Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 12 viết đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi THPT quốc gia tại trường THPT nguyễn quán nho - Pdf 44

MỤC LỤC

NỘI DUNG

TRANG

1. Mở đầu

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

3

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm


3.2. Kiến nghị

17

Tài liệu tham khảo

19


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Làm văn là một phân môn có vị trí rất quan trọng trong đánh giá kết quả
học tập môn Ngữ văn của học sinh. Đây là một hoạt động sáng tạo. Thông qua
các bài làm văn học sinh thể hiện nhận thức, tình cảm của mình đối với vấn đề
văn học và cuộc sống. Nó cũng phản ánh năng lực tư duy, trình độ ngôn ngữ và
một phần tính cách của học sinh.
Làm văn cũng là kĩ năng được kiểm tra, đánh giá nhiều nhất trong các bài
thi Ngữ văn nói chung và bài thi Ngữ văn của kì thi Trung học phổ thông quốc
gia (THPTQG) nói riêng. Trong cấu trúc đề thi THPTQG phần làm văn có thang
điểm là 7/10 điểm.
Có rất nhiều kiểu bài làm văn được dạy trong chương trình Ngữ văn
THPT. Tuy nhiên kiểu bài làm văn trong đề thi THPTQG là kiểu bài nghị luận.
Kiểu bài này xuất hiện ở cả 2 dạng thức: nghị luận xã hội (NLXH) và nghị luận
văn học.
NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan
đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng
của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ
giữa người với người trong xã hội. Nó góp phần tăng cường sự tương tác của
học sinh với xã hội, với những điều đang xảy ra xung quanh mình, giúp các em

học sinh tôi nhận thấy phần lớn học sinh 12 không biết cách viết đoạn văn
NLXH mà có yêu cầu tích hợp với nội dung ngữ liệu ở phần đọc - hiểu. Về mặt
hình thức, nhiều em không viết đúng thể thức một đoạn văn. Về mặt nội dung,
các em thường có xu hướng viết dựa, viết theo hoặc “đồ họa” lại ý của ngữ liệu
đã cho, cá biệt có em còn chép lại nguyên văn cả phần ngữ liệu. Rất ít bài viết
của học sinh có những suy nghĩ độc lập, không phụ thuộc vào ngữ liệu trong đề
bài.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi luôn trăn trở làm sao để học sinh lớp 12
năm nay sẽ tự tin và đạt được điểm số cao ở câu NLXH nói riêng, ở bài thi môn
Ngữ văn của kì thi THPTQG nói chung. Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài “Kinh
nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 12 viết đoạn văn NLXH trong đề thi THPTQG
tại trường THPT Nguyễn Quán Nho”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của tôi khi thực hiện đề tài nhằm góp phần củng cố kĩ năng viết
đoạn văn NLXH , nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn lớp 12, nâng
cao kết quả thi THPTQG cho học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Quán Nho.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các giải pháp để rèn luyện và nâng cao kĩ
năng viết đoạn văn NLXH trong đề thi THPTQG thông qua các đề thi mô
phỏng, đề thi khảo sát, các bài tập thực hành cho sinh lớp 12.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:
+ Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đoạn văn, cách lập luận,
trình bày nội dung đoạn văn.
+ Nghiên cứu các đề thi có câu làm văn NLXH tích hợp với ngữ liệu phần
đọc - hiểu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
- Phương pháp thực nghiệm.


- Đoạn diễn dịch: Diễn dịch là phương pháp trình bày ý từ luận điểm suy
ra các luận cứ (từ ý tổng quát suy ra ý cụ thể).
- Đoạn quy nạp: Quy nạp là phương pháp trình bày ý từ các luận cứ rút ra
những nhận định tổng quát, rút ra luận điểm (từ các ý cụ thể rút ra nhận định
chung).
- Đoạn tổng - phân - hợp: Đoạn tổng - phân - hợp là đoạn nghị luận có
cách triển khai ý từ luận điểm suy ra các luận cứ, rồi từ các luận cứ khẳng định
lại luận điểm. Qua mỗi bước vấn đề được nâng cao hơn.
Ngoài ra, còn có các cách trình bày khác như: móc xích, song hành...
2.1.2. Các thao tác lập luận
- Giải thích
Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng
và giúp người khác hiểu đúng ý của mình. Hay nói cách khác người viết phải trả
lời câu hỏi có mô hình: “A” là gì? Là như thế nào?
- Chứng minh
Chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để làm sáng
tỏ một lí lẽ, một ý kiến để thuyết phục người đọc, người nghe tin tưởng vào vấn
đề.
4


- Bình luận:
“Bình luận là nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán
đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn đề)
trong đời sống hoặc trong văn học.” (Sgk Ngữ văn 11, tập hai, trang 73)
- Bác bỏ:
“Bác bỏ là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai
lệch hoặc thiếu chính xác,... từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục
người nghe (người đọc). (Sgk Ngữ văn 11, tập hai, trang 26)
- Phân tích:

+ Yêu cầu:
Bài nghị luận cần nêu rõ hiện tượng, phân tích các mặt đúng sai, lợi, hại,
chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ ý kiến của người viết.
Ngoài việc vận dụng các thao tác lập luận phân tích so sánh, bác bỏ, bình
luận... người viết cần diễn đạt giản dị, ngắn gọn, sáng sủa nhất là phần biểu cảm.
5


Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện sáng kiến
kinh nghiệm này. Bên cạnh đó tôi cũng khảo sát thực trạng kĩ năng viết đoạn
văn NLXH của học sinh lớp 12 ở trường THPT Nguyễn Quán Nho để có giải
pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả.
2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Khi bộ GD và ĐT công bố đề thi minh họa vào đầu tháng 10 năm 2016,
tôi và một số đồng nghiệp đã sử dụng đề thi này tổ chức cho học sinh một số lớp
12 làm bài thi thử. Sau đó tôi tiếp tục cho học sinh các lớp 12 mình trực tiếp
giảng dạy viết đoạn văn NLXH tích hợp với ngữ liệu phần đọc - hiểu tương tự
như đề thi minh họa của bộ GD. Tôi chỉ sử dụng thang điểm 5 cho các bài tập
mình ra để tương thích với cấu trúc đề thi của bộ GD.
Một số đề tôi dùng để khảo sát như sau:
Đề 1
I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Khi việc kiếm sống không còn là vấn đề, hãy dùng phần tiền còn lại để
theo đuổi mơ ước của mình. Hãy tung cánh và dám nghĩ dám làm. Hãy sống
một cuộc đời thật khác biệt!
Triết lý nổi tiếng từ đại học Harvard: số phận một người được định đoạt
qua những gì mà người đó làm trong thời gian rảnh rỗi từ 8 - 10h tối. Hãy dành
thời gian đó để học hỏi, suy nghĩ, và tham gia các bài giảng hay thảo luận có ý
nghĩa. Nếu bạn kiên trì trong vài năm, thành công sẽ đến gõ cửa với bạn.

Nhiều người cho rằng có tiền là có tất cả. Tiền bạc quả thật có sức mạnh
lớn lao. Nhưng tiền bạc không phải là vạn năng.
Nó có thể mua được chiếu giường, nhưng không mua được giấc ngủ.
Nó có thể mua được châu ngọc, nhưng không mua được sắc đẹp
Nó có thể mua được giấy bút, nhưng không mua được ý thơ
Nó có thể mua được nhà cửa, nhưng không mua được gia đình
Nó có thể mua được thức ăn, nhưng không mua được sự ngon miệng
Nó có thể mua được trò chơi, nhưng không mua được niềm vui
Nó có thể mua được xu nịnh, nhưng không mua được lòng trung thành
Nó có thể mua được cánh hữu, nhưng không mua được tình bạn
Nó có thể mua được sự phục tùng, nhưng không mua được lòng kính
trọng
Nó có thể mua được quyền thế, nhưng không mua được trí tuệ
Nó có thể mua được thể xác, nhưng không mua được tình yêu
Nó có thể mua được vũ khí, nhưng không mua được hòa bình.
(Theo Thác-cơ-rê, dẫn theo Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2016, tr. 17)
Câu 1 Đoạn trích trên sử dụng thao tác lập luận nào?
Câu 2 Tác giả sử dụng thao tác lập luận đó nhằm mục đích gì?
Câu 3 Hãy nêu cách hiểu của anh/ chị về một lí lẽ được nêu trong đoạn
trích trên.
Câu 4 Anh/ Chị có đồng tình với quan điểm "tiền bạc không phải là vạn
năng" không? Vì sao?
II. LÀM VĂN ( (2,0 điểm)
Từ nội dung của đoạn trích ở phần Đọc - hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn
văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Nếu không có
tiền...
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỤ THỂ ĐỐI VỚI CÂU LÀM VĂN NLXH
TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Ở MỘT SỐ LỚP 12 TRƯỜNG THPT
NGUYỄN QUÁN NHO NĂM HỌC 2016-2017


6,7%

20

44,4%

22

48,9%

12C5

34

0

0%

13

38,2%

21

61,8%
7


Kết quả trên cho thấy số học sinh không có kĩ năng viết đoạn NLXH còn

Đoạn văn nghị luận
Đoạn văn nghị luận là một phần của văn bản nghị luận viết ra nhằm xác
lập cho người đọc (người nghe) một quan điểm, một tư tưởng. Đoạn văn nghị
luận bao gồm luận điểm và các luận cứ.
2.3.1.2. Các phương pháp dựng đoạn văn nghị luận thường gặp
Có nhiều cách dựng đoạn văn nghị luận nhưng để thuận lợi cho các em
khi viết đoạn văn NLXH tôi chỉ yêu cầu học sinh nắm vững các cách sau:
- Diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủ đề
mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội
dung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó. Các câu triển khai được thực hiện
bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những
nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
- Qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi tiết,
cụ thể đến ý khái quát. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày
8


bằng thao tác chứng minh, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá
chung.
- Cách tổng - phân - hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết
đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai
triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,
nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng
hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề.
Đây là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ THCS và cả ở chương
trình ngữ văn lớp 10, lớp 11. Tôi đã củng cố ngay cho học sinh sau khi bộ GD và
ĐT công bố đề thi minh họa qua các buổi học phụ đạo buổi chiều.
2.3.2. Giải pháp 2: Củng cố kiến thức về cách làm bài văn NLXH
2.3.2.1. Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý:

Từ cách làm bài cụ thể của hai dạng nghị luận xã hội trên tôi rút ra cách
làm tổng quát cho các đề nghị luận xã hội như sau:
9


* Giới thiệu vấn đề nghị luận
* Nêu và giải thích vấn đề nghị luận
* Bàn bạc (đúng/sai, phải/trái, ý nghĩa, tác dụng...)
* Xem xét, mở rộng, lật đi lật lại vấn đề
* Bài học rút ra
2.3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn NLXH với các
đề độc lập, riêng biệt
Mục đích của tôi khi thực hiện giải pháp này là để rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn NLXH cho học sinh thật thành thạo trước khi các em bước vào viết
đoạn văn có tích hợp với nội dung của ngữ liệu cho trước.
Để viết đoạn văn NLXH thành công tôi yêu cầu học sinh tuân thủ cách
làm một bài văn nghị luận xã hội với năm ý tổng quát như đã nêu ở giải pháp 2.
Tuy nhiên, trước đây mỗi bước sẽ tương ứng với một đoạn văn thì bây giờ học
sinh phải thực hiện nó chỉ trong một đoạn văn khoảng 200 chữ (tương đương với
2/3 trang giấy thi, khoảng 10 - 16 câu văn bình thường). Để thuận lợi cho học
sinh tôi đưa ra cho các em cấu trúc tổng quát của đoạn như sau:
Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận (khoảng 2 câu, một câu dẫn và một
câu nêu vấn đề)
Thân đoạn:
- Giải thích vấn đề nghị luận (khoảng 1- 3 câu)
- Bàn bạc (khoảng 4 - 5 câu)
- Xem xét, mở rộng, lật đi lật lại vấn đề (1- 3 câu)
- Bài học rút ra (1- 2 câu)
Kết đoạn (1 câu)
Tôi xem đây là “mô hình chuẩn” của một đoạn văn NLXH. Với mô hình

của cuộc sống.
- Mở rộng vấn đề: không nên ỷ lại, dựa dẫm vào người khác
- Bài học: phải tự lập, chỉ nhận sự giúp đỡ của người khác khi thật cần
thiết và cũng phải biết giúp đỡ người khác.
Bước 3: Viết các ý thành các câu
Từ các ý đã tìm được tôi yêu cầu học sinh viết thành các câu. Chẳng hạn
như ở phần bàn bạc học sinh có thể viết thành các câu như thế này: Thực tế cuộc
sống luôn đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, bất ngờ, có khi vượt khỏi khả năng giải
quyết của bản thân. Vì vậy chúng ta cần người khác giúp đỡ. Nhờ có sự giúp đỡ
của người khác ta sẽ có thêm sức mạnh, niềm tin, nghị lực để vượt qua “giông
bão” của cuộc đời. Hơn nữa, sự giúp đỡ lẫn nhau giữa mọi người sẽ tạo lập các
mối quan hệ tốt đẹp, tăng cường sự tương tác giữa người với người trong xã
hội, trong cộng đồng. Từ đó, con người sẽ tìm được sự đồng cảm, sẻ chia, tìm
được niềm vui, ý nghĩa của cuộc sống.
Bước 4: Học sinh dựng thành đoạn văn hoàn chỉnh
Bước 5: Học sinh tự xem lại bài viết của mình, tự so sánh với cấu trúc
trên, tự chấm điểm
Khi học sinh dựng thành đoạn văn hoàn chỉnh xong, tôi cho các em đọc
lại bài viết của mình, so sánh với cấu trúc tôi đưa ra, các em tự nhận xét bài viết,
tự đánh giá, tự cho điểm. Tiếp theo, tôi sẽ xem lại bài viết của một số em với lực
học khác nhau (từ khá giỏi đến yếu kém), phân tích để chỉ ra cho cả lớp thấy chỗ
đạt và chưa đạt của các bài làm đó.
Bước 6: Giáo viên cho học sinh một đoạn văn tham khảo
Sau khi hoàn thành tất cả các bước trên, tôi sẽ cung cấp cho học sinh một
đoạn văn hoàn chỉnh để các em tham khảo. Đoạn văn đó như sau:
“Có mặt trên cõi đời này tức là chúng ta đã tham gia vào dòng chảy cuộc
sống. Dòng chảy ấy đôi khi quăng quật chúng ta vào những chỗ nước chảy
mạnh, xiết khiến chúng ta có nguy cơ bị chìm nghỉm và lúc đó ta phải cần đến
sự giúp đỡ của người khác. Sự giúp đỡ chính là sự hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh
thần mà người khác dành cho chúng ta. Thực tế cuộc sống luôn đặt ra nhiều

2.3.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn NLXH tích hợp
với ngữ liệu phần đọc - hiểu trong đề thi THPTQG
Tôi cung cấp cho học sinh một số đề thi có phần đọc - hiểu và câu làm
văn NLXH tương tự như đề thi minh họa và thử nghiệm mà bộ GD đã công bố.
Tôi yêu cầu các em trả lời câu hỏi phần đọc - hiểu. Sau khi trả lời câu hỏi đọc hiểu học sinh sẽ viết đoạn văn nghị luận bàn về một vấn đề xã hội nêu trong
đoạn ngữ liệu.
Đây là một trong những đề tôi đã giao cho học sinh:
I. ĐỌC - HIỂU
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Không thể phủ nhận, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa khiến tiếng Việt có
nhiều cơ hội tiếp thu được nhiều yếu tố mới và tiến bộ làm cho tiếng Việt trở nên
giàu có. Nhưng mặt khác tiếng Việt cũng phải đối đầu trước nguy cơ hòa tan
theo xu hướng áp đảo của chính sách “thế giới phẳng” về ngôn ngữ và văn hóa
do một số nước lớn chủ xướng. Trong suốt những năm vừa qua, dù được đề cập
dưới nhiều khía cạnh nội dung phong phú nhưng mục tiêu thống nhất là “giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt” vẫn luôn là một chủ đề liên tục được bàn thảo,
khi ồn ào lúc lại lắng xuống, nhưng chưa bao giờ giảm sức “nóng”.
Tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số người Việt Nam, là công cụ
giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn. Tiếng Việt
có lịch sử hình thành và phát triển rất đáng tự hào, trong đó đáng kể nhất là
khả năng tiếp nhận vốn từ vựng từ bên ngoài, tự điều chỉnh chúng một cách chủ
động, biến thành cái riêng, cái đặc biệt của người Việt, thực sự đã, đang và sẽ
mãi là tài sản quốc gia quý giá. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải kế thừa những
12


giá trị ngôn ngữ truyền thống và hội nhập như thế nào để đừng đánh mất bản
sắc của tiếng mẹ đẻ./.
(Khánh Linh, Tầm quan trọng của ngôn ngữ mẹ đẻ trong quá trình phát
triển, dangcongsan.vn, ngày 22/02/2016)

liệu đã trình bày về vấn đề “Tại sao“giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” vẫn
luôn là một chủ đề liên tục được bàn thảo, khi ồn ào lúc lại lắng xuống, nhưng
chưa bao giờ giảm sức “nóng”?” là:
- Tiếng Việt đang phải đối đầu trước nguy cơ hòa tan theo xu hướng áp
đảo của chính sách “thế giới phẳng” về ngôn ngữ và văn hóa do một số nước lớn
chủ xướng.
- Tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số người Việt Nam, là công cụ
giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn. Tiếng Việt...
thực sự đã, đang và sẽ mãi là tài sản quốc gia quý giá.
Từ đây học sinh sẽ thấy lí giải như vậy là hợp lí nhưng vẫn còn nhiều khía
cạnh để bàn bạc. Học sinh có thể tìm thêm nhiều lí do như sau:
- Về tầm quan trọng:
13


+ Tiếng Việt là phương tiện ngôn ngữ diễn đạt được đầy dủ nhất đời
sống tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của người Việt.
+ Nó lưu giữ các giá trị tinh thần của cộng đồng dân cư Việt từ thuở xưa
đến nay.
+ Nó góp phần bảo tồn bản sắc Việt.
+ Nó nhắc nhở chúng ta lòng tự hào, tự tôn dân tộc...
- Trên thực tiễn, sự trong sáng của tiếng Việt đang bị đe dọa bởi những
hiện tượng sau:
+ Sự lệch chuẩn trong sử dụng Tiếng Việt của một bộ phận người Việt
đặc biệt là giới trẻ
+ ViệcLạm dụng tiếng nước ngoài diễn ra thường xuyên liên tục
+ Hiện tượng chửi thề, nói tục đang làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng
Việt.
Rõ ràng khi tìm được các ý như vậy thì học sinh khó mà viết dựa, viết
theo hoặc “đồ họa” lại ngữ liệu bởi vì khi tiến hành các thao tác này học sinh đã



Tiếng Việt là tiếng nói của đại đa số người Việt. Trải qua hàng ngàn năm
tồn tại và phát triển với biết bao thăng trầm, Tiếng Việt đã đạt phẩm chất trong
sáng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây“giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt” vẫn luôn là một chủ đề liên tục được bàn thảo, khi ồn ào lúc lại lắng
xuống, nhưng chưa bao giờ giảm sức "nóng". Tại sao vậy? Sự trong sáng của
tiếng Việt được biểu hiện ở hệ thống chuần mực riêng của tiếng Việt, không pha
tạp, lai căng, ở tính lịch sự, văn hóa trong lời nói... Nhưng thực tế hiện nay, sự
lệch chuẩn trong sử dụng ngôn ngữ của một bộ phận người Việt đặc biệt là giới
trẻ; tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài; hiện tượng nói năng thô tục, bất lịch
sự đang “đe dọa” sự trong sáng vốn có của tiếng Việt. Hơn nữa, tiếng Việt là
phương tiện ngôn ngữ diễn đạt được đầy đủ nhất đời sống tư tưởng, tình cảm,
tâm hồn của người Việt. Nó lưu giữ các giá trị tinh thần của cộng đồng dân cư
Việt từ xưa đến nay. Nó góp phần bảo tồn bản sắc Việt, nhắc nhở chúng ta lòng
tự hào, tự tôn dân tộc…Cho nên giữ gìn tiếng Việt và sự trong sáng của tiếng
Việt phải luôn là nhiệm vụ trọng tâm trong thời đại “hội nhập” hiện nay. Nhưng
không phải vì thế mà chúng ta giữ “khư khư” tiếng Việt, bài trừ các ngôn ngữ
khác. Ngược lại, song song với quá trình giữ gìn chúng ta cũng phải biết tiếp
thu tinh hoa của các ngôn ngữ khác, để làm tiếng Việt trở nên phong phú hơn,
giàu có hơn. Ngoài ra, mỗi chúng ta cũng cần biết thêm ít nhất là một ngoại
ngữ để hội nhập và “vươn ra thế giới”. Có như vậy, tiếng Việt mới ngày càng
phát triển và hoàn thiện. Có như vậy, chúng ta mới có thể “hòa nhập” mà
không “hòa tan”.
Trên đây là những giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 12 viết đoạn
văn NLXH trong đề thi THPTQG ở trường THPT Nguyễn Quán Nho năm
học 2016 - 2017.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, với đồng nghiệp và nhà trường
Qua một năm thực hiện đề tài, tôi nhận thấy kĩ năng viết đoạn văn NLXH

tr.176)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản.
Câu 3:Vì sao theo tác giả “nên có một cuộc vận động đọc sách trong
thanh niên trong cả nước.
Câu 4: Anh/chị hãy bày tỏ ngắn gọn suy nghĩ của mình về vai trò của
việc đọc sách.
II.LÀM VĂN (2,0 điểm)
Từ nội dung của văn bản phần Đọc - hiểu, anh (chị) hãy bàn về văn hóa
đọc của người trẻ Việt Nam. (Trình bày bằng một đoạn văn khoảng 200 từ)
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA HỌC SINH HAI LỚP 12C1,12C5 TRƯỜNG
THPT NGUYỄN QUÁN NHO SAU KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG SÁNG
KIẾN KINH NGHIỆM
(Điểm số câu NLXH)
Khối lớp

Đầu
năm
Cuối
năm

Tổng
số học
sinh

Điểm 1,5 - 2,0
TS
%



13

38,2%

21

61,8%

12C1

45

14

31,1%

22

48,9%

8

20,0%

12C5

34

8


TS

%

TS

%

TS

%

11

+ 24,4%

2

+ 4,5%

- 14

- 28,9%

8

+ 23,5%

4

mà củng cố hoặc nâng cao kiến thức về đoạn văn, rèn luyện kĩ năng dựng đoạn
văn NLXH cho học sinh.
- Đặc biệt là phải tăng cường kiến thức xã hội cho học sinh thông qua
nhiều kênh thông tin khác nhau.
Khả năng ứng dụng của sáng kiến:
Những giải pháp trong sáng kiến đã giúp học sinh nhất là đối tượng học
sinh từ trung bình trở xuống của trường THPT Nguyễn Quán Nho có kĩ năng
viết đoạn văn NLXH đặc biệt là đoạn văn NLXH tích hợp với ngữ liệu đọc hiểu trong các đề thi. Kĩ năng viết đoạn văn NLXH trong phạm vi đề tài này sẽ
giúp ích cho học sinh trong kì thi THPT quốc gia năm 2017 sắp tới và các năm
tiếp theo.
Sáng kiến cũng góp phần nâng cao khả năng viết luận cho học sinh sau
này. Đồng thời nó cũng giúp học sinh cải thiện kĩ năng thuyết trình, kĩ năng bày
tỏ quan điểm về các vấn đề xã hội, phần nào tạo ra thói quen tranh luận, thói
quen phản biện xã hội.
Các kinh nghiệm trong sáng kiến này cũng có thể ứng dụng trong các giờ
học ngoại khóa, trong các buổi thảo luận, tọa đàm, trong các hoạt động của
Đoàn thanh niên, trong các hoạt động sáng tạo của học sinh...
3.2. Kiến nghị
Để ứng dụng hiệu quả sáng kiến này vào quá trình dạy và học môn ngữ
văn, tôi kiến nghị:
Đối với nhà trường
- Tăng thêm số buổi ôn thi THPTQG môn Ngữ văn ở tất cả các lớp 12.
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh với nội dung phong phú,
gần với thực tiễn để học sinh thu nhận thêm kiến thức xã hội, biết tranh luận,
trình bày quan điểm của mình về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xung
quanh.
Đối với các cơ quan quản lý giáo dục
- Tăng cường thời lượng dạy và học các tiết nghị luận xã hội trong
chương trình Ngữ văn phổ thông.
- Đổi mới cách ra đề thi, kiểm tra và đánh giá học sinh theo xu hướng

4. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 12.
5. Luyện tập cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh
phổ thông của các tác giả: Nguyễn Quang Ninh – Nguyễn Thị Ban- Trần
Hữu Phong.
6. 28 đề thi THPTQG năm 2017,Gs Đỗ Ngọc Thống

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status