I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giữ vở sạch –
viết chữ đẹp
2. Tác giả
Họ và tên: Lò Văn Thành
Năm sinh: 1987
Nơi thường trú: Khu 26 thị trấn Tân Uyên – Tân Uyên – Lai Châu
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
Điện thoại: 0978.145.355
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phong trào
4. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 8 năm 2014 đến ngày
15 tháng 3 năm 2015
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
Địa chỉ: Bản Hoàng Hà – Pắc Ta – Tân Uyên – Lai Châu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
1.1. Khái quát về lí luận
a. Các định nghĩa, khái niệm
Viết chữ đẹp là nguyện vọng và lòng mong mỏi của tất cả mọi người, mọi giáo
viên và học sinh. Đối với giáo viên bậc Tiểu học thì đây là mục tiêu hàng đầu bên
cạnh việc dạy cho các em biết đọc, viết thông thường thì luyện viết chữ đẹp nói riêng
cũng như vấn đề luyện chữ nói chung vẫn còn là một vấn đề khoa học mở.
Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc Tiểu học, học sinh
phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không những có quan hệ
mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học mà còn góp phần rèn luyện một trong
1
những kĩ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học - đó là kỹ
năng viết chữ. Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ quy định thì học
ngành Sở Khoa học Công nghệ - Sở Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn
thực hiện sáng kiến kinh nghiệm ngành GD&ĐT.
Căn cứ Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của UBND
tỉnh Lai Châu về việc ban hành quy định về quy trình xét, công nhận sáng kiến
cải tiến kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Lai Châu; Căn cứ Công văn số 1196/SGDĐT-
CNTT ngày 23/10/2014 của Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu v/v hướng
dẫn thực hiện sáng kiến.
Căn cứ Công văn số 712/PGDĐT-TĐKT ngày 09/12/2014 của Phòng
Giáo dục và Đào tạo V/v Hướng dẫn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm từ năm
học 2014-2015.
1.4. Mục đích của sáng kiến
Tìm hiểu thực trạng việc rèn vở sạch, chữ đẹp của học sinh lớp 2 để có giải
pháp phù hợp rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 nhằm giúp cho học sinh có ý thức:
Rèn chữ, giữ vở làm cho chất lượng chữ viết của học sinh được nâng cao. Góp
phần nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt, đồng thời rèn cho học sinh
tính kiên trì, cẩn thận trong học tập và trong công việc.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Học sinh lớp 2A khu Trung tâm trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta - huyện Tân
Uyên - tỉnh Lai Châu.
Nghiên cứu trong khoảng 1 năm học, bắt đầu nghiên cứu từ đầu năm học
đến giữa học kì II thì khảo sát chất lượng thực hiện.
Đối tượng nghiên cứu: “ Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giữ vở
sạch – viết chữ đẹp”
3. Mô tả sáng kiến:
a. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
* Phân tích các giải pháp cũ:
3
Trong những năm học trước tôi đã thực hiện một số giải pháp sau:
- Giải pháp 1: Rèn tư thế ngồi viết - cách cầm bút
*Ưu điểm:
của học sinh.
+ Một số phụ huynh học sinh trình độ nhận thức kém chưa thực sự quan
tâm đến việc học tập, rèn chữ cho con em mình còn phó mặc cho giáo viên.
Từ những ưu điểm, tồn tại của các giải pháp trên bản thân tôi nhận thấy
muốn nâng cao tỉ lệ học sinh biết giữ vở sạch viết chữ đẹp thì tôi cần phải đưa ra
những giải pháp sao cho phù hợp với bản thân và học sinh.
b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
* Giải pháp 1: Đề cao sự mẫu mực về viết chữ của giáo viên
- Mục tiêu
+ GV viết đúng mẫu chữ truyền thống theo quy định của Bộ Giáo dục.
+ Chữ viết đều, đẹp, trình bày khoa học.
- Cách thực hiện
+ Chúng ta thường nói rằng “ Thầy nào - trò ấy”. Quả thật, chữ viết của
giáo viên là vấn đề có tính chất quyết định, bởi vì giáo viên luôn là tấm gương đối
với học sinh về tất cả các mặt, nhất là học sinh tiểu học và đặc biệt là các lớp đầu
cấp thì thầy cô giáo luôn là một hình ảnh đẹp đẽ và mẫu mực. Khi vào các lớp đầu
cấp học sinh bắt đầu cầm bút viết những nét chữ đầu tiên thì chữ viết của giáo
viên ở bảng lớp, ở con chữ cô viết mẫu là rất quan trọng. Các em sẽ nhìn, quan sát
và bắt chước những nét chữ từ đơn giản đến phức tạp của thầy cô giáo. Thực tế
thấy rằng nếu giáo viên viết chữ đẹp và có ý thức rèn chữ viết thì chất lượng chữ
viết của lớp đó sẽ cao và qua quan sát ta thấy rằng nét chữ của các lớp khác nhau
nhưng trong một lớp thì lại tương đối giống nhau và rất giống chữ của giáo viên.
+ Bên cạnh đó, muốn cho học sinh viết đẹp, giữ gìn sách vở sạch sẽ thì giáo
viên phải rất công phu rèn luyện theo phương pháp khoa học, lâu dài, kiên trì và
chịu khó…
+ Vì vậy, tôi luôn coi trọng chữ viết thường ngày của mình trên bảng lớp,
đây chính là trang viết mẫu mực đầu tiên của mình cho học sinh thấy. Tôi luôn
5
chỳ ý vit ỳng chớnh t, ỳng mu, rừ rng v ngay ngn, khi trỡnh by bng lp
tụi luụn chỳ trng cỏch trỡnh by l bng, dũng ch ghi ngy thỏng nm, tờn mụn,
mảnh giấy trắng để kê tay. Chó ý kh«ng ®Ó mùc gi©y ra tay vµ ra vë.
* Giải pháp 3: Rèn cho học sinh viết chữ đẹp
- Mục tiêu
+ HS biết viết đúng, đều, đẹp. Đúng mẫu chữ truyền thống.
+ Cuối năm học có 80% học sinh đạt học sinh viết chữ đẹp.
+ Rèn cho học sinh tính kiên trì, cẩn thận.
- Cách thực hiện
+ Vào đầu năm học mới giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành kiểm tra sách
vở, đồ dùng học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở nào, dùng loại
bút nào để luyện viết, hướng dẫn học sinh cách bọc vở và bảo quản, giữ gìn sách vở
như thế nào trong năm học. Hướng dẫn cho học sinh các tiêu chuẩn cần phấn đấu để
đạt danh hiệu “Vở sạch - Chữ đẹp”. Đồng thời cùng học sinh ra quyết tâm thực hiện
các chỉ tiêu về phong trào rèn chữ viết và giữ gìn sách vở. Đó là các phong trào thi đua:
- Thi đua theo chủ điểm:
+ 20/11 là ngày chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam.
+ Ngày Bác Hồ gửi thư cho ngành Giáo dục – Đào tạo 15/10
+ Ngày 20/11 ngày hiến chương các nhà giáo.
+ Ngày 8/3 là ngày quốc tế phụ nữ.
+ Ngày 19/5 là ngày sinh của Bác Hồ kính yêu.
Sau các đợt thi đua, giáo viên đều có tổng kết khen ngợi kịp thời để tất cả học
sinh trong lớp đều có khí thế vươn lên thi đua giữ vở sạch - viết chữ đẹp.
+ Ngoài yêu cầu viết đúng, đẹp cần hướng dẫn cách trình bày ở vở của học sinh
trong từng thể loại bài, cách kẻ vở khi hết bài, hết môn, hết ngày và hết tuần như thế
nào để thống nhất trong cả lớp.
+ Đối với những em có năng khiếu và viết chữ khá đẹp, giáo viên phải có định
hướng từ đầu là phải luôn chú ý theo dõi, kèm cặp nhắc nhở để học sinh luôn ghi nhớ,
cố gắng thường xuyên bởi vì hơn ai hết giáo viên là người trực tiếp dạy dỗ, quan tâm
học sinh hàng ngày nên có điều kiện, kiểm tra và có hướng khắc phục uốn nắn kịp
7
thời; Cần khảo sát phân loại học sinh ngay từ đầu năm để có hướng kèm cặp những
a) Phần viết chữ cái: Đây là phần quan trọng trong môn tiếng Việt, nhất là môn
tập viết.Tôi dạy các em viết các chữ thật tỉ mỉ, cẩn thận, hướng dẫn kỹ đến từng em.
Với những em chưa biết viết hoặc mới viết thành hình chữ tôi bắt tay các em từng nét,
viết mẫu cho các em tô theo, quá trình này được lặp lại nhiều lần cho đến khi các em
biết viêt. Bởi vì lứa tuổi các em dễ bắt chước, hay quên nhưng lại dễ nhớ, khi đã nhớ
thì nhớ rất lâu có thể nhớ suốt đời nên việc này chỉ cần giáo viên kiên trì là được.
b) Phần viết câu ứng dụng và từ ứng dụng: Khi các em đã viết được câu ứng
dụng thì tôi mới hướng dẫn các em viết phần ứng dụng một câu văn hoặc một khổ thơ.
Các yếu tố để học sinh viết chữ đẹp là:
+ Viết chữ tròn đều, đủ nét.
+ Viết nét thẳng.
+ Chân nét chéo của các nét chữ gọn.
Để dạy được ba yếu tố trên tôi dạy thật kĩ và chắc chắn các nét cơ bản.
+ Nét móc (móc xuôi, móc ngược, móc hai đầu)
+ Nét cong (cong hở phải, cong hở trái, cong tròn khép kín)
+ Nét thắt.
+ Nét khuyết trên.
+ Nét khuyết dưới.
+ Nét sổ thẳng.
+ Nét xiên (xiên phải, xiên trái)
+ Nét ngang.
Trong qua trình dạy chữ tôi luôn luôn củng cố lại các nét để học sinh nắm chắc
hơn về cấu tạo của từng con chữ, từng nét.
+ Những nét thẳng tôi hướng dẫn các em đưa vào đường kẻ dọc để dễ viết.
+ Khi viết từ ứng dụng, câu ứng dụng, những vần, chữ có 2, 3 con chữ ghép lại
thì tôi hướng dẫn các em viết nét nối hẹp bằng nửa con chữ o. Chữ nọ cách chữ kia là
một con chữ o.
+ Để viết đúng và đẹp không thể thiếu được một yếu tố nữa là: Viết nét thanh
nét đậm. Đây là yếu tố quy định không bắt buộc mà khuyến khích các em ngay từ đầu
9
10
+ HS biết giữ vở sạch sẽ, vở không quăn mép, không nhàu nát, không rách bìa.
(13/17 em)
+ Vở viết được trình bày khoa học, ghi đầy đủ ngày, tháng, năm. Tên môn
học, tên bài học, viết hết trang vở, không để thừa giấy. (14/17 em)
+ HS biết viết đúng, đều, đẹp, đúng mẫu chữ truyền thống. (13/17 em)
* Hiệu quả về xã hội:
+ Học sinh thích được học tập, rèn luyện. (17/17 em)
+ Nâng cao tỉ lệ chuyên cần. (17/17 em)
+ Tạo ra phong trào tốt được sự hưởng trong xã hội, có sự phối kết hợp giữa
giáo viên – học sinh – nhà trường – gia đình.
Với kết quả trên tôi sẽ tiếp tục duy trì và áp dụng vào giảng dạy để cuối năm
học chất luợng "Vở sạch, chữ đẹp" được nâng cao hơn nữa.
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Từ những việc làm thực tiễn mà tôi đã áp dụng trong phạm vi lớp 2A, tôi nhận
thấy rằng trong quá trình dạy học để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, giáo
viên phải là người tâm huyết với nghề nghiệp, tất cả vì học sinh thân yêu thật sự là
người mẹ, người cha thứ hai của các em. Giáo viên cần gần gũi quan tâm giúp đỡ,
động viên các em về mọi mặt. Xây dựng cho các em nề nếp, hình thành thói quen tốt
trong học tập, có niềm tin hứng thú trong học tập để các em phát huy mọi khả năng
trong học tập, đặc biệt là kĩ năng luyện viết chữ được tốt hơn. Để đạt được điều đó,
giáo viên không ngừng rèn luyện tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, thực sự là tấm
gương sáng cho học sinh noi theo.
Với các giải pháp về “Rèn giữ vở sạch – viết chữ đẹp” mà trong sáng kiến kinh
nghiệm của tôi đã nêu ở trên. Tôi nghĩ rằng có thể áp dụng và triển khai được ở tất cả
các lớp Tiểu học đặc biệt đối tượng là các em học sinh dân tộc.
6. Các thông tin cần được bảo mật
- Không
7. Kiến nghị, đề xuất:
a) Về danh sách cá nhân được công nhận đồng tác giả sáng kiến (áp dụng
Nơi công tác: Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
Pắc Ta, ngày 15 tháng 3 năm 2015