Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài nghị luận văn học trong đề thi THPT QG - Pdf 35

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1-Tên sáng kiến: Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong
đề thi THPT QG.
2-Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh đại trà, học sinh giỏi.
3-Thời gian áp dụng sáng kiến: Tháng 10/2014 đến tháng 5/2015
4-Tác giả:
- Họ và tên :

PHẠM THỊ KIỀU OANH

- Năm sinh :

1978

- Nơi thường trú:

Yên Chính – Ý Yên – Nam Định

- Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn
- Chức vụ công tác
- Nơi làm việc

: Phó chủ tịch Công đoàn – Tổ trưởng chuyên môn.

: Trường THPT Mỹ Tho

- Địa chỉ liên hệ : Yên Chính – Ý Yên – Nam Định
- Điện thoại: 0987211170
- Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 %
5- Đơn vị áp dụng sáng kiến
- Tên đơn vị: Trường THPT Mỹ Tho

Dục năm 2015 tôi nhận thấy đề thi THPT QG có thể định dạng vào các kiểu bài:
Bàn luận về một ý kiến hoặc hai ý kiến bàn về văn học; so sánh hai đoạn thơ, hai
đoạn văn, hai chi tiết, hai nhân vật, hai tư tưởng, hai khuynh hướng, quan điểm
sáng tác, phong cách nghệ thuật của hai nhà văn… Qua sự rà soát này tôi chợt nảy
ra ý nghĩ: “Làm thế nào để học sinh có phương pháp, kỹ năng làm những kiểu bài
này một cách khoa học và hiệu quả nhất?” trong khi phần lý thuyết làm văn trong
trường THPT mới có kiểu bài “ Nghị luận một ý kiến bàn về văn học” mà chưa có
bài lý thuyết dạy cách làm kiểu bài nghị luận so sánh khi làm văn. Từ sự trăn trở
đó, năm học này tôi đã mạnh dạn chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Giúp
học sinh đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi THPT QG” . Tôi hy vọng
rằng sáng kiến nhỏ bé này của mình sẽ góp phần nâng cao chất lượng cho HS trong
mỗi kỳ thi bởi qua ba kỳ thi tập trung thi đề của trường và của Sở GD tôi thấy sáng
kiến của mình đã có những kết quả nhất định.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
2


Là năm đầu tiên BGD thực hiện đổi mới kì thi Quốc gia sau THPT, năm học này
là một thử thách không nhỏ đối với người dạy và người học. Yêu cầu phân hóa
năng lực người học, hướng tới kiểm tra năng lực tư duy, chống học vẹt, học tủ, kết
quả ảo ... khiến cho đề thi môn Ngữ Văn những năm gần đây không ngừng đổi mới,
mỗi ngày yêu cầu cao hơn, khó khăn hơn, không chỉ với người học mà cả người
dạy. Các đề thi là kiểu bài mới, được áp dụng kể từ khi thay sách nên không ít

giáo viên còn lúng túng khi giảng dạy. Bởi lẽ, hầu hết giáo viên ra trường
trước năm 2008 ít được tiếp cận kiểu bài này, còn những giáo viên ra trường
sau kinh nghiệm giảng dạy chưa có nhiều .
Mặt khác, dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững vàng,
năng lực cảm nhận tác phẩm văn chương sâu rộng và nhận định đề tinh nhạy



Ví dụ:
Đề 1: Bàn về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho
rằng: “ Một trong những điểm nhất quán của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm
1975 chính là hành trình đi tìm kiếm hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn của mỗi
con người. Hạt ngọc ấy không lồ lộ nơi chớp bom, lửa đạn mà ẩn dấu trong vô vàn
cát bụi thô nhám của cuộc đời...”
Từ nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài
xa” anh, (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Hai ý kiến: Chia làm hai kiểu nhỏ:
+ Hai ý kiến bổ sung cho nhau
Đề 1: Về đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu, có người cho là “bản hùng ca về cuộc
kháng chiến chống Pháp”, có người lại cho là “khúc tình ca về ân tình cách mạng
trong 15 năm ấy”.
Từ việc phân tích đoạn trích, hãy bình luận các ý kiến trên.
Đề 2: Bàn về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ mang vẻ
đẹp truyền thống của thi ca”. Ý kiến khác lại cho rằng: “ Bài thơ mang hơi thở của
thời đại cách mạng”. Từ những hiểu biết của mình về đoạn thơ sau,
“ Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
( Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12,

của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có người nhận thấy: “Con sông mang vẻ đẹp phong
phú, đa dạng”; có người lại khẳng định: “Con sông mang vẻ đẹp thống nhất”.
Anh, (chị) có đồng tình với hai ý kiến nêu trên ?
Đề 6: Bàn về bài thơ “Sóng” có ý kiến cho rằng: “Thành công của Xuân
Quỳnh chính là đã thể hiện khát vọng tình yêu của người phụ nữ mang vẻ đẹp hiện
đại”. Ý kiến khác lại cho rằng “Sức hấp dẫn của bài thơ chính là điệu tâm hồn yêu
đậm đà vẻ đẹp truyền thống”.
Từ cảm nhận về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (Ngữ văn 12, tập một, NXB
Giáo dục, 2009), anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
Đề 7: Nói về chủ đề của Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã từng tâm sự rằng: “Cuộc
đấu tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc mang một sắc thái đặc biệt. Nhìn lướt qua, nơi
thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta
dễ tưởng những cảnh người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ. Không, ở nơi rừng núi mơ
màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng. Họ đã thức tỉnh.” Bên cạnh đó,
nhà văn cũng khẳng định: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa
vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời
5


bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt, thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề
và khung cảnh đi. Không biết cắt nghĩa sao, nhưng tôi cho rằng ngay trong văn
xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có thế văn xuôi mới trong sáng cất cao”.
Từ cảm nhận của mình về tác phẩm Vợ chồng A Phủ, anh (chị) hãy bình luận
các ý kiến trên của nhà văn Tô Hoài.
Đề 8: Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Kim
Lân, có người khẳng định: “Thị là nạn nhân thê thảm của cái đói”; nhưng cũng có
người nhận thấy: “Thị là chủ nhân tích cực của cuộc đời mình”.
Anh, (chị) có suy nghĩ gì về hai ý kiến nêu trên ?
Đề 9: Bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, lâu nay đã có nhiều cách
hiểu khác nhau: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả

kịch bị cự tuyệt quyền làm người mới đau đớn nhất. Ý kiến của anh, (chị)?
Đề 7: Đọc đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng đài, có người cho nhận thấy, Vũ
Như Tô là nhân vật lý tưởng; người khác lại khẳng định, nhân vật lý tưởng là Đan
Thiềm chứ không phải Như Tô. Ý kiến của anh, (chị) ?
Bước 2: Hướng dẫn HS đọc kĩ đề, xác định nội dung nghị luận, các thao tác lập
luận cần sử dụng, gạch chân những từ ngữ quan trọng.
Bước 3: Hướng dẫn HS giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận.
Lưu ý: nhắc HS đảm bảo nguyên tắc mở bài: ngắn gọn, đúng, trúng. Đối với dạng
đề cho ý kiến, dứt khoát phải giới thiệu được ý kiến đó vào trong mở bài. GV có
thể nhắc lại cho HS một số cách mở bài trực tiếp, gián tiếp (bằng một liên tưởng
tương đồng, tương cận, đối lập, bằng một ấn tượng, ...). Phần này, GV xem lại SGK
Làm Văn 12 cải cách.
Bước 4: Hướng dẫn HS giải thích ý kiến (nếu cần). Việc giải thích thường phải bắt
đầu bằng giải thích ngôn từ, hình ảnh.
Ví dụ: Hạt ngọc ; bản hùng ca, khúc tình ca; nạn nhân, chủ nhân ...– Dạng hai ý
kiến bổ sung; kẻ khốn nạn, người khốn khổ (đề 2); nhân vật lý tưởng (đề 6) ...
VD: Giải thích hai ý kiến của đề 3

+ Ý kiến thứ nhất: Đất nước bình dị, gần gũi, thân quen hiện hữu trong cuộc sống
sinh hoạt hàng ngày là đất nước được tiếp cận, cảm nhận từ những hình ảnh bình
dị, đời thường. Đó là đất nước ở trong ta, ở quanh ta.
+ Ý kiến thứ hai: Đất nước thiêng liêng, lớn lao, kết tinh bao vẻ đẹp của tâm hồn
người Việt là đất nước được cảm nhận ở chiều sâu bên trong, ở những giá trị vĩnh
hằng. Đó là đất nước mang tầm vóc lớn lao với những vẻ đẹp truyền thống thiêng
liêng
- Dạng đề hai ý kiến trái chiều: Giải thích ý kiến mà HS đã lựa chọn là đúng.
Bước 5: Hướng dẫn HS khẳng định ý kiến cá nhân
+ Dạng đề hai ý kiến bổ sung: thường cả hai ý kiến đều xác đáng, bổ sung cho nhau
hoàn thiện vấn đề cần nghị luận
+ Dạng đề hai ý kiến trái ngược hẳn nhau, điều đó bắt buộc người viết phải thể hiện

+ Một đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời: đất nước có trong cái ngày xửa
ngày xưa bà thường hay kể. Chiều dài lịch sử của đất nước được gợi lên từ thời
gian xa xưa trong các câu chuyện cổ của bà.
+ Một đất nước nghĩa tình thủy chung trong lối sống (miếng trầu bây giờ bà ăn,
cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn). Sự tích trầu cau và biểu tượng
“gừng cay muối mặn” quen thuộc trong ca dao được vận dụng nhuần nhuyễn đã
thể hiện truyền thống đạo đức tốt đẹp ngàn đời của ông cha về lẽ thủy chung son
sắt.
Một đất nước anh hùng, kiên cường bất khuất với truyền thống ngàn đời đánh giặc
giữ nước được gợi nhắc từ việc sử dụng linh hoạt truyền thuyết Thánh Gióng (đất
nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc).
+ Một đất nước cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động. Đất nước hiện thân
trong những phong tục tập quán ngàn đời, đặc biệt phong tục trồng lúa nước. ( cái
kèo,cái cột thành tên, hạt gạo một nắng hai sương...)
Hai từ Đất Nước được viết hoa trong suốt đoạn thơ đã thể hiện những xúc động
thiêng liêng, niềm tự hào tôn kính của nhà thơ dành cho đất nước..
8


- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được vận dụng nhuần nhuyễn đã giúp nhà thơ
thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của Nhân dân”
Bước 6: Hướng dẫn học sinh bàn luận ý kiến:
Thông thường ở phần này HS sẽ khẳng định lại ý kiến, chỉ rõ ý kiến định
hướng cho người đọc biết thêm những gì về nội dung cần nghị luận như: Tâm hồn
nhân vật trữ tình, vẻ đẹp của nhân vật, phong cách hoặc quan điểm, tư tưởng sáng
tác của nhà văn…). VD cho đề số 3:
Bình luận hai ý kiến:
- Hai ý kiến là những cảm nhận khác nhau về hình ảnh đất nước trong đoạn thơ.
Nếu ý kiến thứ nhất chú ý đến vẻ đẹp bình dị, gần gũi đời thường thì ý kiến thứ hai
lại khẳng định những giá trị vĩnh hằng, những truyền thống thiêng liêng của hình


- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm: Đề khối D 2010 - So sánh chi tiết ấm nước
đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành
cho Chí Phèo.
- So sánh hai đoạn thơ (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: “Tây Tiến” của Quang Dũng
và “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên- Đề khối C 2008.
- So sánh hai đoạn văn (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí: “Người lái
đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ
Ngọc Tường- Đề khối C 2010.
- So sánh hai nhân vật (vẻ đẹp khuất lấp) của: người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” của
Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn
Minh Châu.
Ngoài ra có thể xuất hiện thêm các dạng:
- So sánh tư tưởng, khuynh hướng sáng tác, phong cách nghệ thuật của các nhà văn
.
- So sánh các cấp độ về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học như: Nghệ thuật
xây dựng hình tượng, nghệ thuật phân tích và diễn tả tâm lý nhân vật, nghệ thuật sử
dụng ngôn từ.
Dấu hiệu nhận dạng: Thường dẫn yêu cầu là: “ Cảm nhận hai đoạn thơ…” hoặc “
Cảm nhận hai đoạn văn sau…”
Ví dụ:
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ
nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài
xa - Nguyễn Minh Châu).
Đề 2:
(1). "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên
quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối do tay
ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh,
trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu
vật trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất...thì ân hận suốt đời" (Chữ người tử tù)

Nguyễn Bính và Xuân Quỳnh qua hai đoạn thơ trên.
Đề 6: Có ý kiến cho rằng: Thạch Lam và Nam Cao đều là những nhà văn nhân đạo
chủ nghĩa nhưng phong cách văn xuôi của họ rất khác nhau.
Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chí Phèo (Nam Cao), anh (chị)
hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 7: Cảm nhận về hai nhân vật Mị và người vợ nhặt trong hai đoạn văn sau:
(1) “Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn
lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một
dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh
như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế
kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được.
Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói
đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ
chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta
là than đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ biết đợi ngày rũ xương ở
đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết. A Phủ…Mị phảng phất nghĩ như vậy.
Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng yên. Mị nhớ lại
đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào đó, biết đâu A Phủ chẳng đã
trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói
thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế trong tình cảnh này, làm sao
Mị cũng không thấy sợ.
Lúc ấy trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt,
nhuwg Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…Mị rút con dao nhỏ cắt
lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần,
đến lúc gỡ hết được hết dây trói, ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì
thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống,
12


không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng

cũng chợn nghĩ: thóc, gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi
không, lại còn đèo bong. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái:
13


- Chậc, kệ!”
(“Vợ Nhặt” – Kim Lân)

Cách làm bài:
- Đề thi bao giờ cũng đưa ra các đối tượng để so sánh: hai đoạn thơ, hai đoạn
văn, hai nhân vật, hai chi tiết…
+ Trước hết, cần phân lập đối tượng thành nhiều bình diện để đối sánh. Bước này
nhằm phát huy trí tuệ sắc sảo và mĩ cảm của học sinh. Trên đại thể, hai bình diện
bao trùm là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Tùy từng đối tượng được
yêu cầu so sánh mà có cách chia tách ra các khía cạnh nhỏ khác nhau từ ngôn từ,
hình ảnh, chi tiết, kết cấu, âm hưởng, giọng điệu đến đề tài, chủ đề, tư tưởng và
cảm hứng nghệ thuật.
+ Sau đó cần nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau. Bước này đòi
hỏi học sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiện chính xác và diễn đạt thật nổi
bật, rõ nét, tránh nói chung chung, mơ hồ. Cuối cùng là đánh giá, nhận xét và lí giải
nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó. Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn
chắc chắn và bản lĩnh vững vàng cùng những hiểu biết sâu sắc ngoài văn bản để
tránh những suy diễn tùy tiện, chủ quan, thiếu sức thuyết phục. Chẳng hạn, trở lại
với “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Một đám cưới” của Nam Cao ở trên sự khác biệt
xuất phát từ hai phương pháp sáng tác và hai phong cách nghệ thuật khác nhau.
Nam Cao với văn học hiện thực phê phán thường miêu tả hiện trạng đời sống đang
đi xuống, bế tắc và èo uột và phong cách đặc trưng của Nam Cao là sự lạnh lùng
mà đau xót. Với Kim Lân, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thường mô tả trạng
thái đời sống đi lên, hướng về ngày mai tươi sáng. Hơn nữa, văn phong của cây bút
một lòng đi về với đất, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn này

+ Song song tức là song hành so sánh trên mọi bình diện của hai đối tượng. Cách
này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lô gic, sự tinh nhạy trong
phát hiện vấn đề của HS.
Ví dụ: Khi so sánh hình tượng Đất Nước trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn
Đình Thi và trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, HS giỏi Văn có thể
song song so sánh trên các bình diện: Xuất xứ- cảm hứng- hình tượng- chất liệu và
giọng điệu trữ tình.
Về xuất xứ, Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một chỉnh thể sáng tạo tổng hợp từ
hai bài thơ trước đó và nó có dáng dấp như một trường ca thu nhỏ. Trong khi đó,
Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là một mảnh nhỏ vỡ ra từ chỉnh thể trường ca
lớn
Về cảm hứng, Nguyễn Đình Thi gửi gắm những suy tư, tâm niệm về sức sống diệu
kì của dân tộc Việt Nam anh hùng còn Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về cắt nghĩa lí
giải các câu hỏi: Đất nước có tự bao giờ? Đất nước là gì? Mối quan hệ giữa con
người và đất nước?...
Về hình tượng, Nguyễn Đình Thi khắc họa bằng hai hệ thống hình ảnh chính của
giang sơn tổ quốc là đất và trời thì Nguyễn Khoa Điềm hướng đến đất và nước như
hai yếu tố khởi thủy hợp lại. Với Nguyễn Đình Thi, nhân dân là những con người
trong một cuộc hành trình trừơng chinh máu lửa vươn vai như những thiên thần còn
với Nguyễn Khoa Điềm là đám đông vô danh bốn nghìn thế hệ, hòa nhập vào nhau
để hóa thành đất nước trong hình tượng mang màu sắc huyền thoại.
Về chất liệu, Nguyễn Đình Thi sử dụng chất liệu thi ca từ chi tiết đời sống bằng vốn
sống và ấn tượng chủ quan trực tiếp còn Nguyễn Khoa Điềm nhào nặn tài tình vốn
văn hóa dân gian trong ca dao, truyền thuyết, cổ tích…
Về giọng điệu, Nguyễn Đình Thi như đang phát ngôn giữa quảng đại quần chúng
nên bài thơ có giọng tráng ca hào sảng dõng dạc. Với Nguyễn Khoa Điềm, đó là
15


giọng trữ tình của một chàng trai trong lời tâm tình với người yêu, thân mật mà

* Với dạng đề cảm nhận về các đoạn văn, có thể phân tích, chỉ ra điểm giống nhau
và khác nhau theo các bình diện sau:
Nội dung hiện thực được phản ánh trong các đoạn văn; nội dung tư tưởng của các
đoạn văn; những yếu tố nghệ thuật được sử dụng trong các đoạn văn;
Ý nghĩa của các đoạn văn trong việc thể hiện giá trị nội dung, nghệ thuật của tác
phẩm; phong cách nghệ thuật của các tác giả qua những đoạn văn ấy.
* Riêng đối với các đoạn văn thuộc thể kí (chẳng hạn các đoạn văn trong Người lái
đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông) thì ngoài những nội dung trên, học sinh
còn phải chú ý đến phương diện cái “tôi” của người cầm bút được thể hiện trên
những trang kí, vì sức hấp dẫn của thể loại này phụ thuộc rất nhiều vào sự thể hiện
cái “tôi” của tác giả trên trang văn.
16


+ Dạng bài đối sánh cấp độ các vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm
* Với dạng bài đối sánh tư tưởng hiện thực:
Tư tưởng hiện thực của một nhà văn là cách nhìn, quan niệm của nhà văn ấy về
hiện thực đời sống. Tư tưởng hiện thực thể hiện ở sự nhận thức, lí giải của người
cầm bút về cuộc sống, khả năng phát hiện những mối quan hệ nhân sinh phức tạp,
nhìn ra những mâu thuẫn trong lòng hiện thực...
Mỗi nhà văn có thể có cái nhìn khác nhau về cùng một hiện thực. Tư tưởng hiện
thực chi phối việc xây dựng thế giới nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm vì hiện
thực trong tác phẩm là hiện thực đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của
người cầm bút. Tư tưởng hiện thực thường gắn bó chặt chẽ với tấm lòng nhân đạo
của tác giả.
Khi phân tích, đối sánh tư tưởng hiện thực của các nhà văn, cần chú ý các bình diện
sau:
Cách nhìn nhận, quan niệm của các nhà văn ấy về cuộc sống và con người; tư
tưởng hiện thực của các nhà văn ấy mang tính lạc quan hay bi quan, thể hiện được
điều gì trong tấm lòng nhân đạo của tác giả; các phương thức, phương tiện nghệ

diện sau đây khi phân tích, đối sánh:
Các yếu tố bên ngoài góp phần thể hiện nội tâm (cử chỉ, điệu bộ, diện mạo, hành
động, ngôn ngữ đối thoại); yếu tố bên trong thể hiện nội tâm (độc thoại nội tâm).
Tương quan giữa các yếu tố trên (mức độ sử dụng các yếu tố ấy - yếu tố nào được
sử dụng nhiều hơn, yếu tố nào được sử dụng ít hơn).
Phương thức diễn tả tâm lý theo hình thức tuyến tính hoặc hồi cố (nhân vật suy
nghĩ trong hiện tại theo mạch thời gian tuyến tính hoặc hồi tưởng lại những sự kiện
đã xảy ra trong quá khứ).
* Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ, cần chú ý các bình diện dưới đây khi phân tích,
đối sánh:
Mô hình ngữ pháp của ngôn từ (các kiểu câu theo chức năng ngữ pháp được sử
dụng; thể thức cấu tạo của câu văn, câu thơ; cách thức liên kết giữa các câu văn,
câu thơ...)
Tính tạo hình của ngôn từ (qua việc sử dụng hình ảnh, các từ ngữ gợi đường nét,
màu sắc...).
Tính nhạc của ngôn từ (qua sự tổ chức nhịp điệu, phối hợp thanh điệu...của câu
văn, câu thơ).
Các phương tiện, biện pháp tu từ được sử dụng; tính cổ điển, tính hiện đại (nếu có)
của ngôn từ.
Tất nhiên, ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi, học sinh cần tuỳ theo đối
tượng so sánh mà ứng biến cho phù hợp.
Nếu đề bài yêu cầu so sánh toàn bộ các yếu tố hình thức nghệ thuật giữa hai tác
phẩm (hay hai đoạn văn, đoạn thơ) thì học sinh phải linh hoạt, dựa vào đặc trưng
thể loại để phân tích, đối sánh một cách hợp lý.
+ Dạng bài đối sánh ở cấp độ hình tượng
* Với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự, cần lưu ý các bình diện sau đây
khi phân tích, đối sánh :
Loại hình của các nhân vật (đó là nhân vật hành động hay nhân vật tư tưởng...); lai
lịch, ngoại hình, hoàn cảnh sinh sống của các nhân vật; số phận của các nhân vật;
Đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật; ý nghĩa của các nhân vật trong việc

Việc sử dụng chi tiết như vậy có phản ánh điều gì trong phong cách nghệ thuật của
nhà văn không?
Như vậy, với các đối tượng so sánh khác nhau, học sinh nên lưu ý những bình diện
tương ứng để hệ thống ý được triển khai thoả đáng và đầy đủ
3. Khả năng áp dụng vào thực tế của sáng kiến
Sáng kiến kinh nghiệm “ Giúp HS đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề
thi THPT QG” của tôi có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các em HS lớp 12 bao
gồm cả học sinh đại trà và học sinh giỏi. Cũng có thể giúp các giáo viên dạy 12
thêm kinh nghiệm để làm giàu thêm năng lực chuyên môn của mình.
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI

1. Lớp thường xuyên áp dụng sáng kiến: 12A10
Năm học ( 20142015)

Điểm giỏi

Học Kỳ I

36,17%

31,91%

26,27%

5,63%

Học Kỳ II

42,55%



34,78%

28,26%

13,04%

Điểm khá

19

Điểm TB

Điểm yếu


IV.

Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm: “Giúp HS đạt điểm cao khi làm câu
NLVH trong đề thi THPT QG” là kết quả của bản thân tôi đúc rút từ thực tế
giảng dạy và ôn tập cho HS, không sao chép và vi phạm bản quyền của tác giả
khác. Nếu phát hiện có bất kỳ vi phạm gì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm “Giúp
HS đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi THPT QG” của cá nhân tôi, rất
mong nhận được sự nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học Sở GD - ĐT Nam
Định để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh đầy đủ và áp dụng có hiệu
quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status