Hướng dẫn học sinh giỏi làm tốt bài văn nghị luận xã hội - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU

1

1..Lý do chọn đề tài

1

2.Mục đích nghiên cứu

1

3. Đối tượng nghiên cứu

1

4. Phương pháp nghiên cứu

1

II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1

1.Cơ sở lý luận

1

2. Thực trạng về việc ôn tập thi vào lớp 10 hiện nay


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

13

1. Kết luận

13

2. Kiến nghị

13

Tài liệu tham khảo


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Ôn thi vào lớp 10 THPT là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các
trường THCS .Nhưng vấn đề đó hiện nay ở các trường còn gặp nhiều khó khăn
về phương pháp, kỹ năng ôn luyện, cách lựa chọn tài liệu ôn thi.. Đặc biệt là
môn Ngữ văn, những năm gần đây các em học sinh có xu hướng học thiên về
các môn tự nhiên như toán, hoá, lý, không có hứng thú học môn Ngữ văn cũng
là một thử thách đối với thầy cô. Là giáo viên đã trực tiếp dạy lớp 9 và ôn thi
vào lớp 10 nhiều năm nên bản thân tôi cũng rất trăn trở làm thế nào để có
phương pháp dạy cho các em vừa mang lại kết quả cao vừa tạo hứng thú cho
các em trong giờ ôn tập. Học chính các em đã ngại nói gì đến học ôn. Dạy cái gì,
dạy như thế nào? Đó là một vấn đề. Dạy lại kiến thức các em sẽ nhàm chán,
không luyện được kỹ năng, không có phương pháp làm bài, các em sẽ lúng
túng , hướng dẫn các em viết thì các em ngại viết, đọc chép thì không được đẫn

Tôi xin được trình bày để các anh chị em tham khảo.
2.2. Thực trạng về việc ôn tập thi vào lớp 10 hiện nay:
2.2.1. Thuận lợi
- Về tài liệu: Hiện nay, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, ôn tập môn ngữ
văn THCS nói chung, môn ngữ văn lớp 9 nói riêng về cơ bản nhà trường đã
cung cấp tương đối đầy đủ như: SGK, SGV, thiết kế bài soạn, em tự đánh giá
kiến thức ngữ văn, tài liệu ôn thi vào lớp 10 của sở giáo dục ...giúp cho người
giáo viên tham khảo, chọn lọc sắp sếp nội dung, phương pháp ôn tập phong phú,
hợp lí.
- Giáo viên có năng lực, nhiệt tình, trách nhiệm cao trong chuyên môn.
- Học sinh có ý thức học, lo học, có ý chí phấn đấu.
- Sự quan tâm của BGH nhà trường, của các bậc phụ huynh đến con em.
2.2.2.Khó khăn:
- Kỹ năng viết của các em kém, học văn nhưng nhác viết.
- Học sinh ngại học môn văn thiên về các môn tự nhiên nhiều hơn.
- Sự phân luồng chưa chính xác, dẫn đến chất lượng học sinh chưa đồng
đều.
- Tình hình chất lượng thi vào lớp 10 những năm gần đây ở nhà
trường:
+ Đội ngũ giáo viên dạy lớp 9 được nhà trường tuyển chọn có tinh
thần trách nhiệm cao, cố gắng tìm tòi sáng tạo các biện pháp dạy học tốt hơn , có
kinh nghiệm ôn thi vào lớp 10.
+ Tuy nhiên kết quả thi ở các năm gần đây vào lớp 10 chưa cao đều,
năm thấp ( 53%), năm cao chênh lệch quá nhiều về số lượng nhất là kết quả vào
trường công lập.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.:
2.3.1. Hệ thống, củng cố kiến thức ôn tập:
- Để ôn tập tốt người giáo viên trước hết phải có vốn kiến thức tốt, đầy đủ
chắc chắn, vững vàng về môn Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9. Đề thi vào lớp 10
nhằm kiểm tra kiến thức của học sinh một cách toàn diện về kiến thức, kỹ năng.

( Phạm Tiến Duật); "Đoàn thuyền đánh cá" (Huy Cận); "Bếp lửa" (Bằng Việt) ;
"Ánh trăng" (Nguyễn Duy).
- Học kỳ II: "Mùa xuân nho nhỏ" (Thanh Hải); "Viếng lăng Bác" (Viễn
Phương); "Sang thu" (Hữu Thỉnh); "Nói với con" (Y Phương).
* Văn học nước ngoài: hai tác phẩm tiêu biểu là: Rô-bin-xơn ngoài đảo
hoang-(Đi-phô),Bố của Xi- mông (Mô-pat-xăng).
2.3.1.3. Tập làm văn:
Kiến thức: Ôn tập lý thuyết và rèn kỹ năng làm các dạng bài nghị luận đặc
biệt là nghị luận xã hội.
- Nghị luận xã hội về sự việc, hiện tượng đời sống
- Nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lý
4


- Nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích
- Nghị luận về tác phẩm thơ, đoạn thơ
2.3.2 Rèn kỹ năng thực hành qua các dạng bài:
2.3.2.1. Đối với phân môn văn học:
- Khi học các văn bản, rèn cho các em kỹ năng cần nắm các ý cơ bản: tên
tác giả, những nét chính về tác giả như đề tài, phong cách, sở trường, tên tác
phẩm, năm sáng tác, hoàn cảnh ra đời, đoạn trích học, tóm tắt tác phẩm, ý nghĩa
nhan đề của tác phẩm.
- Với tác phẩm truyện học sinh phải nhớ các chi tiết cụ thể, tóm tắt nội
dung tác phẩm dưới dạng viết đoạn văn, nắm tình huống truyện, đặc điểm nhân
vật, chủ đề tác phẩm, cảm nhận, phân tích được chi tiết nghệ thuật độc đáo trong
tác phẩm. Để phục vụ cho các dạng câu hỏi sau:
- Với câu hỏi thuộc dạng bài viết bài giới thiệu tác giả, tác phẩm hoặc tóm
tắt tác phẩm truyện. Khi làm các câu hỏi thuộc dạng này các em phải nắm được
kiến thức về tác giả.
Về tiểu sử tác giả nên theo các bước sau

sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề bài thơ phục vụ cho dạng đề: chép bài thơ,
đoạn thơ, khổ thơ theo trí nhớ, điền vào chỗ trống của câu thơ, nêu chủ đề , giải
thích nhan đề bài thơ.
Ví dụ: Hãy chép thuộc lòng bốn câu thơ đầu của bài thơ Đoàn thuyền
đánh cá của Huy Cận.
Với câu hỏi dạng này đòi hỏi các em phải thuộc các bài thơ:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”…
(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
Giúp các em hiểu được mạch cảm xúc chính, các biện pháp tu từ nổi bật,
giá trị của các biện pháp tu từ đó, nghệ thuật độc đáo của từng bài thơ, đoạn thơ,
hệ thống nội dung, nghệ thuật của tác phẩm thành những luận điểm. Rèn luyện
khả năng cảm thụ tác phẩm văn học dưới dạng đoạn văn, bài văn. Tích hợp với
phần Tập làm văn để rèn kỹ năng nghị luận về tác phẩm thơ, đoạn thơ.Với kiến
thức này phục vụ cho các dạng đề như:
Ví dụ: Chỉ ra biện pháp tu từ và phân tích giá trị của nó trong đoạn thơ sau:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
(Sang thu - Hữu Thỉnh)
Tích hợp với dạng nghị luận thơ giúp các em làm dạng bài như: Cảm nhận về
vẻ đẹp của câu thơ, khổ thơ như:
6


Dạng 1: Con là mây và mẹ sẽ là trăng
Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta là bầu trời xanh

khá thì các em thừa sức.
Với phần này phục vụ cho các dạng đề như điền khuyết để thuộc các khái
niệm, nhận diện kiến thức, gọi tên kiến thức hoặc chuyển từ hình thức này sang
hình thức khác.
7


Ví dụ như:
Dạng 1: Điền từ ngữ còn thiếu vào chỗ trống: Dẫn gián tiếp là.....lời nói
hay ý nghĩ của người hay nhân vật, có điều chỉnh cho thích hợp.
Hay dạng khác như
Dạng 2: Hãy viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thành khởi
ngữ
Cô ấy ngồi học rất nghiêm túc.
Dạng 3: Xác định thành phần biệt lập và gọi tên tthành phần biệt lập đó:
- Thưa ông, chúng cháu ở Gia Lâm lên đấy ạ.
Dạng 4: Từ "Đầu" trong câu sau được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Và còn nhiều dạng khác nữa
2.3.2.3. Đối với phân môn Tập làm văn:
Luyện kỹ năng tìm ý, nhận diện đề, viết đoạn văn diễn dịch, quy nạp, đoạn
văn mở bài, triển khai các đoạn thân bài, đoạn kết bài.
Dạng nghị luận xã hội về sự việc, hiện tượng đời sống: (câu 3đ) Đối với
dạng bài này phải luyện cho các em thành thạo kỹ năng tìm ý, đó là những ý
chính sẽ triển khai trong bài văn. Nếu làm tốt thì mỗi khi gặp dạng này các em
sễ dễ dàng tìm được ý và viết bài lập luận chặt chẽ. Đề bài này thường yêu cầu
là nêu suy nghĩ của em về các hiện tượng có thật trong cuộc sống hàng ngày,
mang tính cấp thiết và các em thường nhìn thấy nhưng ít có dịp quan sát, phân

câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “ Không thầy đố mày làm nên”, “Không
có việc gì khó – Chỉ sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm
nên”; hay dạng cho hai câu thơ suy nghĩ về tình mẹ, gia đình, quê hương trong
cuộc đời mỗi con người. Đối với dạng này luyện cho các em thực hiện những
bước sau:
- Giải thích khái niệm (Trả lời câu hỏi là gì)
- Bàn luận.
- Bài học nhận thức và hành động.
Đối với dạng bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc tác phẩm thơ thì
luyện kỹ năng viết bài phải có bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
* Đối với phần mở bài hướng dẫn cho các em hai cách viết: mở bài trực
tiếp, gián tiếp, đi từ nhà văn đến tác phẩm.
Mở bài gián tiếp thông thường nhất là giới thiệu tác gả, tác phẩm, đánh giá
khái quát về tác phẩm. Đây là cách mở bài đơn giản, dễ viết nhất. Để viết được
mở bài này các em phải nhớ được kiến thức về tác giả, tác phẩm mà các em đã
ôn ở phần văn học. Đối với phần tác giả các em chỉ cần viết được các ý chính
như sở trường, phong cách nghệ thuật, đề tài. Hay về phần tác phẩm thì viết
được các ý như năm sáng tác, hoàn cảnh ra đời. Phần đánh giá khái quát thì nhớ
được chủ đề tác phẩm.
9


Ví dụ viết mở bài cho đề bài sau: Cảm nhận về vẻ đẹp của tình cha trong
tác phẩm "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng.
Các em viết được các ý sau:
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ nổi tiếng. Ông thường viết truyện
ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người
Nam Bộ. Lối viết của ông giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc. Các tác phẩm nổi
tiếng của ông như: "Cánh đồng hoang"; "Mùa gió chướng"; ''Đất lửa" và tiêu
biểu là truyện ngắn "Chiếc lược ngà". Truyện sáng tác năm 1966, tại chiến

của từng phân môn, trắc nghiệm theo các bài học của từng phân môn, trắc
nghiệm theo phạm vi giới hạn nội dung của chương, thể loại của từng phân môn
tổng hợp.
2.3.3.2.Hình thức tự luận: Tự luận dưới dạng đoạn văn ngắn hoặc một bài
văn theo các dạng bài làm văn đã học.Trong các bài tự luận có thể tích hợp ba
phân môn. Các bài tập tự luận thường xoay quanh các dạng: Tóm tắt văn bản,
giới thiệu tác giả, tác phẩm, thể loại, chép đoạn thơ, phân tích, cảm nhận, phân
11


tích một chi tiết nghệ thuật, một phần tác phẩm, phân tích nhân vật, phân tích
các biện pháp tu từ, giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm, so sánh các tác phẩm.
Với hai hình thức kiểm tra và các dạng đề kể trên, người ra đề có thể kết
hợp sáng tạo ra các đề thi khác nhau.Vì vậy giáo viên cần cung cấp đầy đủ kiến
thức và rèn luyện kỹ năng thì chẳng khác nào các em có chìa khoá vạn năng
trong tay có thể giải được các dạng đề một cách chắc chắn.
2.3.4 Kinh nghiệm ôn tập qua các bộ đề thi của các năm trước:
Ngoài việc chuẩn bị và truyền thụ kiến thức cơ bản, kỹ năng thành thạo cho
người học sinh, người giáo viên cần phải sưu tầm những bộ đề thi vào lớp 10
của các năm học trước kề cận. Cách ra đề thường dựa trên cơ sở của những bộ
đề trước và người ra đề sáng tạo, đổi mới thêm. Nội dung đề chủ yếu xoay
quanh các kiến thức cơ bản của chương trình.
Khi ôn thi vào lớp 10 năm học 2015 - 2016 tôi đã dùng bốn bộ đề của năm
học trước kề cận từ năm 2011 - 2012; 2012- 2013; 2013 - 20154 2014 - 2015 để
luyện cho các em. Ngoài ra còn sưu tầm đáp án chấm thi của các bộ đề hướng
dẫn học sinh nắm chắc kiến thức và làm quen với các dạng đề thông dùng. Từ
mỗi dạng của bộ đề, ta có thể liên hệ mở rộng ra thêm đề bài khác tương tự với
đơn vị kiến thức đựoc giới hạn, để học sinh có kỹ năng thành thạo và linh hoạt
tránh tình trạng bỡ ngỡ, bối rối trước kiểu đề khác.
Ngoài việc ôn tập để học sinh nắm vững kiến thức cơ bản toàn diện trình

- Đối với dạng bài phân tích một đoạn thơ hoặc một đoạn trích thì phải
nhắc lại vị trí của đoạn, khi phân tích phải đặt trong chỉnh thể tác phẩm để hiểu
hơn đoạn trích.
- Khi đề bài yêu cầu phân tích nhân vật hoặc những vấn đề liên quan đến
nội dung, các em cũng phải nhắc đến những yếu tố nghệ thuật mà tác giả sử
dụng để chuyển tải nội dung (nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật
miêu tả nhân vật…)
- Về thời gian làm bài, các em cần phân bố thời gian hợp lý cho các câu.
Không nên mất qúa nhiểu thời gian cho câu ít điểm, đến khi làm câu nhiều điểm
hơn lại không còn thời gian.
- Tránh tình trạng làm bài “đầu voi, đuôi chuột” sự phân bố thời gian không
hợp lý.
- Sự cẩu thả trong một bài văn rất dễ đem lại sự phản cảm cho người chấm,
dù bài làm tốt. Vì vậy, chữ các em có thể không đẹp nhưng phải dễ nhìn và trình
bày sạch sẽ
- Nên làm dàn ý trước khi viết bài để bài làm không bị lộn xộn, thiếu ý.
- Hãy viết văn giản dị, trong sáng. Tránh diễn đạt quá cầu kỳ, hoa mỹ bởi
rất dễ sa vào sáo rỗng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Với 20 năm trong nghề, nhiều năm dạy môn ngữ văn 9 và ôn thi vào lớp 10
THPT, tôi đã cố gắng tìm tòi, vận dụng tích luỹ được nhiều kinh nghiệm ôn thi
vào lớp 10.

13


Kết quả thực tế đã có nhiều thành công nhất định. Chưa năm nào có học
sinh bị điểm không môn văn. Học sinh làm bài tương đối tốt, điểm thi môn văn
rất cao hầu hết từ điểm 5 trở lên, có nhiều điểm cao từ 7 điểm đến 9 điểm lại là
môn hệ số hai nên góp phần làm tăng tỉ lệ đậu vào cấp III công lập của nhà

tìm tòi, vận dụng và sáng tạo vào thực tế giảng dạy trong những năm học qua và
đã cho những kết quả khả quan. Biết rằng đó là công việc mà giáo viên dạy Ngữ
văn 9 đều làm thường xuyên. Nhưng không phải ai cũng làm tốt được. Bởi vì
thực tế đã cho thấy rõ điều đó. Cũng có năm chất lượng vào lớp 10 rất thấp. Đó
là sự kết hợp tổng hợp các kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết. Nếu ta không làm tốt
các kỹ năng trên thì khó đạt được kết quả cao.
Đây chỉ là một kinh nghiệm nhỏ mà tôi tích luỹ được, trong đồng nghiệp
chúng ta còn có nhiều người có sáng kiến kinh nghiệm hay hơn mà họ gặt hái
được nhiều thành công cao hơn mà tôi cũng cần tìm hiểu, sưu tầm, học hỏi kinh
nghiệm để chúng ta ngày một nâng cao chất lượng ôn thi vào lớp 10 hơn nữa.
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục huyện nhà. Rất mong được sự đóng
góp, chỉ bảo thêm của các đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị:
- Phòng GD&ĐT cần tổ chức các buổi chuyên đề, tập huấn về ôn thi vào
lớp 10 THPT.
14


XÁC NHẬN CỦA

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2017

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Hiệu trưởng


Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Quang Trường
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2017
17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status