A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học không chỉ là một môn khoa học mà còn là một món ăn tinh thần
không thể thiếu trong đời sống con người. Văn học cung cấp kiến thức về các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn học còn bồi bổ tâm hồn, giúp cho tâm hồn con
người phong phú hơn, tinh tế hơn giúp họ biết sẻ chia, cảm thông, sống nhân ái
và vị tha. Ngoài ra, văn học còn có chức năng giải trí, giúp con người quên đi
những căng thẳng, mệt mỏi. Điều đó chứng tỏ văn học cũng như môn văn có vị
trí quan trọng không chỉ trong nhà trường mà còn cả xã hội. Thế nhưng một thực
tế, trong những năm gần đây tình trạng học sinh ngại học văn ngày càng nhiều.
Một phần là do văn học là một môn khoa học khó chiếm lĩnh, dù các em có
thích văn nhưng tiếp thu cũng không dễ dàng, phải có năng khiếu văn mới cảm
thụ được nhưng số lượng học sinh có năng khiếu học văn giảm sút. Phần khác,
do xu hướng phát triển của thời đại, người ta chuộng các môn khoa học tự nhiên
hơn các môn khoa học xã hội, do yêu cầu xã hội, nghề nghiệp, gia đình...định
hướng cho các em học những môn khối A sẽ có nhiều trường thi, công việc sau
khi ra trường dễ dàng hơn và thu nhập cao hơn. Chính vì vậy dẫn đến tình trạng
các em xem thường, coi nhẹ, xa lánh môn văn.
Thực tế đó đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là những giáo viên văn không
thể buông xuôi, chấp nhận theo xu thế mà tâm huyết nghề nghiệp lúc nào cũng
cần hơn hết. Ngoài việc chuẩn bị giáo án, thiết kế những bài giảng thật hay còn
phải truyền đạt truyền cảm, lôi cuốn học sinh để học sinh yêu thích môn văn và
giúp các em thấy văn học khác với các môn khác bởi nó gần gũi với con người,
cho các em thấy mình trong văn học và văn học còn dạy các em cách sống.
Và điều đặc biệt trong quá trình dạy văn, ngoài việc cung cấp kiến thức
thì khâu ôn luyện cho học sinh cũng rất quan trọng. Ôn tập giúp củng cố kiến
thức, giúp học sinh khắc cốt ghi tâm và biết vận dụng vào làm các đề văn trong
khi thi cử. Việc ôn tập, đặc biệt là ôn thi đại học, giáo viên không chỉ ôn tập kiến
thức, các dạng đề trong từng tác phẩm riêng rẽ mà còn phải nhóm các tác phẩm
cùng thể loại, thời đại, tác giả, đề tài...để chỉ ra những điểm giống và khác,
những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm. Đây là
- Lớp 12C6 khóa học 2008-2011
- Lớp 12B5, khóa học 2010-2013
2. Phạm vi nghiên cứu:
Do dung lượng SKKN có hạn nên đề tài chỉ xin đề cập đến dạng đề so sánh
trong phần văn xuôi thuộc phần ôn thi đại học. Phần văn xuôi có các tác phẩm
trong chương trình Ngữ văn 11 và 12.
* Chương trình Ngữ văn 11:
- Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
- Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)
- Chí Phèo (Nam Cao)
- Đời thừa (Nam Cao)
2
* Chương trình Ngữ văn 12
- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)
- Vợ nhặt (Kim Lân)
- Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)
- Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)
- Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
III. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Chỉ ra các dạng đề so sánh trong phần văn xuôi
2. Hướng dẫn cách làm qua các bước và hướng dẫn cụ thể một số đề
3. Hướng dẫn học sinh luyện tập áp dụng
4. Kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu, biết và áp dụng của học sinh
IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chủ yếu là phương pháp thực nghiệm. Đề tài là hướng dẫn học sinh lớp
12 ôn thi đại học nên đối tượng chủ yếu của đề tài là các em học sinh theo các
còn góp phần hình thành kĩ năng tổng hợp, khái quát, so sánh, lí giải nguyên
nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học- một năng lực rất cần thiết
góp phần tránh đi khuynh hướng bình tán, khuôn sáo trong các bài văn của học
sinh hiện nay.
Tuy nhiên, đây là dạng đề khó, giáo viên chỉ có thể đưa ra các tiêu chí so
sánh có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải giống và khác nhau cũng cần thiết
phải tính toán hợp lí với năng lực của học sinh THPT.
Phần văn xuôi thuộc chương trình thi đại học gồm nhiều tác phẩm trong
cả chương trình Ngữ văn 11 và Ngữ văn 12, kiến thức của từng tác phẩm lại
nhiều, học sinh nhớ được kiến thức của từng tác phẩm đã là khó nên kiến thức
so sánh ở nhiều tác phẩm lại càng khó hơn. Thậm chí là so sánh các tác phẩm
của các giai đoạn khác nhau từ chương trình lớp 11 đến chương trình lớp 12.Vì
vậy, trước khi đưa ra dạng đề so sánh giáo viên yêu cầu học sinh phải nhớ nội
dung chính từng tác phẩm, phải chỉ ra trong các tác phẩm đó tác phẩm nào là
cùng dạng, cùng cảm hứng, cùng thời đại…Ví dụ: “Những đứa con trong gia
4
đình” của Nguyễn Thi và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành cùng viết về
vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng thời đại đánh Mĩ. Hoặc “Chí
Phèo”của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân cùng viết về tình cảnh của
người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Đồng thời phải chỉ ra trong những
tác phẩm đó có những nhân vật nào có nét tính cách, phẩm chất tương đồng. Ví
dụ, viết về vẻ đẹp người phụ nữ có: Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài,
người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” của Kim Lân hay người đàn bà hàng chài trong
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Hoặc nhân vật Chú Năm
trong “Những đứa con trong gia đình”(Nguyễn Thi) và cụ Mết trong “ Rừng xà
nu”(Nguyễn Trung Thành) họ là gạch nối giữa truyền thống với hiện tại…Giáo
viên phải chỉ ra trong những tác phẩm đó có những chi tiết nghệ thuật nào đặc
sắc góp phần thể hiện tư tưởng của tác phẩm, ví dụ như: chi tiết “tiếng chim hót
thể liên hệ thấy được giữa tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chí Phèo” của
Nam Cao đều nói về tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám,
giữa nhân vật người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa
của Nguyễn Minh Châu) đều ẩn chưa những vẻ đẹp khuất lấp hay người vợ nhặt
và Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) đều toát lên khát vọng sống, khát vọng hạnh
phúc hoặc ở nhân vật bà cụ Tứ giáo viên có thể khái quát lên những phẩm chất
của người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu, giàu lòng vị tha, đức hi sinh. Nếu giáo
viên ôn tập có nói những vấn đề đó và đưa ra những đề văn có sự liên hệ các tác
phẩm, nhân vật như vậy thì học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức sâu hơn,
rộng hơn. Và các em sẽ hứng khởi hơn khi ôn tập văn học, tránh được tình trạng
chủ quan, đơn giản, xem nhẹ khi nghĩ đến ôn tập văn trong quan niệm của học
sinh lâu nay.
Mặt khác nhiều giáo viên khi ôn tập chỉ đưa ra các đề trong mỗi tác phẩm
và yêu cầu học sinh làm (hoặc lập dàn ý) các đề đó. Tức là giáo viên chỉ chú
trọng các đề và làm đề. Giáo viên không khái quát thành các dạng đề và khái
quát thành các cách làm. Như vậy, sẽ không phát huy được sự chủ động, sáng
tạo của học sinh. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh lúng túng khi gặp các đề
khác và sẽ không biết phải làm như thế nào.
Ngoài ra, dạng đề so sánh là một dạng đề khó và mới nên nhiều giáo viên
chủ quan, ít chú trọng đến dạng đề này. Do vậy, trong quá trình ôn tập không đề
cập tới hoặc có đề cập thì chỉ mang tính chất giới thiệu một cách qua loa. Vì
vậy, nhiều học sinh rất ngại khi phải tiếp xúc với dạng đề này. Các em mơ hồ
với kiểu bài, cách làm và làm bài thì rối rắm, sơ sài.
Bản thân tôi là giáo viên trường THPT Triệu Sơn 6, trường tiền thân là
một trường bán công nên chất lượng đầu vào học sinh thấp. Hầu hết các em chỉ
dừng lại ở học lực yếu, trung bình, có rất ít học sinh khá mà học sinh khá lại học
ở những lớp khối A, B.Vì vậy, dạng đề so sánh đối với học sinh của tôi là một
dạng đề khó. Cho nên, trong quá trình dạy và ôn tập nếu giáo viên không hướng
dẫn mà để học sinh tự phát hiện thì các em không thể liên hệ, so sánh các tác
phẩm, nhân vật, chi tiết với nhau. Do đó, bên cạnh việc trang bị kiến thức thì
Cảm nhận của anh (chị) về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ
nhặt (Vợ nhặt – Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền
ngoài xa- Nguyễn Minh Châu).
(Đề tuyển sinh đại học khối C năm học 2009-2010)
Đề 2:
So sánh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai nhân vật: Việt
(Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi) và Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn
Trung Thành).
Đề 3:
Cảm nghĩ của anh (chị) về vai trò của truyền thống đối với hiện tại qua
hai nhân vật cụ Mết trong truyện ngắn Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) và
7
nhân vật chú Năm trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn
Thi).
1.3. So sánh các chi tiết nghệ thuật hoặc những câu nói đặc sắc thể
hiện tƣ tƣởng của tác phẩm.
Đề 1:
Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết “bát cháo hành” mà nhân vật Thị Nở
mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước
hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời thừa – Nam Cao).
(Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm học 2010-2011.
Đề 2:
Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”
mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam
Cao, Ngữ văn ) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà
nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài,
Ngữ văn ).
tác lập luận nhưng chủ yếu là phân tích và so sánh)
- Lí giải sự khác biệt (do bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn
tại, phong cách nhà văn...)
c) Kết bài:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
2.2. Dạng đề thứ ba có thể làm nhƣ sau:
a) Mở bài
- Khái quát về tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu và trích dẫn chi tiết, câu nói
b) Thân bài
- Làm rõ đối tượng thứ nhất về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật
+ Sự xuất hiện chi tiết, câu nói
+ Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì
+ Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói
- Làm rõ đối tượng thứ hai về hai đặc điểm: nội dung và nghệ thuật
+ Sự xuất hiện chi tiết, câu nói
+ Chi tiết, câu nói có ý nghĩa gì
+ Giá trị nghệ thuật của chi tiết, câu nói
- So sánh điểm tương đồng và khác biệt
c) Kết bài:
- Đánh giá về giá trị của chi tiết hoặc câu nói
- Có thể nêu cảm nghĩ bản thân
3. Hƣớng dẫn cụ thể một số đề
Sau khi đưa ra các dạng đề, hướng dẫn học sinh cách làm dạng đề đó, tôi
hướng dẫn học sinh một số đề tiêu biểu. Đương nhiên là không phải giáo viên
làm cho học sinh mà giáo viên chỉ đưa ra đề, gợi ý cho học sinh và để cho học
sinh phát huy sự chủ động, sáng tạo của mình bằng cách phát biểu xây dựng dàn
ý, sau đó giáo viên khái quát thành các ý chính.
3.1. Ở dạng đề thứ nhất và thứ hai tôi hƣớng dẫn cụ thể đề sau:
giàu tình nghĩa với quê hương.
- Nhân vật Tnú- nhân vật chính, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân
Tây Nguyên đánh Mĩ thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng: kìm nén đau thương, đi lực lượng để được cầm súng giết giặc
và chính Tnú đã dùng đôi bàn tay tàn tật của mình để bóp chết thằng chỉ huy đồn
giặc ở Xô Man.
2.“Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.
- Một gia đình nông dân Nam bộ giàu truyền thống yêu nước, yêu Cách
mạng từ ba, má, chú Năm đến chị em Chiến, Việt.
10
- Nhân vật chính: Việt, Chiến thể hiện những phẩm chất của chủ nghĩa
anh hùng Cách mạng: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, căm
thù giặc sâu sắc, giàu tình cảm với quê hương và Cách mạng.
- Có sự kế thừa và phát huy giữa khúc sông trước: ba, má, chú Năm và
khúc sông sau: Việt, Chiến. Khúc sông sau Việt, Chiến chảy xa hơn, mạnh hơn
khúc sông trước.
3. Sự tương đồng và khác biệt:
- Tương đồng: Đều trát lên những phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng thời
đại chống Mĩ cứu nước: anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì đất nước,
giàu tình cảm với gia đình, quê hương và Cách mạng. Chủ nghĩa anh hùng cách
mạng biểu hiện qua nhiều thế hệ, mang tính truyền thống dân tộc, cả hai tác
phẩm thế hệ đi sau đều đang kế thừa xuất sắc truyền thống yêu nước, cách mạng
của thế hệ đi trước.
- Khác biệt:
+ Số phận một con người gắn với buôn làng trong chặng đường đau
thương mà anh dũng của làng Xô Man anh hùng trong “Rừng xà nu” của
Nguyễn Trung Thành.
+ Câu chuyện về một gia đình Nam bộ giàu truyền thống cách mạng, thế
- Về nội dung:
+ Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Thị Nở và trận ốm đã làm cho con quỷ dữ có
sự thay đổi hẳn cả về tâm sinh lí.
+ Từ khi đi tù về đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí hết say, hoàn
toàn tỉnh táo và có được một khoảng ngưng lặng để nghe được những âm thanh
quen thuộc của cuộc sống. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi tha thiết của
cuộc sống trong anh.
+ Âm thanh đó đã đánh thức trong Chí những cảm xúc của con người. Chí
nhớ về quá khứ, ý thức được hiện tại và nghĩ đến tương lai.
- Về nghệ thuật:
+ Là chi tiết quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện,
khắc họa sâu sắc nét tính cách tâm lí và bi kịch của nhân vật.
+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ của ngòi bút Nam
Cao, nhà văn thấy được phẩm chất con người, tính người bên trong con người
tưởng như đã trở thành quỷ dữ.
2. Về chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân
vật Mị nghe đƣợc trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
- Về nội dung:
+ Mùa xuân trên miền núi Tây Bắc được miêu tả rất đẹp, sắc màu của
những chiếc váy hoa, tiếng cười nói của đám trẻ chơi quay đợi tết, đặc biệt là
tiếng sáo da diết xoáy sâu vào trái tim tưởng như băng giá của Mị.
+ Mị nhớ về quá khứ; nhận thức được hiện tại, thấm thía thân phận và dẫn
đến hành động (uống rượu, lấy váy hoa để đi chơi,…)
+ Âm thanh đó đã làm thức dậy trong Mị ý thức về tình yêu, hạnh phúc và
lòng khát khao cuộc sống tự do.
- Về nghệ thuật:
+ Là một chi tiết góp phần làm thay đổi trạng thái tâm lí của nhân vật.
12
để ôn luyện, mỗi nhóm một tờ Ao, các thành viên lập dàn ý vào các ô bên cạnh
và sau khi thống nhất thì ghi dàn ý ra ô lớn ở giữa tờ giấy. Hoặc vận dụng
phương pháp sơ đồ tư duy, mỗi nhóm lập dàn ý bằng sơ đồ tư duy...sau đó giáo
viên nhận xét, bổ sung. Có phần tôi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm, mỗi
nhóm một đề, thảo luận, đại diện trình bày, giáo viên nhận xét, đánh giá, bổ
sung. Với những cách làm như vậy học sinh sẽ không thấy nhàm chán trong các
13
phần ôn tập mà lại phát huy được sự sáng tạo của học sinh. Với việc luyện tập
dạng đề so sánh phần văn xuôi tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm. Tôi
chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm một đề tiêu biểu, học sinh thảo luận, lập dàn
ý, sau đó đại diện trình bày. Cụ thể như sau :
Đề 1 : (Nhóm 1) : Lập dàn ý cho đề sau
Cảm nhận của anh (chị) về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ
nhăt (Vợ nhặt – Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền
ngoài xa- Nguyễn Minh Châu).
Đề 2 : (Nhóm 2) : Lập dàn ý cho đề sau
Sau khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị Nở, Chí Phèo bảo với thị:
- Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui. (Chí Phèo – Nam Cao –
Ngữ văn 11)
Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12), sau khi
đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, Tràng cười và nói với thị:
- Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.
Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa những câu nói trên.
Sau khi đại diện của nhóm trình bày, tôi yêu cầu các nhóm khác nhận xét,
bổ sung. Cuối cùng, tôi nhận xét những ưu điểm, hạn chế và chốt lại những điểm
cơ bản của đề mà học sinh cần phải làm sáng tỏ.
Đề 1 : Dàn ý :
a) Mở bài:
can đảm và cứng cỏi.
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lạo là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu
sắc lẽ đời.
3) Sự tương đồng và khác biệt
- Tương đồng:
Cả hai nhân vật đều là những thân phận nhỏ bé, nạn nhân của hoàn cảnh.
Vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực, lam lũ làm khuất lấp. Cả
hai đều được khắc họa bằng những chi tiết chân thực.
- Khác biệt:
+ Vẻ đẹp thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất
của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh trong nạn
đói thê thảm.
+ Vẻ đẹp được khắc sâu ở người dần bà hàng chài là những phẩm chất của
một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong
tình trạng nạn bạo lực gia đình.
4) Lý giải sự khác biệt:
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển,
biến đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà hàng
chài lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng
thế sự - đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại).
+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan
niệm con người đa dạng, phức tạp (Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt
này.
* Kết bài:
15
- Khái quát hai nhân vật: Hai người phụ nữ ở hai thời đại nhưng đều mang
những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.
- Suy nghĩ của bản thân.
thị bốn bát bánh đúc. Sau đó, Tràng nói một câu với hình thức như một câu nói
đùa “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Câu
nói đùa nhưng lại thể hiện niềm khát khao hạnh phúc thật mãnh liệt, cháy bỏng
16
thẳm sâu trong người nông dân nghèo ấy mà ngay cả nạn đói và cái chết cũng
không thể dập tắt.
+ Lời nói của Tràng có vẻ như đùa song ngọn lửa hạnh phúc trong Tràng
được thắp lên từ câu nói đùa ấy lại thật sự bùng cháy. Tràng trân trọng hạnh
phúc của mình cũng như bằng tất cả những gì có thể, anh biến cuộc hôn nhân
của mình với thị trở nên đàng hoàng, nghiêm túc.
- Về nghệ thuật:
+ Là một chi tiết góp phần tạo nên một tình huống truyện độc đáo và ý
nghĩa, tạo bước ngoặt cuộc đời và tâm lí của nhân vật, thể hiện chủ đề tư tưởng
của tác phẩm.
+ Tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, bất ngờ của ngòi bút Kim
Lân.
3. So sánh:
- Sự tƣơng đồng:
+ Đó là những câu nói đặc biệt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc
đời các nhân vật và có sức tác động diệu kì, tạo nên những khoảnh khắc ngọt
ngào hạnh phúc cho họ.
+ Đó cũng chính là những chi tiết đặc sắc góp phần khẳng định giá trị
nhân đạo sâu sắc, mới mẻ trong hai tác phẩm: Phát hiện và ngợi ca khát vọng
yêu thương, khát vọng hạnh phúc ở những con người tưởng như đã hoàn toàn lụi
tắt cảm xúc tình yêu trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc đời.
- Khác biệt:
+ Ở “Chí Phèo”, chi tiết thể hiện khát vọng mang bản chất người ẩn sâu
trong con quỷ dữ Chí Phèo, sau khi cảm nhận được tình yêu thương mộc mạc,
em đã được ôn tập những dạng đề này nên các em đều tự giác, làm bài hết mình.
IV. NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU
Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn thi đại học dạng đề so sánh phần văn xuôi
là việc làm phù hợp với thực tiễn, phù hợp với xu hướng ra đề hiện nay. Việc
làm này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn chỉ ra các dạng đề, nhóm các đề,
hướng dẫn học sinh cách làm bài và tự ôn tập giúp các em hiểu sâu tác phẩm, có
sự liên hệ các tác phẩm. Do đó, học sinh của tôi khi được hỏi không còn xa lạ
với dạng đề này. Các em không còn tâm lí sợ hãi khi đứng trước những dạng đề
khó. Các em đã được trang bị kiến thức cơ bản nên có thể sẵn sàng, chủ động
khi đứng trước các đề văn, linh hoạt, sáng tạo khi làm bài.
Vì vậy, những năm gần đây khi tổ chức cho học sinh lớp 12 ôn tập dạng
đề so sánh tôi thấy có hiệu quả rõ rệt.Và điều này được thể hiện trong kết quả
học tập của các em.
Tôi đã làm phép so sánh kết quả học tập của học sinh và thu được kết quả
như sau :
Đối tượng là học sinh lớp 12B5 khóa học 2012-2013
- Trước khi được hướng dẫn ôn tập dạng đề so sánh phần văn xuôi
Tổng
số HS
40
Tốt
SL
0
Tỉ lệ
0%
Mức độ nắm kiến thức
Khá
Tỉ lệ
40
20
50%
17
42.5%
3
7.5%
Không nắm được
SL
Tỉ lệ
0
0%
Ngoài ra tuy là một trường tiền thân là trường bán công chất lượng đầu
vào thấp, năng lực cảm thụ văn chương của học sinh không cao nhưng đã được
ôn tập nên kết quả thi đại học của môn văn ở những khối lớp tôi đã dạy điểm
khá cao.
Kì thi đại học năm 2010 : Em Hoàng Thị Huệ ( Đại học Công Đoàn): 8,5
điểm môn văn; Em Lê Thị Công (Đại học văn hóa): 8.0 điểm môn văn, em Lê
Thị Dung (ĐH Ngoại Ngữ TPHCM ) : 8.0 điểm môn văn.
Kì thi đại học năm 2011 em : Lê Bá Huy (Đại học An Ninh): 8.0 điểm
môn văn, em Nguyễn Thị Mai (ĐH Đà Lạt): 8.0 điểm môn văn, em Nguyễn Thị
Thảo (ĐH Công Đoàn): 7,5 điểm môn văn. Và các lớp tôi dạy đều có học sinh
giỏi tỉnh, cụ thể là năm học gần đây nhất, năm học 2012-2013 : em Bùi Thị Liên
đạt giải Ba môn văn, em Lại Thị Thảo đạt giải ba môn văn.
Đó là những kết quả mà tôi đã đạt được khi sử dụng phương pháp ôn tập
cho học sinh theo dạng đề. Ngoài ra, học sinh của tôi không còn xa văn, ngại
học văn. Các em không còn tâm lí xem thường trong những giờ ôn tập văn. Điều
văn học.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình giảng dạy.
Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi của đồng nghiệp xung
quanh vấn đề mà chúng tôi đã đề cập. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy và làm cho công việc dạy và học văn thêm nhiều ý nghĩa.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƢỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 05/05/2013
Tôi cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Mai Thị Bình
20
MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
I. Lí do chọn đề tài................................................................................... 1
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................... 2
III. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...................................................... 3
IV. Phương pháp nghiên cứu...................................................................
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ