ông thường là
những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước …
15


- Nguyễn Tuân yêu thiên nhiên tha thiết, ông có nhiều phát hiện tinh tế về vẻ đẹp
của núi sông, cỏ cây trên đất nước mình. Bút kí “Người lái đò sông Đà” đã thể hiện đậm
nét phong cách Nguyễn Tuân. Cảm hứng về dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” chảy
trên trang văn của Nguyễn Tuân biến vùng sông nước ấy thành một hình tượng nghệ
thuật đặc sắc.
II. Thân bài:
1. Khái quát:
- “Người lái đò sông Đà” rút từ tập tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân.
- Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958.
- Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng khác nhau, sống với bộ đội, thanh niên
xung phong, công nhân cầu đường và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc
sống mới đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.
- Đến với những tác phẩm của Nguyễn Tuân là ta đang đến với một tâm hồn vô

- Những hút nước ở quãng Tà Mường Vát: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống
cái bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên …” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống
hoặc hút những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác” → Lối so sánh độc đáo
khiến con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn
khủng bố tinh thần và uy hiếp con người.
- Âm thanh thác nước sông Đà:
+ Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng chơi
thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá
+ Ban đầu tác giả mới để cất lên khúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu
khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”. Thế rồi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ, các
nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của một
cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại: “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng
đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa … rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu
da cháy bùng bùng…” → Sự liên tưởng vô cùng phong phú, âm thanh của thác nước
sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả không khác gì âm thanh của một trận động rừng,
động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Lấy lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông, N.T quả
là đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật
- Bằng thủ pháp nhân hóa, người đọc nhận ra từng sắc diện người trong những
hình thù đá vô tri. Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để thổi hồn
vào từng thớ đá: “Cả một chân trời đá … mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn
nhúm”, “méo mó” → Những hòn đá vô tri vô giác nhưng qua cái nhìn của Nguyễn Tuân
chúng mang vẻ du côn của thiên nhiên hoang dại và hung dữ với ba trùng vi thạch trận
+ Trùng vi thạch trận thứ I: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt
nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông
thuyền”…
+ Trùng vi thạch trận thứ II: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa
tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn…
17



quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài
hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như
niềm yêu mến và tự hào về cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân.

18


Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của nhân vật người lái đò Sông Đà trong
tùy bút Người lái đò Sông Đà ( Nguyễn Tuân).
DÀN BÀI
1.
2.

Mở bài.
Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút Người lái đò Sông Đà
Dẫn dắt vào nhân vật người lái đò.
Thân bài.

*Khái quát chung.
- Người lái đò sông Đà là một áng văn đặc sắc trong tập tùy bút Sông Đà (1960) –
thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới
miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc.
- Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm
hứng chủ đạo của cả tập ký là tìm kiếm chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc và
nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã qua thử lửa” ở tâm hồn những con người lao
động vùng núi sông hùng vĩ và thơ mộng này. Chất vàng mười tâm hồn ấy đã được kết
tinh qua vẻ đẹp độc đáo của nhân vật người lái đò Sông Đà.
*Phân tích vẻ đẹp nhân vật:
Người lái đò nổi bật với 3 vẻ đẹp:
- Vẻ đẹp của một người tinh thạo trong nghề nghiệp.

con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải
xanh lè, thất vọng.
+ Ở trùng vây thứ 3, thạch trận ít cửa tử hơn những bên phải bên trái đều là luồng
chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Nhưng ông đò
không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền
vượt qua trùng vây thứ 3.
- Vẻ đẹp của một người tài hoa nghệ sĩ:
+ Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ. Tay
lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước : “ông đò vẫn nhớ mặt
bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để
mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.
Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý
chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng
cổng “cánh mở, cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn
thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn.
+ Sau cuộc vượt thác gian nan, ông đò lại có phong thái ung dung của một
nghệ sĩ “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nước ống cơm lam và toàn bàn tán về cá
anh vũ, cá dầm xanh…”.
*Đánh giá lại nội dung và nghệ thuật.
- Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường. Người
lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung
dung pha chút nghệ sĩ. Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và
biết nhìn thử thách đó qua bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn.

20


- Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đó tìm được nhân vật mới cho
mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu
đài các một thời vang bóng mà ngay trong quần chúng lao động bình thường xung

* Phân tích đoạn văn.
Đoạn văn đã tái hiện vẻ đẹp Sông Đà qua một số khía cạnh
- Cảnh ven sông lặng tờ hoang dã, vắng lặng, tràn đầy sức sống , mang sắc màu
huyền thoại.
+ Câu đầu của đoạn văn được bắt đầu bằng hình ảnh “Thuyền tôi trôi trên sông
21


Đà…… Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần...thế mà thôi . gợi
lên sự nhẹ nhàng , êm ái tạo nên không gian nghệ thuật như đưa khách sông Đà vào thế
giới cổ tích.
+ Hình ảnh liên tiếp được tái hiện qua những câu văn giàu sức gợi, giàu hình
ảnh: “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô...nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”
 Bao trùm cảnh vật là một màu xanh mơn mởn, hoang sơ . Đoạn văn đẹp như một bức
tranh lụa nhờ việc sử dụng rất nhiều định ngữ: “cỏ gianh đẫm sương đêm”, “lá ngô non
đầu mùa”...chính những hình ảnh thi vị ấy đã kéo dòng sông hiện đại trở về gần với
thực tại hơn.
+Đặc biệt hai câu văn “bờ sông hoang dại ...bờ sông hồn nhiên...” khiến ta tưởng
đây là hai vế của một câu song quan trong bài phú lưu thủy. Nghệ thuật điệp cấu trúc đã
kết dính hai câu thành một bè thơ gợi cảm, bồng bềnh, vấn vương cảm xúc hoài cổ mà
ta đã bắt gặp ở người nghệ sĩ một thời vang bóng này. Nguyên Tuân đã tìm về vẻ đẹp
xưa trong cái ngày hôm nay. => tình yêu quê hương xứ sở. Nguyễn Tuân so sánh không
phải để cụ thể hóa sự vật mà để trìu tượng hóa, thơ mộng hóa. Lời văn chứng tỏ sự tài
hoa của cây bút bậc thầy về ngôn ngữ, ông đã dùng tưởng tượng để tạo nên liên tưởng
nhằm gieo vào lòng người đọc bao cảm xúc để được cùng nhà văn tận hưởng cái vẻ đẹp
hoang dại và hồn nhiên của bờ bãi sông Đà.
+ Khao khát hướng tới tương lai của sông Đà.
- Say đắm trong cái tĩnh mịch của dòng sông nhưng nhà văn vẫn “thèm được giật
mình vì một tiếng còi xúp-lê của chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ Yên Bái –
Lai Châu”

giả.Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao tạo nên những
câu văn nhịp nhàng, co duỗi vô cùng đặc biệt.
 Nguyễn Tuân yêu Tây Bắc, yêu một trời hoa ban trắng, yêu ông lái đò nghệ sĩ, yêu
con sông Đà hung bạo và trữ tình...phải chăng đó là thứ tình yêu sông núi với rừng vàng
biển bạc, yêu con người Việt Nam tài hoa dũng cảm. Và ông đến với sông Đà như một
cái cớ, một cơ duyên để ông được thỏa thuê với khát vọng khám phá, khát vọng thể hiện
cái tôi trữ tình nghệ sĩ của mình.
3. Kết bài.
Khẳng định và nâng cao vấn đề.
Đề 4: Nhận xét về hình tượng người lái đò trong thiên tùy bút “Người lái đò sông
Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức
với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”. Bằng
cảm nhận về hình tượng người lái đò, hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý
kiến trên.
DÀN BÀI
1.Mở bài.
-

Khái quát về tác giả, tác phẩm

-

Dẫn vào ý kiến.
23


2. Thân bài.
a. Giải thích ý kiến.
- cuộc chiến đấu không cân sức cuộc chiến đấu mà sức lực hai bên tham gia giao
chiến không cân bằng nhau.

24


cảm hứng chủ đạo trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” là ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi
nhân dân, những người lao động thầm lặng, vô danh mà vĩ đại, phi thường. Cảm hứng
ấy được thể hiện thật độc đáo qua vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà không chỉ trí
dũng tuyệt vời, mà còn là một nghệ sĩ rất mực tài hoa trong công việc lao động sông
nước, trong nghệ thuật leo thác vượt ghềnh của mình.
- Cảm nhận về hình tượng người lái đò sông Đà:
+ Khái quát: Trong tác phẩm, nhà văn xây dựng hai nhân vật đó là con sông Đà
và người lái đò trên dòng sông ấy. Đó là một dụng ý nghệ thuật cao tay của bậc tài tử
tài hoa. Bức tranh thiên nhiên dữ dội, con quái vật hiểm ác, kẻ thù số một kia chỉ là
phông nền để tác giả tô vẽ, ngợi ca, tôn vinh sức mạnh kì vĩ của con người. Vì thế, hình
tượng người lái đò sông Đà được nhà văn xây dựng như một dũng tướng tài ba, là một
nghệ sĩ lão luyện trong nghề chèo đò vượt thác.
+ Vốn dĩ xuất thân từ núi rừng nên ông lái gắn bó chặt chẽ với cuộc sống nơi đây.
Ông sinh ra trên bờ sông Đà, dòng sông thác lũ đó là nguồn nuôi sống cho ông ngay từ
khi còn để trỏm. Cho đến cuộc sống sau này, cuộc đời ông vẫn là những hành trình leo
thác, vượt sông, hình như con người và thiên nhiên gắn bó mật thiết cho nên khi đã nghỉ
đò mà ông vẫn nhớ về thác lũ và trận địa đá trên sông.
+ Trên dòng sông Đà, người lái đò xuôi ngược cả trăm lần. Dòng sông với ông
“như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm
câu và những đoạn xuống dòng”. Ông hiểu được quy luật của các dòng nước, đóng đinh
vào trí nhớ của mình từng con thác, xoáy nước, luồng lành, luồng dữ, cửa sinh, cửa tử;
thông minh, gan dạ, hoạt bát, tự tin như một dũng tướng trong trận đồ bát quái, đưa
người và hàng vượt qua 73 con thác đến đích an toàn.
+ Phân tích: Người lái đò là người rất mực trí dũng ,bản lĩnh,tài hoa
. Để làm nổi bật phẩm chất này, Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho
người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh đầy thử thách, khốc liệt. Nguyễn Tuân khẳng
định “Ông muốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status