MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong chương trình Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông, làm văn là phân
môn khó bởi mang đặc trưng riêng: yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức ở phần Đọc
văn và kiến thức tiếng Việt cùng kĩ năng viết để tạo lập văn bản. Đối với dạng bài
nghị luận xã hội ngoài việc vận dụng kiến thức ở hai phân môn trên đòi hỏi phải có
kiến thức xã hội rộng, hiểu biết cuộc sống và biết trình bày suy nghĩ quan điểm bàn
luận bằng lí lẽ, lập luận,... nên đa số học sinh rất ngại, “sợ” khi làm kiểu bài này. Do
vậy tôi chọn đề tài này để giúp các em đủ kiến thức kĩ năng để làm bài tốt hơn.
Rèn kĩ năng làm bài văn, viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh Trung
học Phổ thông là một bước hiện thực hóa quan điểm đổi mới chương trình giáo dục
phổ thông, đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh
giá,.... Đồng thời đảm bảo mục tiêu chung của giáo dục: “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện”. Biết nhận thức, biết trình bày quan điểm đánh giá về vấn
đề đời sống, tư tưởng, đạo lý xã hội bằng văn bản đúng quy trình, đúng phương
pháp.
Với đối tượng học sinh Trung học phổ thông hiện nay, kiến thức trong các em
phần lớn từ sách vở, từ các tác phẩm văn học, những kiến thức về cuộc sống rút ra từ
thực tiễn, cùng kỹ năng làm bài bày tỏ quan điểm của mình còn yếu. Nên việc “Rèn
kỹ năng viết đoạn văn, làm bài văn nghị luận xã hội” cho các em là rất cần thiết, từ
đó giúp các em nâng cao khả năng hiểu biết, trình bày vấn đề về đời sống xã hội,
hiểu người, hiểu mình, tự tin bước vào cuộc sống.
Mặt khác, “Rèn kỹ năng viết đoạn văn, làm bài văn nghị luận xã hội”
mang tính thiết thực giúp học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi Trung học phổ
thông Quốc gia và xét tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng thuộc khối
có môn Ngữ Văn. Rèn kỹ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh Trung học
Phổ thông có ý nghĩa thiết thực nâng cao chất lượng dạy - học phân môn làm
văn, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện cho quê hương và đất
nước sau này.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 12, tôi đã thực nghiệm
đề tài:“Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinhTrung học phổ thông viết
*Phương pháp bổ trợ kiến thức.
*Phương pháp thực nghiệm qua tiết dạy - học chính khóa.
*Phương pháp so sánh.
5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Kinh nghiệm này rút ra từ thực tế giảng dạy, từ vận dụng các kỹ thuật dạy
học, những lần ra đề thi kiểm tra để đánh giá chất lượng giáo dục môn học của
học sinh lớp 12 cấp THPT nên những điểm mới đó là:
Kinh nghiệm vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào các giờ học
chính khóa để học sinh nắm kiến thức phần lý thuyết.
Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tự học tích lũy bổ trợ những kiến thức
về vấn đề xã hội (những quan niệm đạo đức xưa và nay, quan niệm Nho giáo,
Phật giáo, những khái niệm,...).
Kinh nghiệm rèn kĩ năng trình bày nội dung đoạn văn, kỹ năng xác định
đề, tìm ý, lập dàn ý, bố cục văn bản khoa học.
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được thể hiện
trong Văn kiện đại hội XII, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng
ta đưa ra đường lối “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của
sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực
Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục
nước nhà “dạyngười, dạy chữ, dạy nghề”. Giáo dục toàn diện theo tinh thần đổi
mới hiện nay là: “Phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học;
chú trọng cả dạy chữ, dạy người và dạy nghề. Giáo dục và Đào tạo phải làm
sao để tạo ra được những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết để phục
vụ đất nước, xây dựng xã hội; có đủ hiểu biết và kỹ năng cơ bản để sống tốt và
làm việc hiệu quả…” [1]
Trong những điểm mới của chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh việc học tập và
3
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾM
KINH NGHIỆM:
Xuất phát từ thực trạng làm văn nghị luận xã hội của học sinh lớp 12
Trung học phổ thông là khi viết đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội thường mắc
các lỗi cơ bản sau:
2.1. Học sinh không nhớ lí thuyết của dạng bài, kiểu bài làm văn nghị luận.
Học sinh viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng yêu
cầu hay không. Có những bài văn, khi chấm giáo viên đọc mà không hiểu được
học sinh của mình viết gì, muốn nói điều gì.
Minh chứng: ở bài viết số 1, lớp 12A2,12A9: 10% học sinh làm bài lạc đề,
50% làm bài đúng chủ đề, 20% xa đề, 20% viết bài tùy hứng.
2.2. Học sinh chưa biết phân tích đề, tìm trọng tâm vấn đề cần nghị luận.
* Nghị luận về đạo lí: học sinh chủ yếu diễn xuôi vấn đề mình hiểu.
* Nghị luận về một hiện tượng đời sống: học sinh thường sa vào kể lể hiện
tượng mình chứng kiến, nghe thấy...
2.3. Học sinh chưa biết lấy dẫn chứng và chưa phân tích dẫn chứng, không
tạo được sức thuyết phục cho người đọc.
2.4. Học sinh đọc văn mẫu tràn lan, dẫn tới làm bài viết nhại lại như một con
vẹt, viết không theo mẫu, theo “khung” mà viết lan man, tùy tiện diễn đạt.
2.5. Trong các bài viết học sinh thường liệt kê dẫn chứng mà không có ý thức
phân tích dẫn chứng.
Tổng hợp kết quả bài viết số 1 (Nghị luận xã hội) ở các lớp 12 tôi dạy
qua 2 năm học: 2014 - 2015, 2015 - 2016 như sau:
Năm học 2014 - 2015:
Lớp
12 A3
Giỏi
0
0
Khá
6= 12,2%
5= 6,7%
Điểm
TB
Yếu
24= 49%
15= 30,6%
18= 40%
22= 48,9%
Kém
2=8,2%
2=4,4%
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết
đoạn văn của học sinh rất yếu, các em không định hướng, xác định dung lượng
kiến thức trước khi viết bài, nên khi viết rất lúng túng, viết không đúng yêu cầu
của đề bài và lạc đề. Thực tế cho thấy bài viết số một chất lượng học sing giỏi
không có (năm học 2015- 2016 chỉ đạt ba giải khuyến khích học sinh giỏi cấp
Tỉnh, Kỳ thi THPT Quốc gia chỉ có 17,5 % đạt điểm khá).
Từ cơ sở lí luận và thực trạng viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh tôi đã vạch
kế hoạch: “Rèn kĩ năng viết đoạn văn, làm bài văn nghị luận xã hội” có hiệu quả và
rút ra bài học kinh nghiệm.
Gợi: tức là “gợi ý” ra vấn đề cần bàn bạc.
Đưa: tức là dẫn dắt vào vấn đề cần bàn bạc, đưa ra vấn đề.
Báo: tức là phải thể hiện cho biết mình sẽ làm gì, hướng bàn luận.
Khó nhất là phần gợi ý dẫn dắt vấn đề, có 3 cặp 6 lối để giải quyết như sau:
• Tương đồng/tương phản: đưa ra một vấn đề tương tự hoặc trái ngược để
liên tưởng đến vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để “Đưa vấn đề
ra”, cách này thường dùng khi cần nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, câu tục
ngữ, câu châm ngôn.
• Xuất xứ/đại ý: dựa vào thông tin xuất xứ / đại ý để đưa vấn đề ra, cách
này thường dùng nghị luận một vấn đề triết lí cuộc sống được nhà văn chọn lọc
từ cuộc sống rồi đưa vào tác phẩm,hoặc một nhận định của một tác giả nổi
tiếng.
• Diễn dịch/quy nạp: cách này thường đưa ra câu chốt (khái quát vấn đề),
sau đó dẫn dắt vào vấn đề nghị luận, bày tỏ quan điểm nghị luận.
Thân bài:
Thân bài thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn
đề đưa ra ở phần khái quát. Để tìm ý cho phần thân bài thì có thể dùng các công
thức sau đây để đặt câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều và dồi dào càng tốt, sau đó
có thể sử dụng toàn bộ hoặc một phần ý tưởng để hình thành khung ý cho bài
văn:
5
* Thao tác giải thích: trả lời cho câu hỏi Gì - Nào - Sao - Do đâu - Nguyên
nhân - Hậu quả. (Gì: cái gì, là gì - Nào: thế nào - Sao: tại sao - Do: do đâu Nguyên: nguyên nhân, Hậu: hậu quả)
Đặt vấn đề của đề bài vào khung câu hỏi trên, tìm cách giải đáp câu hỏi, lập
luận với vấn đề cần giải quyết thì sẽ có rất nhiều hướng trả lời, hoặc các ý tưởng
giảng giải, giải thích vấn đề một cách thoả đáng.
* Thao tác phân tích, chứng minh: cần làm rõ các phương diện:
Mặt - Không - Giai - Thời - Lứa.
thông tin: sách, báo, mạng internet...)
Đây là những kiến thức giúp các em làm tốt văn nghị luận xã hội. Tùy theo
yêu cầu cụ thể của từng đề bài, giáo viên sẽ hướng dẫn có sự ứng dụng linh hoạt.
Riêng với học sinh theo chương trình Nâng cao, giáo viên có điều kiện thời gian
thuận lợi để đi sâu, rộng hơn ở từng đơn vị kiến thức.
* Giáo viên cần bổ túc cho học sinh những khái niệm, kiến thức mở
rộng (là kiến thức tích hợp liên môn mà các em đã học ở các môn học như
lịch sử, giáo dục công dân, địa lý, toán học, hóa học...v.v)
6
Xã hội: Hiểu theo nghĩa rộng, xã hội là hình thái sinh hoạt cuả cộng đồng loài
người. Hình thái xã hội luôn luôn phát triển, gắn với sự phát triển của loài người.
Mác đã định nghĩa: “Xã hội – bất cứ hình thức nào cũng là kết quả của sự tác
động lẫn nhau giữa người và người”. Trong lịch sử, cộng đồng người đã phát
triển từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc đến dân tộc. Hiểu theo nghĩa hẹp, cộng đồng
xã hội chính là những cộng đồng nghề nghiệp chính trị, tôn giáo, văn hóa…
trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia.
Chính trị: Ngày nay, chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các
mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc mà cốt lõi của nó là vấn đề
giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công
việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động
của nhà nước.[3]
Bản sắc văn hóa:
Bản sắc văn hóa là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cực của
một cộng đồng văn hóa. Văn hoá Việt có bản sắc riêng trong mối quan hệ với
các nền văn hóa khác. Bản sắc này hình thành từ chính thực tế địa lý, lịch sử,
đời sống cộng đồng của người Việt và quá trình giao lưu, tiếp xúc, tiếp nhận,
biến đổi các giá trị văn hóa của một số nền văn hóa khác (Trung Hoa, Ấn Độ).
Văn hóa Việt giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi phương
7
với người (tình anh em,tình bằng hữu, tình mẫu tử,…) khẳng định quyền sống
quyền hạnh phúc; lên án những thế lực tàn bạo (nạn bạo hành trẻ em, bạo lực
gia đình…); đề cao phẩm chất tài năng của con người.
Các nguồn tư tưởng khác:
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo là những tôn giáo có ảnh hường mạnh nhất
đến văn hóa truyền thống và đời sống của người Việt Nam từ xưa đến nay. Phần
này chúng ta chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính ảnh hưởng chứ không đi
sâu tìm hiểu về cội nguồn hoặc lịch sử phát triển của các tôn giáo này như Đại
cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi theo tư tưởng giáo lí nào? Chữ hiếu trong nhận
thức của Thúy Kiều từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, chữ hiếu trong nhận thức
của Mỵ trong Vợ chồng A Phủ, của Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia
đình theo tư tưởng đạo đức, giáo lý nào của người Việt? Nghĩa là giáo viên định
hướng cho học sinh tự tìm hiều một số vấn đề đời sống xã hội, để khi gặp những
đề bài có liên quan các em sẽ làm bài đúng hướng và trình bày gãy gọn, dễ hiểu
tạo sức thuyết phục cho văn bản nghị luận. (Ví dụ: Thế nào là “tiên học lễ, hậu
học văn”?, “Công, dung, ngôn, hạnh” có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống
hiện đại? “Cần, kiệm, liêm, chính” là gì? Những đức tính ấy có còn giá trị với
con người hiện đại?...)
Hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu những khái niệm cơ bản qua việc tự tra
từ điển tiếng Việt, Hán Việt:
Tam cương: ba mối quan hệ kết hợp cá nhân để tạo nên một xã hội có trật tự.
Đó là:
Quân thần cương: Vua phải xứng đáng làm đầu mối để muôn dân nương tựa.
Bề tôi (dân chúng) phải trung thành với vua, với phép nước.
Phụ tử cương: Đạo cha con: cha phải xứng đáng để con cái nương tựa; con
cái phải hiếu thảo với mẹ cha để báo đền ơn sinh thành, dưỡng dục.
Thao tác giải thích:
+ Yêu cầu đặt ra:
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung, ý
nghĩa bên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề người
đọc hiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ theo
một chính kiến.
+ Công việc cụ thể:
Trong thao tác giải thích vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừa
dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu đúng đắn, sâu sắc
có tính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết
ý. Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi
đã tìm hiểu được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào
cuộc sống hàng ngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận
dụng phù hợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?
→ Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:
- Bước 1: giải thích.
- Bước 2: lí giải tại sao.
- Bước 3: đặt vấn đề theo chiều thuận nghịch để hiểu.
Thao tác chứng minh:
+ Yêu cầu đặt ra:
Phải làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái
chân lý thể hiện trong một phát ngôn nào đó, nhiệm vụ là ta sẽ phải thuyết phục
người khác cũng chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng rút ra từ thực tế
cuộc sống xưa và nay, từ lịc sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn
chứng là những lý lẽ dẫn dắt, phân tích tạo ra lập luận vững chắc, mang đến
niềm tin cho người đọc.
+ Công việc cụ thể:
Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh, không những chỉ
bản thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình với
mình cách hiểu đúng nhất.
Không chấp nhận. (bác bỏ)
Sau đó, ta bình luận - mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn,
toàn diện hơn, triệt để hơn. Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để
đưa lý luận vào áp dụng thực tế cuộc sống.
3.5: Rèn kĩ năng xác định các dạng nghị luận xã hội
* Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý:
Đề tài:
Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống..)
Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn..)
Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…)
Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…)
Cấu trúc triển khai tổng quát:
Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận.
Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận (từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa
bóng…)
Bàn luận về tư tưởng đạo lý.
Rút ra bài học nhận thức và định hướng hành động hành động về tư tưởng,
đạo lý.
Đề minh chứng:
Đề bài:
Hãy viết một bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị
về quan niệm sau:
“Hỏi một câu chỉ dốt trong một lát. Không hỏi sẽ dốt suốt cuộc đời”.[4]
(Danh ngôn)
Hướng dẫn chấm:
1/ Giải thích:
- Nội dung câu danh ngôn đề cập đến vấn đề nhận thức, hỏi hay không hỏi
khi bản thân mỗi người gặp phải những vấn đề nan giải.
[4]
trong trường học…)
- Hiện tượng tích cực (hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây
nhà tình nghiã, người tốt việc tốt…)
Cấu trúc triển khai tổng quát:
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
- Giải thích cách hiểu về hiện tượng: Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng.
- Nêu thực trạng và bàn luận về hiện tượng: Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại
(Dùng dẫn chứng từ cuộc sống)
- Bài học nhận thức, định hướng hành động: bày tỏ thái độ, ý kiến của bản
thân về hiện tượng trên.
3.6: Rèn kỹ năng thực hiện các bước làm bài văn nghị luận xã hội :
Bước 1: Rèn kỹ năng tìm hiểu đề:
Để thực hiện tốt được thao tác này học sinh cần đọc kỹ đề, tìm và gạch chân
các cụm từ quan trọng (cụm từ chứa thông tin căn bản của vấn đề: vấn đề cần nghị
luận, thao tác nghị luận,...). Học sinh phải xác định đầy đủ, chính xác các yêu cầu
sau:
- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề cần nghị luận là gì?
- Yêu cầu về hình thức:
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ những tác phẩm
văn học, hay cuộc sống?.
Bước 2: Rèn kĩ năng lập dàn ý
11
Lập dàn ý là một khâu quan trọng. Dàn ý giúp người viết không bỏ sót
những ý cơ bản, trọng tâm, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết. Lập
dàn ý tốt, có thể sẽ viết dễ dàng hơn, nhanh hơn và hay hơn.
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý từng kiểu bài, tôi đưa ra mô hình
tổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:
+ Thứ hai: Trên cơ sở phân tích các khía cạnh của luận điểm, viết các
câu triển khai.
+ Thứ ba: Viết câu có tính chất kết đoạn.
- Giáo viên thu một số bài để chấm, nhận xét, sửa.
Để cụ thể hóa các bước rèn kĩ năng làm văn nghị luận xã hội, tôi thiết kế một
giáo án dạy thực nghiệm tiết tự chọn:
*Đối với viết đoạn văn nghị luận xã hội hoàn chỉnh:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự tìm, đọc lại SGK Ngữ văn lớp 6, 8,
9 để nhớ lại khái niệm về đoạn văn sau đó kiểm tra, khắc sâu vấn đề: Khái niệm
đoạn văn, các cách trình bày nội dung đoạn văn đó là:
Khái niệm: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết
hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý
tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đặc điểm:
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ
được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ,
đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. Câu chủ đề
12
mang nội dug khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và
đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai
làm sáng tỏ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, song hành,...[5]
Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn cách viết đoạn văn thông qua việc xác định
đề: Đề tài được đề cập đến ở đề tài là gì? (hiện tượng đời sống hay tư tưởng đạo
lí) Giới hạn bài viết bao nhiêu chữ? (200 chữ thì tương đương với 20 - 25 dòng
giấy thi và khoảng 15-17 câu). Sơ đồ cấu trúc của đoạn:
→ Từ dòng 01 đến dòng 02: Viết câu chủ đề.
→ Từ dòng 03 đến dòng 08: Giải thích cách hiểu về chủ đề nghị luận (hiện
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi
nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người
chiến sĩ kia đi qua những thử thách.[6]
1. Xác định những cặp hình tượng được nhắc đến trong văn bản trên? (0,5
điểm)
2. Nêu hai biện pháp tu từ được thể hiện rõ nhất trong đoạn trích? (0,5 điểm)
3. Xác định nội dung chính của phần văn bản trên? (1,0 điểm)
[5]
[6]
Trích “SGK Ngữ Văn 8 tập 1” - Trang 36 - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2016.
Trích “SGK Ngữ Văn 10 tập 2” - Trang 121-122 - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2006.
13
4. Có ý kiến cho rằng nơi dựa cũng có cùng ý nghĩa với sống dựa, đúng hay
sai? Vì sao? (1,0 điểm)
II. PHẦN: TỰ LUẬN (7.0 điểm)
Câu 1(2,0 điểm )
Anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
về chủ đề sống dựa?
Câu 2( 5,0 điểm):....
...............................Hết...........................................
Hướng dẫn chấm:
Câu 2( 2,0 điểm)
dựa
là
lối
sống
phụ
thuộc
vào
0,25
2
Câu 1
3
4
5
6
Nội dung
Điểm
người khác về cả thể xác và tinh thần, dễ bị người khác kiểm soát
nên không khẳng định đượcquyền con người, thiếu tự do, tự chủ,
thiếu tính tự lập, không tự tin vào khả năng bản thân.Vì không đủ
can đảm, sự quyết đoán để làm chủ được bản thân, không tự quyết
định và không tự giải quyết được mọi vấn đề trong cuộc sống, nên
phải dựa vào người khác.
- Thực trạng vấn đề: Dù tài giỏi, có trí tuệ nhưng không có ý thức tự 0,25
lập mà dựa vào người khác thì khó có cơ hội tự khẳng định mình.
II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh :
1. Chuẩn bị của giáo viên:
• Phương án lên lớp :
- Phương án 1: dạy bài theo giáo án điện tử và sử dụng máy chiếu
→ kiểm tra máy tính, máy chiếu.
- Phương án 2: dạy bài theo phương pháp truyền thống (phấn trắng - bảng
đen)
→ chuẩn bị SGK, sách tham khảo, phiếu học tập, một số đề bài
nghị luận về một hiện tượng đời sống, thiết kế bài dạy, tài liệu tham khảo.
• Phương pháp và kĩ thuật dạy học:
Dạy học theo phương pháp H/S tích hợp kiến thức có hướng dẫn của GV.
• Kĩ thuật dạy học: câu hỏi gợi ý, dẫn dắt, thảo luận nhóm, khảo sát ngữ liệu.
• Hình thức tổ chức hoạt động: H/S đọc văn bản, tích hợp kiến thức.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Soạn bài theo hướng dẫn SGK.
- Hoàn thành bài tập được giao: Xác định đề, tìm ý, lập dàn ý cho bài văn nghị
luận xã hội.
III.Tổ chức hoạt động dạy - học:
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra: Việc chuẩn bị bài của học sinh.
3. Giới thiệu bài mới: Nghị luận về một vấn đề đời sống là một hình thức nghị
luận, một dạng thuộc nghị luận xã hội không có nội dung lí thuyết riêng nên đây
là một hình thức luyện tập kĩ năng nghị luận cho các em. Giúp các em vận dụng
tổng hợp các thao tác nghị luận vào một loại đề cụ thể.
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung kiến thức cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS
I. Cách làm một bài nghị luận về một hiện
tìm hiểu cách làm một bài tượng đời sống
nghị luận về một hiện tượng
dàn ý hợp lý theo 3 phần.
- Tất cả học sinh đều làm
theo phiếu học tập
- Giáo viên gọi một số học
sinh trình bày, cả lớp xây
dựng dàn ý.
- Giáo viên chốt lại ý chính.
- Mở bài cần đạt những vấn
đề gì?
- Thân bài cần đạt yêu cầu
nào( dựa theo sơ đồ)
Hiện tượng gì?
Người viết phân tích hiện
tượng ntn?
Bình luận, đánh giá vấn đề
theo quy trình nào?
Kết bài được tổng hợp như
vừa tự học mà còn chăm sóc người mẹ nuôi
sau khi mẹ đẻ đã mất .
+ Nguyễn Hữu Ân là một hiện tượng sống
đẹp của thanh niên ngày nay → dẫn chứng.
+ Trái với hiện tượng trên: lối sống tiêu cực
trong cuộc sống “lãng phí chiếc bánh thời gian
và những trò chơi vô bổ” của một số ít thanh
niên, học sinh → dẫn chứng.
- Thao tác lập luận: cần vận dụng tổng hợp
các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bình
luân, ....
+ Biểu dương việc làm của Nguyễn Hữu Ân:
mỗi thanh, thiếu niên Việt Nam cần phải sống
có lí tưởng, có mục tiêu, không để thời gian
trôi đi một cách vô ích hoặc không được sống
hoài, sống phí.
+ Kêu gọi, động viên bạn bè, những người
16
thế nào?
GV: Hãy rút ra những kết
luận chung về cách làm bài
văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống? Khi làm bài
phải thực hiện những bước
nào?
HS: thảo luận và phát biểu.
GV: tổng hợp kiến thức .
Hoạt động 2 - luyện tập
GV cho H/S đọc, tìm yêu cầu
của bài tập
? Đề bài yêu cầu làm rõ vấn
đề gì?
? Bài viết có mấy luận điểm?
Bố cục của bài viết như thế
nào?
? Tác giả sử dụng những
thao tác nào?
sáng, giản dị, dễ hiểu, tạo sức thuyết phục.
II - Luyện tập
Bài tập 1:
- Tác giả bài viết bàn về hiện tượng: sự lãng
phí thời gian của thanh niên An Nam. Hiện
tượng này diễn ra vào những năm đầu của thế
kỉ XX.
- Ở xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XXI, hiện
tượng này còn hay hết? Mức độ (học sinh tự
nêu ý kiến của mình.)
- Trong văn bản tác giả sử dụng thao tác lập
luận, phân tích, so sánh, bình luận…
Chẳng hạn: Thao tác lập luận so sánh
Tác giả so sánh thanh niên An nam với thanh
niên Trung Hoa.
- Cách dùng ngôn ngữ (từ) giản dị, không hoa
mĩ, câu văn chuẩn mực gần với những phán
đoán lô-gíc, trong một hệ thống lập luận, câu
trước liên kết với câu sau, trong một mạch suy
luận tạo sức thuyết phục.
17
Bài tập 2:
GV: hướng dẫn học sinh
Hoạt động nhóm:
Nhóm 1: Lập dàn ý cho mở
bài.
Nhóm 2: Lập dàn ý cho thân
bài.
cầu
b. Hướng dẫn luyện tập :
- HS cần nắm được khái niệm, cách thức viết đoạn văn, làm bài văn nghị luận về
một vấn đề đời sống để ứng dụng vào việc làm bài văn các bài viết số 1,2,3 và
thi học kì, thi Trung học phổ thông Quốc gia.
- Tìm, tự chọn một số đề bài, lập dàn ý.
4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Qua việc áp dụng một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho học
sinh. Tôi nhận thấy, học sinh đã có tiến bộ, đạt được kết quả cao hơn, học sinh làm bài
câu nghị luận xã hội (2,0 điểm) kết quả khả quan hơn, các em không “ngại” khi phải
làm câu nghị luận xã hội. Học trò làm phần đề này trong thời gian ngắn (15 đến 20 phút)
vẫn đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Sau đây là bảng thống kê điểm kiểm tra học kỳ 2 đối với câu nghị luận xã hội:
Tổng hợp kết quả bài kiểm tra học kỳ 2 và kỳ thi thử THPT Quốc gia (Câu
nghị luận xã hội) ở các lớp 12 tôi dạy qua các năm học: 2015 - 2016 và đặc
biệt vận dụng sáng kiến này trong năm học 2016 - 2017 như sau:
Năm học 2015 - 2016
Điểm
TS
Lớp
HS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
12A1 43
03 = 6,6% 20 = 44,5% 18 =39,8% 01= 2,2%
0 = 0%
12A2 41
luận bàn luận vấn đề của học sinh.
Hai là: Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức xã hội trong các tác phẩm
văn học được học và đọc thêm và qua các môn học khác như GDCD, Lịch sử,
Sinh học, Địa lí.....qua các phương tiện thông tin đại chúng, đời sống xã hội…
Ba là: Giáo viên cần rèn cho học sinh thói quen: Phân tích đề, lập dàn ý trước
khi viết bài trong các giờ học tiết lý thuyết làm văn trên giờ học chính khóa. Trong
các bài kiểm tra 15 phút tôi yêu cầu các em lập dàn ý cho bà văn, đoạn văn để
chấm. Chủ yếu tạo thói quen lập dàn ý và hướng dẫn viết theo dàn ý cho các em.
Bốn là: Trong giờ dạy học Ngữ văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
giải thích các từ ngữ, khái niệm và chú ý tích hợp kiến thức xã hội, giáo dục môi
trường, phát huy trí tưởng tượng phong phú của các em. Học trò cần phải biết
tìm ra thông điệp cuộc sống từ vấn đề nghị luận thì vấn đề đó mới trở nên có ý
nghĩa.
Năm là: Việc ra đề kiểm tra đánh giá cần được coi trọng, giáo viên nên ra
những đề “mở” để phát huy năng lực sáng tạo của học sinh, đồng thời khơi gợi
hứng thú cho học sinh tìm hiểu các tác phẩm văn học.
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trên đây chỉ là “Một vài kinh nghiệm hướng dẫn cách học và làm tốt bài
văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT- đặc biệt đối với học sinh lớp 12 ”,
giúp học sinh làm tốt phần bài thi trong kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia. Tuy
nhiên cũng phải thấy rằng để khơi gợi hứng thú đối với phần làm văn nghị luận xã
hội, ngoài hướng dẫn học lý thuyết gọn nhẹ, dễ hiểu, các kỹ năng, cùng bổ túc kiến
thức xã hội là rất cần thiết. Giáo viên cần tìm những đề tài hay đảm bảo tính vừa
sức, nhưng vẫn kích thích sự sáng tạo, tạo cơ hội cho học sinh được phát biểu
những suy nghĩ riêng, được nói bằng tiếng nói của riêng mình. Có thế thì việc học
văn, làm văn nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông mới có kết quả.
Tôi tin tưởng rằng với nhiệt tình, tâm huyết của giáo viên và sự cố gắng, khả
năng sáng tạo của học sinh thì chất lượng môn Ngữ văn sẽ ngày càng nâng lên.
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy.