skkn một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8 và thơ tám chữ ở lớp 9 - Pdf 29

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Môn văn trong trường THCS
Văn học là nhân học - học văn là học cách làm người. Môn văn là một môn
học đặc biệt quan trọng khi nó vừa cung cấp tri thức, vốn sống, vừa góp phần
hình thành tâm hồn, tính cách cho học sinh. Do đó, môn văn chiếm số tiết khá
nhiều trong tổng lượng tiết học ở nhà trường THCS. Đồng thời nó cũng được
các cấp chuyên môn quan tâm, theo dõi, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng môn
văn trong nhà trường.
1.2. Thực trạng môn văn trong trường THCS
Nhà thơ Tố Hữu từng nói: học văn học, dạy văn học là niềm vui sướng nhất.
Trong thực tế vẫn tồn tại một nghịch lý là học sinh chán học văn, chất lượng
môn văn không cao như một số môn học cơ bản khác. Thậm chí học sinh đam
mê và học giỏi văn rất hiếm. Đó là một bài toán hóc búa khiến các giáo viên
tâm huyết với nghề rất lo lắng và ra sức tìm cách giải.
Đáp ứng nhu cầu ấy, các nhà lý luận, các giáo sư đầu ngành cũng đã hết lòng
nghiên cứu và đưa ra công việc đổi mới phương pháp dạy văn. Về bộ môn văn
khối THCS có sự thay đổi lớn nhất thể hiện ở trên môn học và nguyên tắc tích
hợp cùng với sự tích cực học tập của học sinh. Tức là phải kết hợp giữa ba phân
môn: Văn học - Tiếng Việt - Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để
khai thác hình thành. Rèn luyện các kiến thức và kĩ năng của mỗi phân môn.
Đặc biệt, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS có nội dung dạy - học
mới so với chương trình trước đây. Đó là có tiết hoạt động Ngữ văn Tập làm
thơ.
Việc dành cho các tiết Tập làm thơ một thời lượng thích hợp là một sáng tạo
mới của chương trình với mục đích cao hứng thú cho thầy và trò trong quá trình
1
dạy - học. Đó cũng là một biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ
văn ở THCS. Đây là một nội dung rất mới đối với cả thầy và trò. Do vậy, nếu
không có sự đầu tư công sức cẩn thận thì rất có thể tiết học sẽ không đạt hiệu
quả cao.

- Đồ dùng dạy học cho môn Ngữ văn nói chung còn quá ít, đồ dùng cho tiết dạy
học Tập làm thơ hầu như không có.
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy Ngữ văn của trường còn ít, chỉ có bốn giáo viên
đảm đương bốn khối lớp nên việc trao đổi học hỏi kinh nghiệm của một kiểu
bài ở một khối lớp là rất khó khăn.
- Loại bài Tập làm thơ là loại bài mới, số lượng tiết dạy loại bài này chưa đủ để
học sinh nhận diện thơ chứ chưa nói đến việc tập làm thơ.
- Trong trường, đa số học sinh là người địa phương Jarai, Tiếng việt là ngôn ngữ
thứ hai nên việc cảm nhận thơ văn đối với các em là rất hạn chế.
II. Diễn biến quá trình hướng dẫn học sinh tập làm thơ bảy chữ, tám chữ ở
lớp 8 và lớp 9.
1. Điều tra thái độ của học sinh đối với môn Ngữ văn nói chung và với việc
học tập làm thơ nói riêng.
2.
Qua điều tra, kết quả thu được như sau:
Khối lớp Tổng số học
sinh được
Số HS hứng
thú học
Số HS hứng
thú học tiết
Số HS biết
làm thơ
3
điều tra môn Ngữ
văn
tập làm thơ theo yêu
cầu
8 70 35 30 10
9 37 17 13 6

Riêng thể thơ bảy chữ và tám chữ đã xuất hiện từ xa xưa và được sử dụng nhiều
trong tục ngữ, ca dao để thích hợp nhiều với lối kể chuyện và dễ bộc lộ nhiều xúc
cảm nhất.
3.2. Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng:
Tại sao các em học sinh hiện nay lại có vốn từ vựng nghèo nàn hay dùng câu
cụt, câu què thiếu chủ ngữ vị ngữ , lời ăn tiếng nói khô cứng rập khuôn. Phải
chăng đó chính là biểu hiện của tâm hồn cằn cỗi như mảnh đất khô bị nắng hạn lâu
ngày nên không làm nổi vài câu thơ.
Đi tìm hiểu vấn đề này, tôi thấy do những nguyên nhân sau:
• Do học sinh chưa nắm được những yếu tố cần thiết tối thiểu để làm thơ.
• Theo phân phối chương trình bài hoạt động Ngữ văn: Tập làm thơ bảy và
tám chữ là cả một vấn đề nan giải mà chỉ gói vẻn vẹn trong hai tiết ( PPCT:
tiết 69-70 Tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8, tiết 54 – 88 -89 tập làm thơ tám chữ
ở lớp 9). Khoảng thời gian ấy chưa đủ cho học sinh lĩnh hội được cách tiếp
cận thơ chứ chưa nói đến làm thơ.
• Do vốn từ nghèo nàn của học sinh dân tộc thiểu số làm các em lúng túng khi
ghép phần.
3.3. Đối với giáo viên.
Là người hướng dẫn, giáo viên phải nhiệt tình sáng tạo, đồng thời tiến hành
nhiều hoạt động như: hoạt động nghiên cứu, hoạt động tổ chức, hoạt động giao
tiếp. Mặt khác, giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy bộ môn: dạy hoạt động
5
Ngữ văn. Đặc biệt kết hợp chặt giữa dạy văn với Tiếng việt và Tập làm văn sao
cho đảm sự tích hợp giữa ba phân môn.
-Dạy văn bản: tôi cho các em nắm vững nội dung và nghệ thuật của các bài thơ -
bảy chữ: bài “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh, “ vào nhà ngục Quảng
Đông cảm tác” của Phan Bội Châu, “ Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà… và các
bài thơ tám chữ: bài “ Quê hương” của Tế Hanh, “ Nhớ Rừng” của Thế Lữ, “ Bếp
lửa” của Bằng Việt…
+ Về nội dung: các bài thơ đều chứa yếu tố tự sự và miêu tả.

4.3. Cung cấp cho học sinh một số thuật ngữ tối thiểu để làm được thơ.
- Dòng thơ: là số tiếng quy định nằm trên một câu.
- Khổ thơ: bốn câu thơ liền một mạch ý gọi là một khổ thơ. Cũng có những bài
không cần khổ thơ.
- Vần thơ: vần - ta có thể hiểu là một âm hoặc một nguyên âm kết hợp với phụ
âm tạo nên. Gieo vần: là sự lặp lại các vần giống hoặc gần giống nhau giữa các
tiếng ở những vị trí nhất định.
+ Gieo vần lưng: giữa dòng thơ.
+ Gieo vần chân: cuối dòng thơ hoặc vần chân và vần lưng xen kẽ nhau.
+ Gieo vần liền: vần gieo liền giữa hai câu thơ.
+ Gieo vần cách: các vần được gieo cách ra không liền nhau.
+ Gieo vần hỗn hợp: gieo vần không theo một trật tự nào.
- Nhịp thơ( ngắt nhịp): đó là sự lặp lại cách quãng, đều đặn các âm mạnh hay
yếu, sắp xếp theo những hình thức nhất định.
4.4. Cách chuẩn bị một bài dạy Tập làm thơ cụ thể.

7
Hoạt động Ngữ văn:
Tập làm thơ bảy chữ( bài 17, lớp 8, kỳ I)
A. Mục đích yêu cầu:
Học xong bài này, học sinh sẽ đạt được những yêu cầu về các phương diện sau:
1. Kiến thức: Học sinh nắm bắt được đặc điểm của thể thơ bảy chữ( thất ngôn)
về số câu, chữ, nhịp, vần, thanh.
2. Kĩ năng: Làm quen và bước đầu làm thơ bảy chữ có vần, nhịp.
3. Thái độ: Yêu thích và biết trân trọng thể thơ bảy chữ, thích học làm thơ bảy
chữ.
B. Hoạt động dạy - học
1. Hoạt động ở nhà:
a) Tìm hiểu đặc điểm của thể thơ bảy chữ.
Nhiệm vụ 1: Học sinh đọc lại bài thuyết minh về thơ thất ngôn bát cú Đường

nhất, tam, ngũ bất luận” nghĩa là tiếng 1, 3, 5 không bắt buộc bằng - trắc.
Tác dụng của đối thanh là làm cho các cặp câu thơ tương phản nhau về
âm thanh tạo ra sự nhịp nhàng bổ sung cho sự tương phản về ngữ nghĩa.
- Tìm hiểu nhịp thơ trong hai bài thơ trên.
Nhiệm vụ 2: Làm bài tập 3 SGK trang 165
- Bài Bánh trôi nước
+ Bài gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, gieo vần chân( vần on) ở các câu 1, 2, 3
+ Nhịp điệu: Thân em / vừa trắng / lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm / với nước non
Rắn nát / mặc dầu / tay kẻ nặn
9
Mà em vẫn giữ / tấm lòng son
+ Về ý nghĩa và bố cục: đây là bài thơ hoàn chỉnh, hai câu đầu tả sự vật ( bánh trôi
nước), câu thứ ba chuyển mạch, câu thứ tư biểu thị tư tưởng.
- Đoạn thơ của Tố Hữu:
+ Khổ thơ gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, không thể tuỳ tiện thêm bớt.
+ Vần chân ở các câu 1, 2, 4
+ Nhịp: Đi, bạn ơi đi! / Sống đủ đầy
Sống trào sinh lực / bốc men say
Sống trong sóng gió / thanh cao mới
Sống mạnh / dù trong một phút giây.
+ Về ý nghĩa và bố cục: đây là khổ thơ hoàn chỉnh nhưng chưa tạo thành bài thơ vì
chưa diễn đạt hết ý tưởng trọn vẹn.
-Khổ thơ của Anh Thơ:
+ Số câu số tiếng: như a) và b)
+ Vần e thuộc vần chân ở các câu 1, 2, 4
+ Nhịp: Bà tôi / ở một túp lều tre
Có một hàng cau / chạy trước hè
Một mảnh vườn / bên rào dậu nứa
Xuân về / hoa cải / nở vàng hoe.

ngoặc).
Nhiệm vụ 2: Bài tập b.
1.
a) Lớp trưởng ( hoặc trưởng
nhóm) báo cáo tình hình thực
hiện các nhiệm vụ ởp nhà: tìm
hiểu đặc điểm của thể thơ bảy
chữ, sưu tầm và tập làm thơ bảy
chữ của từng cá nhân trong lớp.
a) Bài tập a
Chiều hôm thằng bé cưỡi trâu về
Nó ngẩng đầu lên hớn hở nghe
Tiếng sáo diều cao vòi vọi rót
Vòm trăng trong vắt ánh pha lê
Kí hiệu bằng - trắc:
B B (B) T T B B
T T B B T T B
T T B B (B) T T
B B (B) T T B B
b) Bài tập b
+ Bài thơ của Đoàn Văn Cừ bị
11
+ Chỉ ra chỗ sai của việc chép bài thơ.
+ Nói lí do:
+ Sửa lại ( HS tự sửa chữa)
- Sửa lại từ
-Sửa lại cả câu.
Hoạt động 3: Tập làm thơ bảy chữ.
Nhiệm vụ 1: Hoàn thành bài thơ giở
dang của Tú Xương( bài tập a)

cần quan tâm tới các vị trí trọng
yếu( vị trí mạnh) như tiếng thứ 2,
4, 6, 7. Nhất, tam, ngũ bất luận
tức là các tiếng 1, 3, 5 không nhất
thiết phải theo luật.
12
Nhiệm vụ 2: Làm tiếp bài tập b.
Vui sao ngày đã chuyển sang hè
Phượng đỏ sân trường rộn tiếng ve.
Theo luật là:
B B B T T B B
T T B B T T B
Hai câu dưới phải là:
T T B B B T T
B B T T T B B
Hoạt động 4: Đọc thơ sáng tác ở nhà
GV gọi một số HS đọc sáng tác của
mình. Cách tiến hành giống như với
các thể thơ trước.
Hoạt động 5: Tổng kết dặn dò:
- GV nhận xét về tình hình lớp học
- GV giao nhiệm vụ về nhà.
b) HS cần có nhiều cách viết tiếp
Tham khảo:
-Phấp phới trong lòng bao tiếng gọi
Thoảng hương lúa chín gió đồng quê
-Cảnh ấy lòng ai không phấn chấn
Hè này em thích nhất thăm quê
-Gấp sách thở phào năm học hết
Du lịch đường xa mới thích ghê.

( Nguyễn Khuyến, Cuốc kếu cảm hứng)
Thử đọc lại bài thơ theo nhịp vừa được em xác định và nêu cảm nghĩ của em
về nhịp thơ trong bài. ( Nhịp thơ gợi cho em cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ gì?)
Bài tập 3: Theo em, vần, nhịp và số tiếng trong câu thơ bảy chữ có tác dụng
như thế nào trong việc gợi ra cảm xúc và bổ sung ý nghĩa cho các từ ngữ trong
bài thơ? Trong các bài thơ trên, nếu rút ngắn, hoặc diễn đạt lại bằng thể thơ
bốn chữ, năm chữ có được không? Vì sao?
2. Tập sáng tác thơ bảy chữ.
Bài tập 1. Đọc bài thơ sau đây:
Thầy em
Bốn phép cộng trừ, nhân với chia
Chẳng thấy thầy nhân, cộng bao giờ
Thầy chia, chia hết cho lũ trẻ
Thầy trừ, trừ mãi đến giê-rô…
(Đoàn Thanh Hùng, lớp 9
14
Hãy phát hiện ý chính của bài thơ. Theo em, bài thơ ca ngợi thầy giáo ở phẩm
chất gì? Cách diễn đạt của bạn có chỗ rất mới, đó là chỗ nào?
Bài tập 2. Bài thơ sau đây do một bạn đang làm dở dang, hãy viết tiếp hai câu
để tạo thành bài thơ tứ tuyệt:
Chân trời rừng rực mây- lửa thiêu
Mùa hạ quê em nắng rất nhiều
……………………………
……………………………
Bài tập 3. Suy nghĩ để tìm ý cho bài thơ tự chọn và viết thử bốn câu theo vần
quy định.
3. Tập sửa chữa thơ bảy chữ
Bài tập 1. Có một bạn chép sai mấy câu thơ trong bài Núi đôi của Vũ Cao như
sau:
Bảy năm về trước em mười bảy

vần chân, vần lưng, vần liền, vần cách.
2. Kĩ năng: HS biết cách làm thơ tám chữ, có vần, nhịp và có cảm xúc… HS
năng khiếu có cơ hội để làm thơ tám chữ.
3. Thái độ: HS yêu thích thể thơ tám chữ và môn học Ngữ văn.
B. Hoạt động dạy - học
1. Hoạt động ở nhà: Tìm hiểu lí thuyết và tập sáng tác
Hoạt động của HS Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1: Nhận diện thể thơ
tám chữ
Nhiệm vụ 1: Đọc các đoạn thơ
1. Nhận diện thể thơ tám chữ
a) Đọc và suy nghĩ về nội
dung, hình thức thể thơ của
16
trích ( SGK, tr. 149)
Nhiệm vụ 2: Làm các bài tập
trong mục 2 SGK
Bài tập a. Nhận xét về số chữ
trong mỗi dòng ở SGK
Bài tập b. Tìm các chữ gieo vần
trong mỗi đoạn. Nhận xét về cách
gieo vần của từng đoạn.
Bài tập c. Nhận xét về cách ngắt
nhịp.
Nhiệm vụ 3. Đọc mục ghi nhớ
trong SGK
Hoạt động2. Luyện tập nhận
diện thể thơ tám chữ.
Nhiệm vụ 1. Làm bài tập 1 trong
các đoạn trích.

thẻ tám chữ, đề tài, chủ đề tự
chọn ( bài tập 4)
ngát, muôn hoa.
b) Các từ lần lượt điền vào chỗ
trống là: Cũng mất, tuần hoàn, đất
trời…
c) Đáp án đúng là: câu 3 từ rộn rã
sửa lại là vào trường.
Chú ý: HS có thể đưea ra đáp án
khác với câu thơ gốc nhưng phải
đúng vần, hợp nghĩa.
d) Yêu cầu HS không chép lại bài
của người khác.
2.Hoạt động ở lớp: Thực hành làm thơ tám chữ.
Hoạt động của gv và hs Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1: Làm các bài tập
điền từ, thêm câu.
Bài tập 1. Tìm các từ ngữ thích
hợp để điền vào chỗ trống.
Trời trong biếc không qua mây gợn
trắng
Gió nồm nam thổi lộng cánh diều xa
Hoa lựu nở đầy một( ….) đỏ nắng
1.
Bài tập 1. Yêu cầu từ ngữ được
chon phải đúng thanh, đúng vần,
có thể không đúng nguyên gốc.
Nguyên gốc là:
Hoa lựu nở đầy một v ư ờn đỏ nắng
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua

- Nhận xét khách quan, nghiêm
túc và nên khích lệ HS.
- Động viên, khuyến khích những
HS năng khiếu và muốn phát
triển năng khiếu.
III. Bài tập giúp HS làm quen và học làm thơ tám chữ.
1. Tập tìm hiểu đặc điểm của thơ tám chữ.

Bài tập 1. Đọc bài thơ sau đây:

TIẾNG VIỆT
19
L ưu Quang Vũ
Ti ếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời
“Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng việt như rừng
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Người qua đường chung tiếng việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng việt quay về
Ôi tiếng việt suốt đời tôi mắc nợ
Quyên nỗi mình, quyên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá
Tiếng việt ơi, tiếng việt ân tình…
a)Bài thơ trên gồm bao nhiêu khổ thơ? Mỗi khổ có bao nhiêu dòng? Mỗi dòng có
bao nhiêu câu?
22
b) Gạch dưới các tiếng gieo vần trong mỗi khổ thơ và ghi số lượng các tiếng mang
vần thơ vào ô vuông.
Vần chân Vần lưng
Vần liền Vần cách
c)Dùng kí hiệu vạch nhịp (/ ) để xác định nhịp cho bài thơ. Sau đó nhận xét về đặc
điểm nhịp điêụ của bài?
d) Đề tài, chủ đề của bài thơ là gì?
Bài tập 2. Khổ thơ mở đầu sau đây rút trong bài thơ do một bạn HS lớp 8 viết. Em
hãy nhận xét về số tiếng, vần, nhịp, từ ngữ và diễn đạt? Sau đó hãy chữa lại để khổ
thơ hoàn chỉnh theo thể tám chữ.
Một câu chuyện kể từ dĩ vãng xa xưa
Khi em còn bé và bi bô tiếng mẹ

PHẦN III. K ẾT LUẬN.
Sau khi thực hiện tiết dạy tập làm thơ theo những chuẩn bị trên của tôi, tôi đã đạt
được kết quả đáng mừng tại trường tôi dạy. Đó là số học sinh yêu thích môn Ngữ
văn nói chung, tiết tập làm thơ nói riêng tăng lên đáng kể. Học sinh đã bước đầu
hứng thú với việc làm thơ và có nhiều sáng tạo trong suy tư trong sáng của các em.
Số liệu cụ thể như sau:
Khối lớp Tổng số học
sinh được
điều tra
Số HS hứng
thú học
môn Ngữ
văn
Số HS hứng
thú học tiết
tập làm thơ
Số HS biết
làm thơ
theo yêu
cầu
8 70 55 50 30
9 37 30 27 22
24
Như vậy, từ chỗ nắm vững khái niệm cơ bản để làm được thơ, hiểu được đặc
điểm của thơ bảy chữ và tám chữ, các em học sinh tự mình bước đầu tập làm được
thơ bảy chữ và tám chữ. Đó là điều mong muốn nhất của tôi. Từ đó, các em có nền
móng để tập làm thơ và bồi dưỡng lòng đam mê văn học. Tôi mong rằng qua tiến
trình từng bước, HS trường THCS - những bầy chim non đầu đời sẽ tự làm được
thơ theo mạch cảm xúc trong sáng, ngây thơ của các em.
Trên đây là một số kinh nghiệm hướng dẫn HS làm thơ mà tôi đã dày công tìm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status