MỤC LỤC
STT
Tên mục
Trang
1
A. Mở đầu
2
2
I. Lí do chọn đề tài
2
3
II. Mục đích nghiên cứu
3
4
III. Đối tượng nghiên cứu
3
10
5
11
1. Hướng dẫn học sinh xác định đề bài
1.1. Nhận diện đề nghị luận xã hội
12
1.2.Phân biệt các dạng đề nghị luận xã hội
6
13
1.2.1. Dạng đề nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
6
14
1.2.2. Dạng đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
6
15
1.3. Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu đề bài
21
3.2.1. Đối với dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng
đời sống
3.2.2. Đối với dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
22
4. Hướng dẫn học sinh tìm dẫn chứng
16
23
20
24
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
C. Kết luận và kiến nghị
25
I. Kết luận
18
26
em bộc lộ rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết nhiều mặt cũng như các phẩm
chất và năng lực của mình.
Ở chương trình Tập làm văn lớp 9, học sinh chủ yếu được thực hành kiểu
bài văn nghị luận, gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Nếu như trước
đây, làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học
sinh luôn cảm thấy văn chương xa rời cuộc sống thì vài năm trở lại đây kiểu bài
nghị luận xã hội được đưa vào là một nỗ lực đổi mới chương trình Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông. Cùng với nghị luận văn học, kiểu bài nghị luận xã
hội góp phần hình thành các kĩ năng cơ bản cho học sinh trong việc tạo lập văn
bản, đồng thời cung cấp cho các em nhiều tri thức về đời sống chính trị, xã hội
giúp các em có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề thiết thực
trong đời sống thực tế đang diễn ra xung quanh mình, rèn luyện nâng cao phẩm
chất tư tưởng, đạo đức của bản thân. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên
rất chú trọng rèn kĩ năng làm kiểu bài này cho học sinh. Với trách nhiệm của
một người thầy, chúng tôi luôn mong muốn giúp các em học sinh tiếp cận được
vấn đề, hiểu và giải quyết được vấn đề đặt ra. Từ đó, bồi dưỡng cho các em sự
yêu thích đối với môn học và cũng là để góp phần làm phong phú thêm đời sống
tâm hồn, tình cảm, hình thành kỹ năng sống cho các em từ những vấn đề xã hội
được tiếp cận. Đồng thời, những vấn đề được đặt ra từ các đề bài làm văn nghị
luận xã hội cũng góp phần thiết thực vào việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách
cho học sinh, trở thành hành trang tri thức, góp phần chuẩn bị cho các em tự tin
bước vào đời.
Tuy nhiên, đây là kiểu bài nghị luận khó nên kết quả mà chúng tôi nhận
được thường không như mong muốn. Các em còn lúng túng, hành văn chưa
mạch lạc, chặt chẽ, nhất là còn chưa biết thể hiện, bày tỏ quan điểm của mình
trước các vấn đề xã hội. Bài làm của các em thường sơ sài, chung chung, lan
man, có khi xa đề, lạc đề.... Có bài chỉ viết được 7 đến 8 dòng là hết, có nhiều
2
và 3 tiết cho dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí). Thực tế đó
khiến học sinh không có điều kiện để rèn luyện nghị luận xã hội một cách
thường xuyên. Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn còn nhiều lúng túng trong cách
dạy, nhất là chưa có những tìm tòi, nghiên cứu sâu để tìm ra phương pháp giảng
dạy phù hợp, chưa có tính khái quát, xâu chuỗi về đặc trưng và phương pháp
giải quyết kiểu đề này.
Về phía học sinh, theo xu thế của xã hội, một bộ phận lớn học sinh không
đầu tư học môn Văn, ngại làm văn. Nhất là làm văn nghị luận xã hội( dạng văn
mới, khó) khiến các em càng nản, thậm chí bỏ qua dạng câu hỏi ấy. Còn một bộ
phận học sinh khác thì nắm vững lí thuyết mà thiếu kĩ năng thực hành, vận dụng
vào thực tiễn. Nhiều em hoàn toàn thờ ơ trước những thông tin thời sự nóng hổi,
những vấn đề cấp bách được cả xã hội quan tâm. Nhiều em sống khép kín, thiếu
sự tương tác, giao cảm với bạn bè, với những người xung quanh, với những cảnh
ngộ, những thân phận vô tình bắt gặp...khiến giáo viên gặp rất nhiều khó khăn
trong việc giảng dạy văn nghị luận xã hội. Đặc biệt đối với học sinh lớp 9 của
trường THCS Thành Long, ngoài thực trạng trên, thì giáo viên Ngữ văn còn gặp
khó khăn hơn nữa khi giảng dạy cách làm bài nghị luận xã hội. Bởi Thành Long
là một xã vùng khó của Huyện, nghề nghiệp chủ yếu là thuần nông, sản xuất
còn ở trình độ thủ công, lạc hậu, lối suy nghĩ kinh nghiệm, ngại đổi mới đã trở
thành thói quen trong lối sống nơi đây. Họ suy nghĩ, hành động, ứng xử và cảm
nhận mọi việc thường theo thói quen chứ không có lập trường, chính kiến. Bên
cạnh đó lối sống bó hẹp, khép kín, ít có sự giao thoa văn hóa dẫn đến hạn chế
trong cả ngôn ngữ nói và viết. Tất cả điều đó đã ảnh hưởng đến tư tư tưởng, suy
nghĩ và lối sống của học sinh Thành Long. Nơi đây còn là vùng đồng bào công
giáo nên thời gian dành cho học giáo lí, kinh thánh ở nhà thờ khiến các em
không còn thời gian học tập, thực hành làm bài, đọc sách vở, tài liệu, cập nhật
tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng.... nên kiến thức, vốn hiểu biết
càng hạn hẹp ảnh hướng lớn đến học và làm bài văn nghị luận xã hội và cũng
đồng nghĩa với chất lượng môn Ngữ văn thi vào 10 THPT của nhà trường thấp.
KẾT QUẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN SỐ 5 ( NGHỊ LUẬN XÃ HỘI) HS LỚP 9
0
0
8
25
14
43,8
10
31,2
9B
30
0
0
4
13,3
12
xếp vào dạng nghị luận xã hội. Trên thực tế các đề tài mà đề nghị luận xã hội đề
cập rất phong phú và đa dạng nhưng có thể quy về hai dạng cơ bản: Nghị luận
về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
1.2.Phân biệt các dạng đề nghị luận xã hội
Đề nghị luận xã hội được quy về hai dạng trên, tuy nhiên sự phân chia
dạng đề chỉ là tương đối vì nhiều khi giới hạn giữa hai dạng đề không rõ ràng
nên học sinh khó xác định rạch ròi. Việc nhận diện dạng đề trước khi tìm hiểu đề
rất quan trọng, giúp cho học sinh nhận diện rõ đề thuộc kiểu bài nào để có cách
làm bài phù hợp, định hướng đúng cho bài làm, tránh sai lạc trong quá trình làm
bài.
1.2.1. Dạng đề nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
"Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống xã hội là bàn về một sự
việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề
đáng suy nghĩ" [2] ; có tính bức xúc, cập nhật nóng hổi diễn ra trong đời sống
hàng ngày, được xã hội quan tâm như: học sinh nghèo vượt khó, an toàn giao
thông, ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, gian lận trong thi cử, bạo lực học
đường, các tệ nạn xã hội.......Từ đó làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu
sâu để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện tượng đó.
Ví dụ một số đề như sau:
Đề 1: "Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn mải chơi mà sao
nhảng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện
tượng đó
Đề 2: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển,
nhưng đã có nhiều học sinh đạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về
toán, lí, ngoại ngữ,....Năm 2004, sinh viên Việt Nam lại đoạt giải vô địch cuộc
thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện
tượng đó." [3]
Như vậy học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời
sống nhờ vào đối tượng được đề cập và yêu cầu trong đề bài. Đối tượng ở đây là
vấn đề đang xảy ra trong cuộc sống hiện tại, những vấn đề nóng mang tính thời
Mỗi đề làm văn nói chung và mỗi đề văn nghị luận xã hội nói riêng đều có
đặc điểm riêng về nội dung và hình thức nên trước khi làm bài việc xác định yêu
cầu của đề là điều kiện quan trọng giúp học sinh hình dung được toàn bộ hướng
đi của bài viết. Tìm hiểu kĩ đề sẽ tránh được tình trạng lạc đề trong làm bài. Vì
vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh phương pháp chung cho việc tìm hiểu đề
là: Đọc thật kĩ đề, tiếp theo tìm từ hoặc cụm từ then chốt có chứa ẩn ý được gọi
là từ khóa hoặc cụm từ khóa. sau đó giải mã các từ khóa để tìm ra yêu cầu trọng
tâm của đề là gì. Tóm lại, khi xác định yêu cầu của đề bài nghị luận xã hội,
chúng ta có thể đặt ra các câu hỏi:
+ Đề thuộc dạng nào?
+ Đề nêu vấn đề gì?
+ Đề yêu cầu gì về nội dung và hình thức?
Ví dụ:
Đề 1: Viết một bài văn ngắn ( khoảng 30 dòng) trình bày suy nghĩ của em về
vấn nạn bạo lực học đường hiện nay.
Học sinh sẽ xác định đề theo các bước sau:
- Về hình thức: một bài văn ngắn(khoảng 30 dòng)
- Về nội dung:
7
+ Đây là dạng đề nghị luận xã hội bởi đề bài đề cập đến một vấn nạn trong xã
hội hiện nay đó là: bạo lực học đường
+ Thuộc dạng nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống vì đề bài có cụm từ:
vấn nạn bạo lực học đường.
+ Học sinh phải xác định được các từ ngữ then chốt trong đề: suy nghĩ, bạo lực
học đường
Đề 2: Viết một bài văn ngắn (khoảng 30 dòng) trình bày suy nghĩ của em về đức
tính tự tin của con người trong cuộc sống.
Học sinh sẽ xác định đề theo các bước sau:
8
- Về hình thức: một bài văn (khoảng 30 dòng)
- Về nội dung:
+ Đây là bài nghị luận xã hội thuộc dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo
lí vì trong đề bài đề cập đến một lối sống của con người: thói bắt chước.
+ Học sinh phải xác định được các từ ngữ then chốt trong đề: bắt chước
Như vậy, từ một số ví dụ trên chúng ta có thể thấy kĩ năng xác định đề bài
có tầm quan trọng như thế nào. Nó giúp học sinh xác định đúng hướng, đúng
trọng tâm yêu cầu của đề bài. Những học sinh vội vàng, hấp tấp bỏ qua công
đoạn tìm hiểu đề thì sẽ rất dễ lạc đề, mất điểm.
2. Hướng dẫn học sinh xác định luận điểm chính ( tìm ý):
Trước hết học sinh phải nắm được khái niệm luận điểm. Luận điểm là tư
tưởng, quan điểm... mà người viết muốn đặt ra trong bài văn nghị luận. Và để
tìm luận điểm cho bài văn nghị luận xã hội, người viết cần căn cứ vào vấn đề
cần nghị luận của đề bài. Từ vấn đề cần nghị luận ấy, người viết có thể tìm luận
điểm bằng cách đặt ra và trả lời các câu hỏi để xác định như: là gì? tại sao? như
thế nào? có ý nghĩa gì? cần phải làm gì? Từ luận điểm chính, người viết triển
khai thành các luận cứ, lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
Ví dụ với đề bài: Viết một bài văn ngắn ( khoảng 30 dòng) trình bày suy
nghĩ của em về vấn nạn bạo lực học đường hiện nay. Ở bước phân tích đề chúng
ta đã xác định được vấn đề nghị luận là: bạo lực học đường. Ở bước tìm luận
điểm (tìm ý), chúng ta phải xác định được các luận điểm sau: Giải thích bạo lực
học đường là gì? Thực trạng (biểu biện) của vấn nạn này như thế nào? Nguyên
nhân nào dẫn đến? Gây ra những hậu quả gì? Cần phải làm gì để khắc phục vấn
nạn này?
Hoặc với đề bài: Trong bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy viết:
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Luận điểm 2: Thực trạng của hiện tượng – mô tả hiện tượng đời sống được nêu
ở đề bài . Lưu ý: Khi miêu tả thực trạng, cần đưa ra những thông tin cụ thể, tránh
lối nói chung chung, mơ hồ mới tạo được sức thuyết phục.
Luận điểm 3: Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ( thường có 2 nguyên nhân dẫn
đến: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan)
- Nguyên nhân khách quan : Do môi trường xung quanh, do trào lưu của xã hội,
do gia đình, nhà trường, do các nhân tố bên ngoài tác động,…
- Nguyên nhân chủ quan: Do ý thức , tâm lí, tính cách, ….của con người
Luận điểm 4: Tác hại/ tác dụng, các mặt đúng / sai, lợi / hại của vấn đề.
- Phân tích tác dụng của vấn đề nếu là hiện tượng tích cực.
- Phân tích tác hại của vấn đề nếu là hiện tượng tiêu cực.
- Phân tích cả hai mặt tích cực và hạn chế nếu đề có cả hai mặt.
Tác hại :
+ Đối với mỗi cá nhân ( anh hưởng sức khoẻ, kinh tế, danh dự, hạnh phúc
gia đình, ảnh hưởng tâm lí….)
+ Đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội
+ Đối với môi trường......
Luận điểm 5: Giải pháp khắc phục đối với hiện tượng tiêu cực; phát huy đối với
hiện tượng tích cực.
Giải pháp : Thông thường mỗi hiện tượng đều xuất phát từ những nguyên nhân
cụ thể, nguyên nhân nào thì đi kèm với giải pháp ấy.
C. Kết bài:
- Khẳng định lại quan điểm, ý kiến của bản thân về hiện tượng đời sống đã bàn
luận
10
- Rút ra bài học nhận thức và hành động.
Ví dụ minh họa: sau khi tìm hiểu đề và luận điểm là bước lập dàn ý:
Ví dụ 1: Đề 1, trang 7 của SKKN
- Với gia đình: Gây ra sự bất an, lo lắng, hoang mang cho gia đình, người thân....
- Với xã hội: Gây bức xúc trong dư luận, gây tâm lí hoang mang cho thầy cô,
bạn bè, gây nên sự bất ổn cho xã hội.
– Với những người gây ra bạo lực:
+ Bị mọi người lên án, xa lánh, ghét bỏ.
11
+ Mất dần nhân tính, con người phát triển không toàn diện.
+ Mầm mống của những tội ác sau này.
Luận điểm 5: Giải pháp khắc phục vấn nạn:
- Phối hợp 3 môi trường giáo dục: Gia đình – nhà trường – xã hội.
- Mỗi học sinh cần biết kiềm chế bản thân, giữ cho trái tim luôn ấm nóng tình
yêu thương, ý thức rõ ràng về hành động và hậu quả mình gây ra.
C. Kết bài:
- Khẳng định lại: Đây là một vấn nạn vô văn hóa, phi nhân đạo, thiếu tình người.
- Rút ra bài học cho bản thân.
3.2.2. Đối với dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí:
Như trên chúng ta đã biết đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí khá đa
dạng: có thể nghị luận một tính cách, phẩm chất, mối quan hệ, lối sống, quan
niệm sống cụ thể, trực tiếp; nhưng cũng có thể nghị luận gián tiếp tính cách,
phẩm chất hoặc mối quan hệ, lối sống ấy thông qua một câu danh ngôn, một câu
thành ngữ, tục ngữ, câu thơ, một câu chuyện…Vì vậy học sinh cần nắm chắc kĩ
năng làm bài để vận dụng cho phù hợp.
A. Mở bài:
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận
- Trích ra câu thơ, tục ngữ, thành ngữ.... nếu có.
B. Thân bài:
Luận điểm 1 : Giải thích tư tưởng, đạo lí.
- Đầu tiên, cần giải thích những từ trọng tâm, sau đó giải thích cả câu nói: giải
lời câu hỏi Làm thế nào?). Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục
đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc
áp dụng vào thực tiễn đời sống.
C. Kết bài:
- Khẳng định lại quan điểm, ý kiến về tư tưởng, đạo lí vừa bàn luận.
- Rút ra bài học cho bản thân
Ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Đề 2, trang 8 của SKKN
Học sinh có thể lập dàn ý như sau:
A. Mở bài:
- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: đức tính tự tin của con người trong cuộc
sống.
B. Thân bài:
Luận điểm 1: giải thích vấn đề nghị luận: đức tính tự tin
- "Tự tin là tin vào chính mình, vào năng lực của bản thân mình trước mọi hoàn
cảnh.
- Sự tự tin được biểu hiện cụ thể qua học tập, qua giao tiếp, qua sự quyết đoán
trong công việc, trong làm ăn....
Luận điểm 2: Bàn luận
- Những người có sự tự tin thường chủ động, bản lĩnh trước mọi tình huống,
luôn có ý thức khẳng định mình trước mọi người, tin ở khả năng của chính
mình...
- Sự tự tin giúp con người dễ đi đến thành công hơn vì người tự tin thường có
khả năng giao tiếp tốt, có những quyết định nhạy bén, sáng suốt, nắm bắt được
cơ hội cho mình
- Mở rộng:
+ Thiếu tự tin là nguyên nhân phần lớn của sự thất bại...
+ Cần phân biệt sự tự tin với tự cao tự đại. Để thành công, ngoài sự tự tin, cần
có thái độ cầu tiến, không ngừng lắng nghe, học hỏi.
13
nghĩa thiêng liêng và cảnh giới con người khi đứng trước bờ vực của lầm lỡ và
tội ác.
+ Là điểm tựa cho lòng tin, sức mạnh của con người trong cuộc sống. Là nơi
xuất phát cũng là chốn về sau cùng của con người trong cuộc sống đầy những
phức tạp, hiểm nguy.
- Biểu hiện của tình mẫu tử: vô cùng phong phú, song đều hướng tới cái đích
cuối cùng tất cả là vì con, là cho con.
( lựa chọn dẫn chứng)
- Mở rộng:
14
+ Những người con không chỉ biết đón nhận mà cần sống có trách nhiệm và tự
điều chỉnh bản thân để góp phần tỏa sáng giá trị thiêng của tình mẹ.
+Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn có những người mẹ thiếu trách nhiệm với con
dạy dỗ con không đúng cách, thậm chí bỏ rơi con cái....
+ Phê phán những thái độ vô ơn, vô cảm trước tình yêu và sự hi sinh của mẹ, bất
hiếu với mẹ.(dẫn chứng)
Luận điểm 3: Bài học nhận thức và hành động:
- Hiểu được tình mẫu tử qua lời ru là đạo lí truyền thống của con người Việt
Nam.
- Vun đắp tình mẫu tử bằng những việc làm nhỏ nhất, thiết thực nhất để cho
cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn từ những lời ru của mẹ." [9]
C. Kết bài:
- Khẳng định lại: tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, bất diệt. Đặc biệt tình
cảm ấy lại được thể hiện qua lời ru lại càng trở nên ngọt ngào và thấm đẫm trong
tâm hồn mỗi người con.
- Bài học rút ra cho bản thân.
Ví dụ 3: Đề 4, trang 8,9 của SKKN
Dàn ý cho đề bài trên như sau :
học sinh khác đánh hội đồng. Chưa hết, một trong số nam sinh kia còn tè bậy
trước mặt nạn nhân khến nhiều người phẫn nộ....
Hoặc khi tìm dẫn chứng cho đề: Viết một bài văn ngắn (khoảng 30 dòng)
trình bày suy nghĩ của em về đức tính tự tin của con người trong cuộc sống.
Người viết chú ý lấy dẫn chứng phần bàn luận vấn đề. Cụ thể có thể lấy cho ý :
thiếu tự tin là nguyên nhân phần lớn của sự thất bại. Điển hình là một số bạn
trẻ, dù đã bước sang tuổi trưởng thành rồi mà vẫn không tự tin dấn thân vào đời,
tự lập để mà kiếm sống, vẫn ăn bám vào cha mẹ cung cấp, sống vật vờ vô ích
như một người thừa của xã hội. Một số kẻ còn thiếu tự tin đến mức không dám
chấp nhận những thử thách trong công việc, những cơ hội thăng tiến bay qua mà
không muốn nắm bắt vì sợ thất bại, không tin vào những khả năng của bản thân
mình có thể làm được...
Tóm lại, trong bài nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng. Khi lấy
dẫn chứng, học sinh cần chú ý đến nguồn dẫn chứng, số lượng dẫn chứng, cách
phân bố dẫn chứng và cách trình bày những dẫn chứng ấy sao cho hợp lí.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua quá trình thực hiện đề tài, tôi nhận thấy những kĩ năng viết bài văn
nghị luận xã hội của học sinh nâng lên rõ rệt. Nhiều em từ chỗ ngại làm bài, ngại
bày tỏ ý kiến, quan điểm... thì nay đã có phương hướng làm bài. Nhiều em từ
hiểu bài đến tự tin làm bài dạng nghị luận xã hội... Tôi đã thường xuyên khảo
sát, kiểm chứng kết quả thực hiện đề tài qua việc giao đề cho các em thực hành
17
ở nhà và chấm chữa vào các buổi dạy thêm chiều. Các em được thực hành nhiều
vừa nắm vững phương pháp, kĩ năng làm bài vừa cải thiện được ngôn ngữ viết.
Đối với bản thân người giáo viên trực tiếp giảng dạy như tôi và các đồng
nghịêp trong nhà trường, dạy văn nghị luận xã hội không còn khiến chúng tôi lúng
túng trong cách dạy nữa mà chúng tôi đã tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp,
9A
36
4
11,1
13
36,1
15
41,7
4
11,1
9B
36
1
2,7
12
hiệu quả mà đòi hỏi giáo viên phải có sự kiên trì, bền bỉ chỉ dẫn cho học sinh,
đồng thời nghiên cứu, tìm tòi ra phương pháp ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp
hoc sinh không cảm thấy rối và nản. Sáng kiến kinh nghiệm trên đã được tôi rút
ra từ thực tế giảng dạy, qua quá trình hướng dẫn học sinh một số kĩ năng làm bài
nghị luận xã hội. Cụ thể bản thân đã thực hiện bốn nhóm giải pháp và đã đạt
được những kết quả nhất định. Trước hết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác
định đề bài, phân tích đề để học sinh làm bài đúng hướng, không bị lạc đề. Sau
đó hướng dẫn học sinh tìm luận điểm chính (tìm ý) và lập dàn ý giúp bài viết đủ
và đúng ý, kết cấu bài văn hợp lí. Bên cạnh đó, để bài nghị luận xã hội sinh
động, hấp dẫn, có sức thuyết phục cao, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm
dẫn chứng cho bài làm.
18
Những giải pháp tôi đã thực hiện trên đã giúp học sinh nhất là đối tượng
học sinh từ trung bình trở xuống biết cách làm và hứng thú hơn với dạng bài
này. Quan trọng hơn, trước một vấn đề cần bàn luận trong giờ học, các em tham
gia thảo luận rất sôi nổi để thể hiện chính kiến của mình, không còn rụt rè, nhút
nhát và lảng tránh như trước.
II. Kiến nghị:
Đối với giáo viên: Cần tích cực nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy,
không ngừng học tập, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đặc biệt là phương
pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Bên cạnh đó mỗi dạng bài làm
văn giáo viên cần khái quát cho học sinh những kĩ năng và phương pháp làm bài
cơ bản nhất. Và ngoài những kiến thức trong sách giáo khoa, kiến thức trong các
tác phẩm văn học, giáo viên cần chú trọng cung cấp cho học sinh kiến thức đời
sống xã hội, cập nhật những vấn đề nổi cộm, những tin tức nóng hổi trên các
phương tiện thông tin đại chúng...Trong các tiết học giáo viên cần tạo điều kiện
nhiều hơn cho học sinh được thảo luận, được đưa ra và bảo vệ ý kiến quan điểm
của mình....
Thạch Thành, ngày 05 tháng 04 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản
thân, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết
Lê Thị Thúy
20