Một số kinh nghiệm hớng dẫn
học sinh lớp 5 luyện tập tu từ so sánh
trong văn miêu tả
A. PHN M U
I. Li m u
Tiu hc Tp lm vn l mt mụn hc c s, rt quan trng trong
chng trỡnh dy hc. lm mt bi vn hay, ũi hi hc sinh phi bit vn
dng cỏc kin thc liờn mụn thuc lnh vc khoa hc xó hi, khoa hc t
nhiờn. Vỡ cỏc kin thc liờn mụn ny s giỳp cho hc sinh cú c t liu
vit bi vn v bit cỏch s dng ngụn t th no trỡnh by suy ngh ca
mỡnh mt cỏch mch lc, rừ rng, sỏng ý v hp dn. Th nhng, ch cú nhng
kin thc liờn mụn núi trờn thỡ vn cha . Tp lm vn cũn l phõn mụn cú
tớnh c lp, cú h thng lớ thuyt riờng nhm xõy dng cỏc th loi nh: Vn
miờu t (bao gm cỏc kiu bi: miờu t vt, cõy ci, con vt, t cnh, t
ngi), vn k chuyn, vit th, v tng loi bi li ũi hi phi rốn luyn
cú k nng cn thit.
Mt bi vn hay, cú giỏ tr khụng phi ch ch trỡnh by mch lc, d hiu;
m cỏi quan trng hn l sc truyn cm. V s truyn cm ny cú c l do
tớnh chõn thc, tớnh nhõn bn, cao hn na l cỏi "cht vn, hi vn". vit
c bi vn hay, cỏc em cn phi rốn luyn sao cho cú c nng lc quan sỏt
( nhn bit c cỏi c trng ca s vt, hin tng) nng lc cm th,
nng lc thu thp thụng tin, nng lc tng tng - liờn tng, nng lc phõn
tớch tng hp, nng lc linh cm, c bit l vic vn dng cỏc bin phỏp tu t
vo quỏ trỡnh lm bi nh: phộp tu t so sỏnh, nhõn hoỏ v cỏc kh nng biu
t, b cc
Ngay t lp 2, hc sinh ó c lm quen vi th loi vn miờu t thụng qua
vic quan sỏt tranh v tr li cõu hi. n lp 3, 4, 5 thỡ ni dung ny li c c
th hn v yờu cu cng cao hn. Bờn cnh ú, lp 3, sỏch giỏo khoa Ting
Vit ó gii thiu s b v phộp tu t so sỏnh. õy cha i sõu v lớ thuyt ca
phộp tu t so sỏnh m ch hỡnh thnh nhng hiu bit v k nng ban u v so
luận của giáo viên về văn miêu tả và phép tu từ so sánh đang còn là một
2
khoảng trống với họ. Vì thế, việc vận dụng vào thực tiễn dạy học còn gặp
nhiều khó khăn.
Trong quá trình dạy học văn miêu tả, giáo viên chưa khai thác hết các biện
pháp dạy học, chưa vận dụng triệt để các biện pháp tu từ so sánh vào quá trình
luyện tập thực hành cho học sinh, chưa khai thác tối đa việc cho học sinh
được trực tiếp quan sát đối tượng miêu tả.
Hình thức dạy học và đồ dùng trực quan còn nghèo nàn nên học sinh không
có những hiểu biết, những hình dung cụ thể và rõ nét về đối tượng miêu tả. Bởi
vậy, học sinh nói và viết mơ hồ, chung chung, không có sắc thái biểu cảm hay
nói cách khác trong mỗi bài làm chưa thể hiện được cái riêng.
1.2. Về phía học sinh
Qua dự giờ, thăm lớp đặc biệt là tìm hiểu từ các bài viết của các em học sinh,
chúng tôi nhận thấy rằng bài làm của các em còn mang nặng tính công thức,
khuôn sáo, máy móc, thiếu tính chân thực. Nó được thể hiện qua các khía cạnh
sau:
- Vay mượn ý tứ của người khác, thường là một bài mẫu. Nói cách khác học
sinh sẵn sàng học thuộc một bài văn mẫu, một câu văn mẫu, khi làm bài các em
sao chép ra và biến thành bài làm của mình, không kể đầu bài quy định như thế
nào. Với cách làm ấy, các em không cần biết đến đối tượng miêu tả, không
quan sát không có cảm xúc gì về chúng. Chấm bài không tinh, thầy cô giáo dễ
khen nhầm văn của người khác mà cứ tưởng là văn của học trò mình. Đây là
điều không chỉ xảy ra với văn miêu tả mà hầu hết các thể loại văn khác cũng
tương tự như thế.
- Miêu tả hời hợt, chung chung không có một sắc thái riêng biệt nào của
đối tượng được tả Vì thế, bài làm ấy gán cho đối tượng miêu tả nào cùng
loại cũng được. Một bài miêu tả như vậy đọc lên ta cảm thấy nhợt nhạt, mờ
mờ. Nguyên nhân chủ yếu là vì các em không được quan sát, không biết cách
hồi tưởng kinh nghiệm sống của mình hoặc không biết cách quan sát nên
rất thấp, số học sinh đạt điểm khá và giỏi còn rất ít. Trong khi đó, số học sinh
đạt điểm yếu còn nhiều.
Kết quả trên cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp để nâng cao
chất lượng bài văn miêu tả của học sinh.
4
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
2. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi hình thức dạy học
3. Tìm hiểu nội dung và vai trò của phép tu từ so sánh trong văn miêu tả
4. Hướng dẫn học sinh luyện tập về pháp tu từ so sánh trong văn miêu tả
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Để thực hiện tốt các giải pháp trên cũng như giải quyết vấn đề của đề tài,
tôi xây dựng một số biện pháp cụ thể sau đây:
1. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
* Tăng cường bồi dưỡng tư tưởng chính trị, tinh thần trách nhiệm trong thực
hiện nhiệm vụ của người giáo viên. Trước hết tôi phải học tập, nắm bắt, quán
triệt các nghị quyết, thông tư, chỉ thị, hướng dẫn nhiệm vụ năm học của nhà
trường, của các cấp, các ngành một cách nghiêm túc.
* Tăng cường học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Bản thân tôi
luôn có ý thức nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ qua những việc làm như:
- Tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn hoặc dài hạn nhằm nâng cao trình độ
về chuyên môn nghiệp vụ, về trình độ lí luận, tin học, tham gia các đợt tập huấn
do Sở hoặc Phòng Giáo dục tổ chức, nhất là các lớp tập huấn về đổi mới phương
pháp dạy học, tích cực tiếp thu các chuyên đề do nhà trường, tổ khối triển khai.
- Tự học, tự bồi dưỡng một cách thật sự nghiêm túc, thường xuyên nắm bắt
chắc chắn về mục tiêu, nội dung, chương trình sách giáo khoa Tiểu học mới
và phương pháp dạy học cụ thể của từng môn học, từng bài học. Tham gia
thao giảng thường xuyên; tăng cường dự giờ thăm lớp; tham gia sinh hoạt
chuyên môn, rút kinh nghiệm các tiết dạy của đồng nghiệp. Tham gia hội thi
giác mới mẻ về đối tượng.
Nhờ phép so sánh, chúng ta có thể tái hiện lại đối tượng phản ánh làm cho
đối tượng miêu tả trở nên cụ thể hơn. Từ đó, có thể biểu lộ những nhận thức
sự cảm thụ cũng như gửi gắm những tâm sự rất riêng của mình, giúp cho bài
làm có được nét tinh tế, độc đáo và phong cách riêng.
Để một bài văn miêu tả có cái mới, có chiều sâu, giàu sức sống thì mỗi học
sinh, mỗi người viết phải có được những kĩ năng nhất định. Cùng với kĩ năng
6
quan sát, kĩ năng lập dàn ý, giàu vốn từ thì sử dụng phép tu từ so sánh là một
kĩ năng hết sức cần thiết mà người viết nói chung và học sinh nói riêng cần
có. Đây là kĩ năng giúp cho học sinh có bài nói bài viết hay không chỉ trong
khuôn khổ của bậc học Tiểu học mà nó còn giúp các em nâng cao chất lượng
giao tiếp mãi về sau này.
4. Hướng dẫn học sinh luyện tập về phép tu từ so sánh trong văn miêu tả
4.1. Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng
Trong miêu tả thì quan sát là một trong những bước quan trọng nhất. Kết
quả quan sát chính là yếu tố quan trọng để viết nên bài văn. Kết quả của mỗi
lần quan sát sẽ làm giàu thêm kho biểu tượng của các em mà mỗi khi cần
miêu tả các em sẽ dễ dàng thiết lập được hình ảnh so sánh giữa chi tiết, bộ
phận hay sự vật cần miểu tả với hình ảnh có sẵn trong vốn biểu tượng phong
phú của mình.
Sử dụng phương pháp này nhằm phát huy khả năng ngôn ngữ của học sinh,
phát huy trí tưởng tượng phong phú, khả năng sáng tạo tinh tế của các em.
Từ thực tế nghiên cứu giảng dạy, tôi thấy những câu văn hay, sống động,
giàu hình ảnh là những câu văn được quan sát thực tế một cách tinh tế, tỉ mỉ.
Chính vì vậy, tôi luôn chú ý "Tổ chức cho học sinh quan sát". Để làm được
điều này, tôi luôn chú ý tạo điều kiện cho học sinh đến tận nơi quan sát đối
tượng trước khi miêu tả và coi đó là nguyên tắc khi giảng dạy văn miêu tả của
mình. Chỉ trên cơ sở thu nhận trực tiếp các nhận xét, các ấn tượng cảm xúc về
sự vật, hiện tượng thì cảm xúc mới nảy sinh, có như thế bài viết mới có cảm
Việc lựa chọn tốt vị trí quan sát và phối hợp nhiều giác quan trong quá
trình quan sát sẽ góp phần giúp học sinh viết được đoạn, bài văn cụ thể, sinh
động hơn. Bên cạnh đó, một yêu cầu rất quan trọng nữa cần hướng dẫn các
em trong qua trình quan sát đó là:
- Lựa chọn trình tự quan sát:
+ Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc
ngược lại; quan sát từ trái sang phải hay trên xuống dưới hay ngoài vào trong
hoặc ngược lại.
8
+ Trình tự thời gian: Quan sát tả cảnh vật, cây cối theo mùa trong năm, quan
sát theo thời gian trong ngày: buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều. Dù quan sát theo
trình tự nào cũng cần tập trung bộ phận chủ yếu và trọng tâm, hướng dẫn học
sinh sử dụng các giác quan để quan sát.
Ví dụ: Với đề bài Hãy tả một cơn mưa.
Tôi đặt câu hỏi để hướng dẫn các em quan sát một cách có trình tự:
- Khi tả một cơn mưa, các em cần quan sát như thế nào? (quan sát khi trời
sắp mưa, khi trời mưa và khi cơn mưa tạnh)
- Khi trời sắp mưa, em nhìn thấy những gì? (mây đen kéo đến, bầu trời
xám xịt, những tia chớp xuất hiện, )
- Lúc mưa em quan sát thấy những gì? (không khí mát lạnh, mưa rơi rào
rào, )
- Khi trời tạnh em quan sát thấy những gì? (trời rạng dần, chim chóc bay
ra hót râm ran, ánh nắng lấp lánh trên vòm lá, )
- Các em đã sử dụng những giác quan nào trong quá trình quan sát của
mình? (thị giác, thính giác, xúc giác, )
Như vậy qua cách đặt câu hỏi trên, tôi đã giúp các em biết quan sát cơn
mưa theo trình tự thời gian, cũng như phối hợp nhiều giác quan trong quá
trình quan sát.
Hay với đề bài Em hãy tả cánh đồng lúa, tôi hướng dẫn các em quan sát
nhận, đã nghĩ bằng vốn ngôn từ nghệ thuật của mình để làm hiện rõ trước mắt
người đọc về đối tượng phản ánh một cách chân thực và sinh động nhất.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp hoặc thông qua các
bài tập ngoài việc giúp các em có được kết qua quan sát tốt, tôi luôn chú ý khắc
Hình dáng:
Đặc
điểm
Bên ngoài Bên trong Hình ảnh so sánh
Màu sắc
Vị
Tác
dụng
10
sâu cách quan sát để sau những lần như vậy các em dần hình thành cho mình
khả năng quan sát độc lập.
4.2. Hướng dẫn học sinh liên tưởng, tưởng tượng tới đối tượng miêu tả
4.2.1. Hướng dẫn học sinh biết liên tưởng
Liên tưởng có thể có nhiều cách khác nhau. Đó là:
+ Liên tưởng tương tự; liên tưởng cặp đôi; liên tưởng trái ngược; từ những
hình ảnh này liên tưởng đến những hình ảnh khác,
Với mức độ học sinh lớp 5, trước tiên tôi giúp các em hiểu thế nào là liên
tưởng: "liên tưởng" là từ chuyện này nghĩ tới chuyện khác, từ chuyện người
ngẫm ra chuyện mình. Liên tưởng trong văn miêu tả là từ một câu, một đoạn,
một bài văn gợi ra những suy nghĩ, cảm xúc về những gì con người đã sống,
đã cảm nhận, đã thấy, đã trải qua.
Và quan trọng nhất là việc lấy ví dụ cũng như chỉ ra cái hay của đoạn văn
cũng như chỉ rõ hình ảnh, sự vật, sự việc được liên tưởng.
Ví dụ: Thấy hình ảnh dê con đang chăm chú kéo xe hàng của mình ở chiếc
cặp, cậu học sinh liên tưởng đến chuyện dê con như đang muốn nhắc nhở
những ví dụ này cũng đã góp phần kích thích trí tưởng tượng ở các em.
Đồng thời tôi luôn chú ý trính dẫn các ví dụ về tưởng tượng từ các bài tập
đọc, những đoạn văn mẫu, và chỉ ra cái hay, cái đẹp cái giá trị về câu, đoạn
văn có hình ảnh tưởng tượng đó.
Ví dụ:
"Ngày mai
Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi.
Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên." (Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông
Đà, Tiếng Việt 5, tập 1)
Tôi giúp cho học sinh thấy hình ảnh tưởng tượng của tác giả "Biển nằm bỡ ngỡ
giữa cao nguyên" và chỉ cho các em thấy cái hay, cái giá trị của hình ảnh trên.
Hay hình ảnh "người khổng lồ đi lạc vào vương quốc của những người tí
hon" trong đoạn văn: " Loanh quanh trong rừng chúng tôi đi vào một lối đầy
nấm dại, một thành phố nấm lúp xúp dưới bóng cây thưa. Những chiếc nấm to
bằng cái ấm tích, màu sặc sỡ rực lên. Mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc
tân kì. Tôi có cảm giác mình là một người khổng lồ đi lạc vào kinh đô của
12
vương quốc những người tí hon. Đền đài, miếu mạo của họ lúp xúp dưới
chân " (Kì diệu rừng xanh - Nguyễn Phan Hách - Tiếng Việt 5, tập 1) đã cuốn
hút, hấp dẫn người đọc. Tạo cho người đọc có cảm giác như chính mình là
nhân vật trong truyện,
Cùng với việc lấy ví dụ, tôi khuyến khích các em phát huy trí tưởng tượng,
tạo tình huống để các em được tưởng tượng. Tôi cho các em nói, viết về sự vật
không có trước mắt hoặc không có trong thực tế.
Ví dụ: "Em hãy viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả về ngoại hình của nhân
vật Thủy Tinh trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh."
Tóm lại, giáo viên cần chú ý khuyến khích học sinh sử dụng vốn tri thức,
kinh nghiệm sống của mình để phát huy trí tưởng tượng và khả năng liên
tưởng của mình.
4.3. Hướng dẫn học sinh thiết lập các hình ảnh so sánh
Như vậy, qua cách đưa ra những đoạn văn cụ thể cho học sinh so sánh, đối
chiếu và nhận xét, tôi đã giúp các em thấy rõ vai trò, giá trị của phép tu từ so sánh
và kích thích, tạo hứng thú sử dụng biện pháp so sánh cho các em khi viết văn
miêu tả.
Ở mức độ cao hơn, tôi đưa ra một đoạn văn chưa sử dụng phép tu từ so
sánh và yêu cầu các em viết lại cho đoạn văn hay hơn bằng cách sử dụng các
hình ảnh so sánh.
Ví dụ: Tôi đưa đoạn văn tả cảnh biển:
Biển quê em rộng lớn bao la. Nước biển quanh năm xanh thẳm. Những
ngày giông bão nước biển đục ngầu, sóng cuồn cuộn dâng.
Hướng dẫn các em tìm các hình ảnh so sánh để viết lại đoạn văn cho hay
hơn. Chẳng hạn:
- Biển rộng lớn, bao la, ta có thể sửa thành: Biển bao la như tình mẹ dành
cho những đứa con thơ hay Biển trông như một tấm thảm màu ngọc bích
khổng lồ lấp lánh dưới ánh mặt trời,
- Biển luôn luôn xanh thẳm, ta sửa thành: Biển trẻ mãi, xanh tươi mãi
mãi như những đứa trẻ.
14
- Khi giông bão, biển đục ngầu, sóng cuồn cuộn dâng, Ta viết Biển có lúc
dữ dội như người khổng lồ nóng nảy quái dị, gọi sấm, gọi chớp,
Tóm lại, trong một bài văn tả, không nhất nhất chỉ sử dụng một dạng so sánh
mà có thể kết hợp, tuỳ theo đối tượng cần tả mà sử dụng dạng so sánh này nhiều,
dạng so sánh kia ít. Viết thế nào để không những khắc hoạ rõ nét đối tượng được
tả mà còn thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật, và cả tình cảm của mình đối
với đối tượng được miêu tả.
4.3 1. Tạo điều kiện để học sinh tích luỹ vốn từ ngữ để miêu tả
Trong quá trình dạy học, tôi luôn chú trọng tích lũy vốn từ cho học sinh
thông qua tất cả các môn học. Những môn (phân môn) tôi chú ý khai thác
nhiều nhất đó là Tập đọc và Luyện từ và câu.
chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp, do đó có tác dụng gợi hình, gợi
cảm nhất.
Ví dụ: Để tả hình dáng một em bé đang tuổi tập nói, tập đi, học sinh viết "Bé
Hà có dáng người béo mập". Trong trường hợp này, tôi đưa ra câu hỏi để các em
thấy sử dụng từ "béo mập" là không hay, nên thay bằng từ "bụ bẫm" hay "mập
mạp".
Hay khi tả về khuôn mặt của bạn, một học sinh viết: "Bạn Thanh Thanh có
đôi má bánh đúc" các em tả đúng thực tế, nhưng tả như vậy không hay. Tôi
giúp cho các em hiểu và hướng dẫn các em sửa thành "Bạn Thanh Thanh có
khuôn mặt bầu bĩnh của chú mèo Đô-rê-mon thông minh", Cũng là so sánh
nhưng rõ ràng cách so sánh thứ hai vừa đúng lại ngộ nghĩnh và đáng yêu hơn,
phù hợp với đề bài Tả một người bạn thân của em trong lớp.
Để có thể sử dụng được hình ảnh hay, độc đáo, phản ánh được đối tượng
đang tả chúng ta cần xác định và tìm hiểu kĩ đối tượng tả là gì? Giáo viên cần
hướng dẫn, uốn nắn để các em có thể cân nhắc, lựa chọn hình ảnh so sánh sao
cho phù hợp với đối tượng tả. Khuyến khích học sinh sử dụng phép tu từ so
sánh trong khi nói và viết đoạn văn miêu tả nhưng không quá lạm dụng làm
cho đoạn văn, bài văn trở nên gượng ép.
4.4. Hướng dẫn sử dụng phép tu từ so sánh trong nói, viết văn miêu tả
4.4.1. Hướng dẫn học sinh nói đoạn, bài văn miêu tả
16
Sau khi đã quan sát, lựa chọn từ ngữ khi miêu tả, trước khi viết tôi hướng
dẫn học sinh nói. Muốn làm tốt bước này, tôi luôn chú ý để tổ chức giờ học
sao cho tự nhiên, gây hứng thú, tạo cho học sinh có nhu cầu nói, nhu cầu giao
tiếp. Để giờ làm được như vậy, tôi luôn chú ý một số điểm sau:
- Chuẩn bị phần mở đầu sao cho có thể thu hút người nghe hoặc gây tác
động kích thích lớp học sôi nổi. Thường thì tôi cho những em bạo dạn, nói tốt
để mở đầu, (làm mẫu).
- Tạo không khí sôi nổi, tôn trọng học sinh để kích thích các em nói.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng lời nói của mình thành câu ngắn gọn, thể
I. Kết quả nghiên cứu
Sau một thời gian áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp Năm, qua các kết quả
kiểm tra, đề tài đã thu được một số kết quả nhất định. Học sinh có những
chuyển biến rõ rệt trong việc học kiểu bài miêu tả của chương trình Tập làm
văn lớp Năm.
Dưới đây là kết quả của việc áp dụng các biện pháp trên vào trong quá trình
dạy học văn miêu tả ở lớp của tôi - lớp 5B với 30 học sinh.
Kết quả bài kiểm tra viết của học sinh trong tháng 03/XXX
Đề bài: Tả một người bạn thân ở trường của em.
Bảng 2: Kết quả khảo sát tháng 3
Số HS
làm bài
Điểm
Yếu Trung Bình Khá Giỏi
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
30 0 0 11 36.7 12 40 6 20
Kết quả trên đã phản ánh hiệu quả học tập của học sinh trong phân môn tập
làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng là khá rõ rệt mặc dù thời gian áp
dụng là chưa dài. Số học sinh yếu giảm hẳn trong khi đó số học sinh khá và giỏi
2. Kiến nghị, đề xuất
- Văn miêu tả trong nhà trường cần được xem xét từ góc độ là một văn bản.
Do đó việc viết các bài văn này đòi hỏi một hệ thống kỹ năng gắn với việc sản
sinh văn bản; song văn miêu tả lại mang tính thông báo thẩm mĩ, tính nghệ thuật.
19
Để viết được một bài văn miêu tả, người viết phải có vốn hiểu biết về đối tượng
miêu tả, một tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc. Do đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu
những hiểu biết chung về văn miêu tả, nghiên cứu các biện pháp tu từ so sánh,
để trang bị cho giáo viên và học sinh để họ dễ thuận tiện vận dụng vào quá trình
dạy học - học văn miêu tả ở tiểu học một cách chủ động, sáng tạo và có hiệu quả.
- Giáo viên tiểu học là người trực tiếp giảng dạy cần nhận thức đúng tầm quan
trọng về công tác đổi mới phương pháp dạy học văn miêu tả mới. Để có thể thực
hiện được điều này từ hình thức tổ chức lớp học tới sự hoạt động của thầy và trò
trong lớp, đều có sự thay đổi. Muốn quan sát trực tiếp đối tượng, tiết học luyện
tập quan sát, tìm ý không thể tiến hành giữa bốn bức tường vôi lạnh mà tiến hành
giữa thiên nhiên tươi xanh, Giáo viên phải biết vận dụng quy trình một cách hợp
lý, linh hoạt, sáng tạo, không máy móc, không rập khuôn, tuỳ vào từng đối tượng
học sinh, từng bài học cụ thể để có kế hoạch dạy học mang lại kết quả cao nhất.
Giáo viên phải thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn, tự tìm tòi và cập
nhật tri thức để đáp ứng những đòi hỏi của xã hội đang đặt ra với giáo dục.
- Dạy Tập làm văn ở lớp Năm để phát triển năng lực viết văn thì bên cạnh
đó việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh là hết sức quan trọng. Cùng với các
kĩ năng quan sát, tìm ý và lập dàn ý, đó là khả năng sử dụng phép tu từ so
sánh vào trong quá trình làm bài.
Với những kết quả ban đầu thu được sau một thời gian áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm "Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 5 sử dụng phép tu
từ so sánh trong văn miêu tả", tôi đề nghị các cấp quản lí giáo dục tổ chức
khảo nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ đạo để tôi tiếp tục hoàn chỉnh đề tài, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói riêng, chất lượng dạy học
cho học sinh lớp Năm nói chung.