1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Cũng như những môn học khác, Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan
trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người, góp phần vào
sự hoàn thiện con người trong xã hội hiện đại. Là môn học thuộc nhóm khoa học
xã hội, Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà
trường trung học cơ sở (THCS). Đây là môn học có vai trò rất quan trọng trong
đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Từ đó, đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục phổ thông trong tình hình mới. Trong đó, bài nghị luận xã hội
trong chương trình Ngữ văn là một trong những đơn vị kiến thức có ý nghĩa vô
cùng quan trọng vừa đáp ứng được mục tiêu bộ môn vừa đáp ứng được những
vấn đề thực tiễn cuộc sống đang đặt ra hôm nay. Bài nghị luận xã hội rèn luyện
cho học sinh cách nhìn nhận, kiến giải, trình bày những ý kiến riêng về một vấn
đề xã hội đáng quan tâm. Việc rèn luyện kiểu bài này không chỉ cần cho học
sinh khi làm các bài kiểm tra, bài thi mà còn cần cho người học khi vào đời.
Thực tế, trong cuộc sống, dù làm bất cứ công việc gì, ở bất kỳ lĩnh vực nào, mỗi
người cũng có lúc phải trình bày ý kiến riêng của mình về một vấn đề xã hội.
Tuy nhiên, kiểu bài nghị luận xã hội nhìn chung là khó đối với lứa tuổi các em
học sinh THCS. Bởi vì, nếu khi làm bài nghị luận văn học, các em học sinh có
thuận lợi là đã được trang bị kiến thức rất kĩ qua các giờ đọc - hiểu các văn bản
văn học, chỉ sử dụng kỹ năng làm văn nghị luận văn học để tái hiện lại kiến thức
ấy thông qua cảm quan của cá nhân. Còn khi làm bài nghị luận xã hội, các em
gặp không ít khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp làm bài, đặc biệt là kỹ
năng lựa chọn, xử lí kiến thức để đem lại hiệu quả cao cho bài văn.
Thực tế trong những năm gần đây, trong các đề thi (cả thi học kì và thi
vào THPT) môn Ngữ văn, bên cạnh yêu cầu tái hiện kiến thức về Tiếng Việt, về
các văn bản văn học (nghị luận văn học), đề bài còn đưa ra yêu cầu bắt buộc thí
sinh viết một văn bản nghị luận (giới hạn trong khoảng 30 dòng). Các đề bài
phần nghị luận xã hội thường bàn về một vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa
và sự ảnh hưởng to lớn với con người và toàn xã hội như: an toàn giao thông, ô
nhiễm môi trường, đức hi sinh, lòng dũng cảm ... Thang điểm dành cho phần
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài Biện pháp nâng cao hiệu quả viết bài văn nghị luận xã hội cho học
sinh lớp 9 qua kỹ năng tích hợp và so sánh, tôi sẽ tập trung nghiên cứu cách khai
thác, sử dụng kỹ năng tích hợp và so sánh có hiệu quả cho học sinh lớp 9 khi
làm kiểu bài nghị luận xã hội.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài Biện pháp nâng cao hiệu quả viết bài văn nghị luận xã hội cho học
sinh lớp 9 qua kỹ năng tích hợp và so sánh, tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết về tích hợp và so
sánh;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế giáo viên và học sinh về tình hình
tiếp cận, sử dụng kỹ năng tích hợp và so sánh để thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu…
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong chương trình ngữ văn ở cấp Trung học cơ sở, học sinh đã học về
thể văn nghị luận ở các lớp 7,8,9. Ở lớp 7, các em được học kiến thức khái quát
chung về văn nghị luận và chú trọng hai phép lập luận chứng minh và giải thích.
Lớp 8, học sinh được học tiếp về văn nghị luận ở nội dung cách viết bài văn
nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Lên lớp 9, học sinh tiếp
tục được học về văn nghị luận trên cơ sở có sự kế thừa và nâng cao kiến thức so
với các lớp dưới. Bên cạnh việc cung cấp cho các em phép lập luận phân tích và
tổng hợp trong văn nghị luận, học sinh lớp 9 được học cụ thể, riêng biệt các kiểu
bài nghị luận là nghị luận văn chương và nghị luận xã hội. Như vậy, lên lớp 9,
học sinh mới được học nghị luận xã hội một cách bài bản, cụ thể.
Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người
nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó [10]. Về kiến thức nghị luận xã hội, Sách
2
sống hay lấy trong sử sách để luận giải các vấn đề xã hội; đồng thời, người viết
phải chú ý cách sử dụng ngôn ngữ sắc bén, chính xác, gợi cảm, có khả năng
khơi gợi, tác động được tư tưởng và tình cảm xã hội của người đọc.
Từ những yêu cầu chung đó, ta thấy rằng để làm được điều này học sinh
không chỉ tuân thủ những cách làm theo hướng dẫn của bài học trong sách giáo
khoa mà cần phải biết cả cách tích hợp và so sánh vấn đề nghị luận xã hội.
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong
những năm gần đây, quan điểm dạy học tích hợp đã trở thành xu thế trong việc
xác định nội dung dạy học trong các nhà trường. Tích hợp là sự kết hợp những
hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức
năng, thành sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp. Trong hoạt động giáo dục
tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của
cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học
[2].
3
Như vậy, rõ ràng tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời
sống. Trong dạy học, nếu ta vận dụng linh hoạt việc tích hợp sẽ giúp học sinh
học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng đã được học tập,
rèn luyện để đem lại hiệu quả học tập ngày càng chất lượng hơn. Bởi vậy, có thể
nói đưa tư tưởng hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ năng tích hợp vào làm bài nghị
luận xã hội là vô cùng cần thiết.
Bên cánh đó, để vấn đề nghị luận được làm sáng rõ, giúp người đọc,
người nghe thông suốt, tin tưởng thì cần phải có sự đối chiếu, so sánh với các
vấn đề khác. Chính vì vậy, kỹ năng so sánh cũng góp phần không nhỏ đem lại
hiệu quả cho bài văn nghị luận tăng thêm sức thuyết phục, hấp dẫn người đọc
(người nghe).
So sánh là một thao tác tư duy. Trong quá trình nhận thức thế giới khách
quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng giúp phát hiện cái mới, cái khác biệt. Đối
4
cách ăn nói, giao tiếp ... Chính vì vậy, trong chương trình Ngữ văn THCS, văn
nghị luận xã hội đã được lựa chọn để xây dựng xuyên suốt từ cuối vòng 1 (lớp
7) và toàn bộ vòng 2 (lớp 8,9). Tuy nhiên, kiểu bài nghị luận xã hội mà học sinh
được học bài bản, có tính phân loại thì đến chương trình học kỳ hai lớp 9 mới
được đề cập là nghị luận xã hội về một sự việc, hiện tượng trong đời sống và
nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. Cụ thể:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
- Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí [12].
Ngoài ra, chương trình còn được bổ trợ thêm qua phần đọc - hiểu một số
văn bản dạng nghị luận xã hội. Không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà đây còn là
dạng bài gần như bắt buộc trong đề thi cuối học kỳ, đề thi vào THPT hiện nay.
Thực tế, trong đề thi khảo sát chất lượng học kì và vào THPT thường đưa ra yêu
cầu về bài văn nghị luận xã hội dưới dạng một bài viết (khoảng từ 20 đến 30
dòng) bàn về một vấn đề mang tính thời sự cấp thiết của đời sống xã hội.
Như vậy, vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nghị luận xã hội là rất lớn
nhưng thời lượng cho kiểu bài này chưa tương xứng. Nhìn chung, chương trình
Ngữ văn THCS chỉ mang tính giới thiệu và thực hành nghị luận xã hội ở mức độ
đơn giản, chưa tập trung vào việc khắc sâu tri thức và rèn luyện kỹ năng làm bài
cho học sinh. Ví dụ như trong chương trình lớp 9, thời lượng dành cho nghị luận
xã hội là 6 tiết/175 tiết toàn chương trình (trong đó 2 tiết là cung cấp lý thuyết, 2
tiết hướng dẫn cách làm của hai kiểu bài, 2 tiết là làm bài kiểm tra). Bởi vậy,
cách rèn kỹ năng làm bài cho HS theo một cách thức linh hoạt, dễ hiểu, gần gũi
là điều vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, kết quả làm bài kiểm tra của học sinh
lại cho thấy cần có sự bổ sung, định hướng để giúp các em vừa nhận thức được
vai trò quan trọng của nghị luận xã hội vừa biết vận dụng thành thạo mọi tri thức
hội là 119 /119 (tỉ lệ 100%). Chưa sử dụng kỹ năng so sánh trong cảm thụ tác
phẩm văn học là 0/119 (tỉ lệ 0%).
- Hiểu được vai trò của kỹ năng tích hợp và so sánh trong bài viết văn
nghị luận xã hội là 29/119 (tỉ lệ 24.4%). Chưa hiểu được vai trò của kỹ năng tích
hợp và so sánh trong bài viết văn nghị luận xã hội là 90/119 (tỉ lệ 75.6%).
- Kết quả bài tập về bài văn nghị luận xã hội đạt trên trung bình là 45/119
(tỉ lệ 37.8%); dưới trung bình là 74/119 (tỉ lệ 68.7%).
Như vậy, kết quả bài kiểm tra của các em khi làm bài nghị luận xã hội còn
chưa đạt yêu cầu. Kết hợp điều tra và thực tế trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy
rèn kỹ năng tích hợp và so sánh cho học sinh khi làm bài nghị luận nói chung và
nghị luận xã hội thật sự rất cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, thực tế việc
hướng dẫn học sinh hai kỹ năng này còn mang tính chủ quan tìm kiếm, mày mò
từ kinh nghiệm cá nhân nên một số giáo viên còn e ngại và chưa rèn học sinh
vận dụng kỹ năng này nhiều.
Về phía học sinh ở bậc THCS nói chung và học sinh khối 9 nói riêng khả
năng sử dụng kỹ năng tích hợp và so sánh chưa tốt. Phần lớn các em chỉ cảm
nhận bằng cảm tính vai trò của những kỹ năng này và vận dụng nó còn tùy tiện
mà chưa có bài bản, khoa học. Hơn nữa kiểu bài nghị luận xã hội đòi hỏi học
sinh phải có cái nhìn bao quát, vừa tư duy những kiến thức từ sách vở, lời dạy
của thầy - cô, vừa phải có vốn kiến thức đời sống xã hội chưa kể đến việc xử lí
các vấn đề nghị luận xã hội đôi lúc có phần vượt tầm nhận thức của các em.
Trên thực tế, trong xu thế xã hội và tình hình học Ngữ văn hiện nay, học sinh
chưa thực sự ham học chịu khó tìm tòi, góp nhặt, tích lũy để xâu chuỗi thành hệ
thống kiến thức mà còn bị các thú tiêu khiển hấp dẫn từ đời sống mạng ảo lôi
kéo ... Vì vậy, tôi chọn đề tài Biện pháp nâng cao hiệu quả viết bài văn nghị
luận xã hội cho học sinh lớp 9 qua kỹ năng tích hợp và so sánh để nghiên cứu,
tìm tòi cách dạy hữu hiệu và có tính khả thi với mong muốn cải tiến phương
pháp dạy học theo hướng tích cực, đưa lại hiệu quả cao trong dạy và học Ngữ
văn. Từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm mà toàn ngành đã
đề ra trong suốt thời gian qua: nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hướng
bài học, những hoạt động tập thể… Đặc biệt, những nội dung về tư tưởng, đạo lí
còn được bộ môn Giáo dục công dân cung cấp khá đầy đủ những tư tưởng sống
đẹp, những phẩm chất đạo đức đáng quý, cần thiết của con người. Song với học
sinh THCS, vốn sống của các em chưa nhiều nên để khái quát các vấn đề tư
tưởng, đạo lí thành bài nghị luận xã hội thì không tránh khỏi khó khăn, lúng
túng. Vì vậy, để tiếp cận và giải quyết vấn đề nghị luận xã hội về một vấn đề tư
tưởng, đạo lí giáo viên nên hướng dẫn các em tích hợp kiến thức liên môn để
trình bày, giải thích khái niệm thuộc phạm trù tư tưởng, đạo lí.
Ví dụ như đề bài sau:
''Có một người cha trước khi chết gọi ba người con trai đến bên giường,
đưa cho họ một bó tên và bảo: Các con thử bẻ bó tên này xem ai có thể bẻ gãy
được.
Cả ba người con đều lấy hết sức bình sinh để bẻ những bó tên vẫn không
gãy một chiếc nào. Người cha cầm lấy bó tên tháo ra và lần lượt bẻ từng chiếc
một. Trong phút chốc cả bó tên đã bị bẻ gãy ...
(Truyện ngụ ngôn Người cha và bó tên)
Từ câu chuyện trên em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 30 dòng) bàn
về tình đoàn kết trong gia đình và cộng đồng." [19]
7
Để giúp học sinh trình bày được tình đoàn kết trong gia đình và cộng
đồng, giáo viên cần giúp học sinh xác định được các kiến thức cần cung cấp cho
bài viết qua hệ thống các câu hỏi như:
? Tình đoàn kết là gì?
? Tình đoàn kết có ý nghĩa như thế nào trong gia đình và cộng đồng?
? Chúng ta cần phải phát huy tình đoàn kết như thế nào?
Từ việc định hướng các câu hỏi để tìm ra các ý chính, giáo viên sẽ giúp
các em lựa chọn để xây dựng nguồn kiến thức cho bài viết. Trước tiên, để trả lời
các câu hỏi này, các em phải hiểu được đoàn kết là gì? Ở thao tác này, để các em
những sự việc, hiện tượng hay tư tưởng đạo lí đối với mỗi cá nhân và cả xã hội
nói chung để từ đó có hướng điều chỉnh tư tưởng, hành động sao cho phù hợp
với chuẩn mực đạo đức và xu thế phát triển của xã hội. Chính vì vậy, trong bài
viết học sinh phải cung cấp gần gũi, chân thực mà tiêu biểu về tác động của vấn
8
đề xã hội. Vì vậy, trước tiên theo tôi một nguồn cứ liệu mà giáo viên có thể giúp
học sinh vận dụng để làm rõ ảnh hưởng của các vấn đề nghị luận đến con người
chính là kiến thức từ các bộ môn trong nhà trường, từ các bộ môn thuộc lĩnh vực
khoa học tự nhiên như Toán, Vật lí, Hóa học đến các bộ môn thuộc lĩnh vực
khoa học xã hội có nhiều điểm tương đồng là Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa
lí,... Và các em có thể làm rõ vấn đề xã hội từ việc tích hợp với các tác phẩm văn
học trong chương trình PTTH và đọc thêm. Đồng thời để giúp học sinh làm rõ
hơn những tác động của vấn đề nghị luận đến cá nhân và đời sống con người, ta
còn có thể hướng dẫn các em tích hợp với thực tiễn đời sống xã hội. Và đó cũng
là phương diện mà tôi đã hướng dẫn HS tích hợp trong khi làm bài nghị luận xã
hội.
2.3.1.2. Tích hợp liên môn và thực tiễn xã hội để làm rõ những biểu
hiện và ảnh hưởng của vấn đề xã hội được bàn luận.
Cùng với hệ thống dẫn chứng, liên hệ phong phú có trong các bộ môn
trong nhà trường phổ thông, khi làm bài các em còn có thể tích hợp với thực tế
đời sống để vấn đề nghị luận được làm rõ, thuyết phục hơn. Đó là một nguồn tri
thức phong phú về xã hội trên Internet, các phương tiện truyền thông như báo,
đài, ti vi, ... với rất nhiều sự kiện, câu chuyện, danh ngôn, bài viết tham khảo, bài
học giáo dục đạo đức, các slides, clip có hình ảnh màu sắc đẹp mắt và nhiều câu
danh ngôn thú vị.
Ví dụ: Với đề bài:
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
rất nhiểu nguồn hải sản quý (tôm, cua, mực,... “Biển cho ta cá như lòng mẹ”),
nhiều khoáng sản (dầu khí, than, ti tan,...), ... Biển còn là bức trường thành vững
chắc bảo vệ lãnh thổ dân tộc. Biển làm nên những điều kì diệu, thiêng liêng…
Là truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, là những chiến công lịch sử Bạch
Đằng, Vân Đồn xưa, hay con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển với
những “con tàu không số” trong kháng chiến chống Mỹ… là sức mạnh tinh thần
cho muôn thế hệ mai sau. Vậy nên, biển đảo trong tâm thức người Việt là đất
nước, là cuộc sống. Và thực tế hàng ngàn năm lịch sử người Việt đã ra sức khai
phá, dựng xây và sẵn sàng đổ cả máu xương cho chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên,
những năm gần đây, biển đảo đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn.
Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường, các nguồn hải sản đang bị xâm hại, đứng
trước nguy cơ diệt chủng, .... đặc biệt khi Trung Quốc đã có nhiều hành động
xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam: ngang ngược xây dựng thành
phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa, cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển
thuộc chủ quyền biển Việt Nam… Để biển phát huy tiềm năng, chúng ta cần
nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, hải đảo; cũng như tôn
vinh những giá trị của biển với sự sống cộng đồng. Nâng cao trách nhiệm trong
công tác quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên, môi trường biển, hải
đảo. Đặc biệt, trong thời điểm hiện tại cần xây dựng ý thức vươn ra biển, làm
giàu từ biển trong cộng đồng người Việt Nam, từng bước khẳng định vị thế Việt
Nam là một quốc gia mạnh về biển trong khu vực. Luôn tích cực tham gia các
hoạt động hướng về Trường Sa, Hoàng Sa. Thể hiện quan điểm lên án, phản đối
những hành động của Trung Quốc đi ngược với Công ước liên hiệp quốc về luật
biển (DOC)... Điều quan trọng nữa là không ngừng tu dưỡng phẩm chất người
Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có lý tưởng yêu
nước và đoàn kết thì chúng ta sẽ kết nối khối sức mạnh lớn đủ sức bảo vệ chủ
quyền biển đảo. Để làm được điều đó, trước tiên phải cố gắng học tập tu dưỡng
tốt ngay từ khi mỗi chúng ta đang ngồi trên ghế nhà trường để trở thành một
công dân có ích. Đó cũng chính là tinh thần sẵn sàng vào công cuộc giữ gìn biển
đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
thể chia nhóm học sinh tìm tư liệu, cử nhóm trưởng là những em có năng lực
tích hợp kiến thức và phân công thành viên nhóm phù hợp hoặc có thể giáo viên
lấy tư liệu từ mạng về trình chiếu cho học sinh … Tư liệu dẫn chứng do giáo
viên sưu tầm có thể cung cấp cho HS qua các tiết dạy Ngữ văn, hoặc tiết sinh
hoạt chủ nhiệm (nếu giáo viên chủ nhiệm là giáo viên dạy Ngữ văn của lớp),
hoặc tiết Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp , tiết Tự chọn Ngữ văn …
Như vậy, rõ ràng ta thấy kỹ năng tích hợp rất cần thiết để HS vận dụng
khi viết văn nghị luận xã hội. Để tích hợp có hiệu quả, người dạy cần hướng dẫn
HS xây dựng các bước tích hợp như sau:
- Xác định chính xác vấn đề nghị luận mà đề yêu cầu.
- Xác định vấn đề nghị luận thuộc kiểu bài nghị luận xã hội nào (nghị luận
về một sự việc, hiện tượng đời sống hay nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo
lý). Để từ đó xác định đúng các bước xây dựng ý cho bài văn.
- Xác định các phần cần vận dụng kỹ năng tích hợp và mục đích tích hợp
(Tích hợp liên môn để trình bày, giải thích khái niệm hay để làm rõ những biểu
hiện và ảnh hưởng của vấn đề xã hội được bàn luận …).
- Lựa chọn những kiến thức tích hợp một cách tiêu biểu, tin cậy có sức
thuyết phục, tránh lan man, dàn trải.
Quả thật, để bài văn nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao, mỗi GV chúng ta
cần hướng dẫn học sinh kỹ năng tích hợp. Có như vậy các em không chỉ biết
cách làm bài văn nghị luận sâu sắc, chân thực, giàu sức thuyết phục mà các em
có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về các vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Từ đó
biết điều chỉnh thái độ, hành vi của bản thân để sống, học tập, làm việc theo
chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng mình kỹ năng tích
hợp trong bài văn nghị luận thì các em sẽ chưa thể có một bài văn nghị luận
hoàn chỉnh. Vì vậy để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận, các em còn phải biết cách
giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,... Trong khuôn khổ bài viết
này, tôi xin mạnh dạn đưa ra thêm một kinh nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng
so sánh, đối chiếu để góp phần nâng cao sự hứng thú học tập văn nghị luận ở các
em nhằm đem lại kết quả cao khi viết bài văn nghị luận xã hội.
các kĩ năng làm bài để vấn đề nghị luận được sáng tỏ. Sau khi học sinh nắm
được dựa dẫm là một thói xấu của con người, đặc biệt thường xuất hiện ở lứa
tuổi thanh thiếu niên. Đó là những kẻ luôn trông chờ, phó thác mọi việc của bản
thân vào người khác, ỷ lại, dựa dẫm vào sự bao bọc, chở che của mọi người, đặc
biệt là bố mẹ, người thân, .... Từ biểu hiện của sự dựa dẫm, giáo viên giúp học
sinh so sánh để rút ra điểm chung của những người dựa dẫm là không chịu học
tập, lao động, không chịu phấn đấu, vươn lên. Đây là sơ sở để các em luận bàn
về tác hại của thói dựa dẫm. Các em nhận thức rằng dựa dẫm khiến con người
không làm chủ được bản thân, làm chủ cuộc sống nên sẽ trở thành những kẻ lười
biếng trong cả suy nghĩ và vận động, thiếu năng lực đưa ra quyết định, không
biết quý trọng giá trị của đồng tiền và sức lao động, .... Người luôn dựa dẫm sẽ
khó trưởng thành, không rèn luyện được những kỹ năng cần thiết để sống tốt và
sống có ích... Cho nên, khi chỗ dựa không còn thì sẽ khó có khả năng vượt lên
những trở ngại của cuộc sống, dễ dàng rơi vào sự bi quan, chán nản, tuyệt vọng
và dễ sa ngã trước những cám dỗ của cuộc sống hiện đại. Thói dựa dẫm còn là
tiền đề cho những thói xấu khác như thụ động, ích kỉ, hèn nhát, sống vô trách
nhiệm, ... Những người có thói dựa dẫm luôn tạo gánh nặng cho người khác, cho
gia đình và xã hội... Vì vậy, chúng ta cần phải đấu tranh với những biểu hiện của
thói dựa dẫm ở bản thân và người khác. Đặc biệt là các bạn trẻ cần học cách tự
đứng trên đôi chân của mình, không biến mình thành cây tầm gửi trong cuộc
sống. Còn gia đình và xã hội cần quyết liệt loại bỏ căn bệnh ỷ lại, tạo điều kiện
để các bạn trẻ sống tích cực, chủ động.
Hay với đề thi sau:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
13
“Đã lâu lắm rồi tôi và cả nhà mới lại cùng nhau xem U23 Việt Nam thi
đấu bóng đá SEA Games. Lúc đội tuyển ra sân, tôi rất xúc động khi quốc ca Việt
Nam vang lên. Cả nhà tôi đã cùng hát theo, dù các con tôi chưa thật thuộc
nhiều điểm giống nhau thì so sánh tương phản lại là cách so sánh hai hay nhiều
sự vật cùng loại có nhiều điểm đối chọi nhau. Và trong khi viết văn nghị luận để
làm vấn đề nghị luận nổi bật, toàn diện, tăng sức thuyết phục ta nên hướng dẫn
học sinh dùng cách so sánh tương phản.[20].
Chẳng hạn như với vấn đề nghị luận được đặt ra trong đề bài:
"Nhân dịp tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa
Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ
cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không
quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật
14
là đột ngột, không ngờ lại là như thế... Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh
phúc.”
(Nguyễn Thành Long, "Lặng lẽ Sa Pa", Ngữ văn 9, tập một)
Trong đoạn văn trên, anh thanh niên có nói: "Nhưng từ hôm ấy cháu sống
thật hạnh phúc". Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về quan
điểm hạnh phúc của thanh niên thời nay." [18].
Với đề bài này, học sinh xác định được đoạn trích kể lại lời nói của anh
thanh niên trong cuộc trò chuyện với ông họa sĩ. Anh cảm thấy hạnh phúc vì đã
góp phần phát hiện đám mây khô giúp không quân ta hạ được phản lực Mỹ trên
cầu Hàm Rồng. Đó là niềm vui được cống hiến, được làm việc có ích cho đất
nước. Niềm hạnh phúc của chàng trai trẻ là được sống vì mục đích cao cả: góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là quan điểm sống đẹp của cả thế
hệ người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ đó,
học sinh bàn luận về quan điểm hạnh phúc của giới trẻ trong hiện tại. Ngày nay,
tuổi trẻ được sống trong hòa bình, đất nước đang trên đà phát triển trong xu thế
hội nhập với bạn bè năm châu. Quan niệm về hạnh phúc được các bạn thanh
niên thể hiện phù hợp với lứa tuổi và hoàn cảnh sống hiện tại. Nguồn hạnh phúc
con tự đi, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) bàn về tính tự
lập. [18] học sinh vừa vận dụng kỹ năng tích hợp để giải thích về tự lập, trình
bày ý nghĩa của tính tự lập đem lại cho con người thì để bài văn có cái nhìn toàn
diện hơn chúng ta vẫn phải hướng dẫn học sinh dùng cách so sánh tương phản.
Đó là học sinh sử dụng những dẫn chứng đối lập với tự lập để đưa vào bài như
là sống ỷ lại, luôn trông chờ dựa dẫm vào sự bao bọc, chở che của người khác,
… Qua các biểu hiện tương phản này, học sinh chỉ rõ được đó là những hiện
tượng, những tư tưởng sống đáng lên án, phê phán. Từ đó, giúp học sinh khái
quát, đánh giá nâng cao vấn đề, khẳng định được tự lập là thước đo phẩm giá
của con người, là kim chỉ nam giúp chúng ta đi đến thành công.
Thật vậy, khi sử dụng kỹ năng so sánh có hiệu quả ta cần:
- Trước hết là cần xác định đối tượng nghị luận từ đó tìm đối tượng tương
đồng hay tương phản, hoặc cần so sánh hai hay nhiều đối tượng cùng lúc.
- Dựa vào nội dung nghị luận cần trình bày, chỉ ra những điểm giống nhau
(hoặc điểm khác biệt) giữa các đối tượng.
- Xác định giá trị cụ thể của các đối tượng.
Như vậy, từ thực tế hướng dẫn học sinh viết văn nghị luận xã hội, ta thấy
được kỹ năng dùng lập luận so sánh, kỹ năng tích hợp là chìa khóa giúp học sinh
viết bài văn dễ dàng, hứng thú hơn và đem lại hiệu quả, chất lượng bài văn cao
hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trong quá trình hướng dẫn cho học sinh vận dụng kỹ năng tích hợp và kỹ
năng so sánh trong làm văn nghị luận xã hội, tôi nhận thấy các em học sinh hứng
thú hơn với giờ học Ngữ văn. Dường như không còn thái độ ngại ngùng khi các
em làm các đề bài nghị luận xã hội. Khi được yêu cầu trình bày những hiểu biết
của mình về một vấn đề nghị luận cụ thể trong những giờ thực hành, hầu hết học
sinh đều có ý thức chuẩn bị, nghiên cứu khá kỹ nội dung của đề bài đã tạo một
không khí học tập tích cực hơn. Từ đó các em trở nên tự tin và mở rộng tầm hiểu
biết của mình khi tiếp cận với những vấn đề được đặt ra trong đề bài nghị luận
Ngữ văn 8 cấp huyện. Quả thực với chúng tôi, đó là nguồn khích lệ động viên
vô cùng đáng quý sau bao thời gian thầy trò cùng nhau đồng hành trong những
giờ học, mùa thi...
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận.
Hướng dẫn học sinh lớp 9 viết bài văn nghị luận xã hội có chất lượng là
trọng trách nặng nề của người giáo viên dạy Ngữ văn. Bởi vậy, để rèn cho học
sinh làm kiểu bài này đạt hiệu quả cao thì trong quá trình dạy - học, người giáo
viên Ngữ văn cần biết kết hợp các phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt
nhất để giúp các em hiểu và biết cách xác định được yêu cầu đặt ra từ các đề bài
nghị luận xã hội. Từ đó xây dựng được dàn ý và chọn các kỹ năng trình bày phù
hợp để thể hiện hiểu biết của bản thân về vấn đề nghị luận một cách phù hợp
nhất. Với kỹ năng tích hợp và so sánh trong viết văn nghị luận xã hội, theo
chúng tôi muốn phát huy được hiệu quả của việc sử dung các kỹ năng này người
dạy phải hướng dẫn người học kinh nghiệm để thực hành có hiệu quả như:
- Phải luôn trau dồi kiến thức Ngữ văn nói chung và các môn học khác
trong nhà trường. Muốn có được điều này GV phải hướng dẫn các em tích luỹ
qua từng bài học, từng khối học để xâu chuỗi có hệ thống về kiến thức liên môn.
Chính bề dày hiểu biết sẽ đem lại hai khả năng: vừa có nguyên liệu để tích hợp,
so sánh, vừa tạo được tiền đề để mở rộng kỹ năng tích hợp, so sánh.
- Bên cạnh vốn kiến thức là nền tảng, các em cần có một tư duy sắc sảo và
trường liên tưởng nhạy bén.
- Trong khi nghị luận xã hội cần luôn có ý thức tích hợp, so sánh, có nghĩa
là tích hợp, so sánh phải trở thành một phản xạ thường trực trong tư duy.
Tuy vậy, để kỹ năng tích hợp, so sánh thực sự đạt hiệu quả trong quá trình
làm bài nghị luận xã hội, tôi nghĩ rằng cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- Tích hợp, so sánh phải hợp lí. Tính hợp lí được thể hiện qua việc không
thừa nhận sự tuỳ tiện, thiếu khách quan, thiếu cơ sở khoa học.
17
vừa bổ sung tư liệu làm văn nghị luận xã hội có chất lượng ngày càng tốt hơn.
- Trong chương trình Ngữ văn 9 được xem là điểm kết thúc cho vòng 2
của chương trình THCS. Chương trình vừa tổng kết kiến thức, kĩ năng được học
tập và rèn luyện trong bốn năm học cho HS vừa chuẩn bị cho kì thi cuối khoá;
đồng thời tạo tâm thế, tiềm lực cho người học lên PTTH hoặc đi vào cuộc sống.
Cho nên có vị trí, tầm quan trọng rất lớn. Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy
kiểu bài nghị luận xã hội có một tầm quan trọng, ảnh hưởng lớn tới tư duy, nhận
thức và nhân cách của người học. Vì vậy, trong thời gian tới, ở chương trình
SGK chỉnh lí nên có sự điều chỉnh về thời gian và kiến thức tăng cho kiểu bài
này để phù hợp với năng lực, tầm hiểu biết của học sinh.
- Các SKKN có chất lượng cao, mang tính thực tiễn ở huyện, tỉnh ... cần
được đưa về các cơ sở để thảo luận và triển khai thực hiện nhằm nâng cao hơn
nữa tầm hiểu biết kinh nghiệm dạy học của giáo viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
18
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2017
ĐƠN VỊ TRƯỜNG THCS TÂY HỒ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Bùi Thị Nga
19